Đặc Điểm Sinh Học Phân Tử Của Escherichia coli Mang Gen mcr-1 Kháng Colistin Tại Hà Nam

Nghiên cứu đặc điểm sinh học phân tử của Escherichia coli mang gen mcr-1 kháng colistin từ người và động vật tại xã Thanh Hà, Hà Nam năm 2015.

Trường đại học

Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương

Chuyên ngành

Vi sinh y học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2022

186
6
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Nghiên Cứu Đặc Điểm Sinh Học Phân Tử Của Escherichia coli

Nghiên cứu về Escherichia coli mang gen mcr-1 kháng colistin tại Hà Nam là một vấn đề cấp thiết trong bối cảnh kháng kháng sinh ngày càng gia tăng. Escherichia coli là một trong những vi khuẩn gram âm phổ biến nhất, có khả năng gây ra nhiều bệnh lý nghiêm trọng. Việc phát hiện gen mcr-1 cho thấy sự xuất hiện của các chủng vi khuẩn kháng thuốc, điều này đặt ra thách thức lớn cho y tế công cộng. Nghiên cứu này nhằm mục đích xác định tỷ lệ và đặc điểm sinh học phân tử của các chủng E. coli mang gen mcr-1 tại xã Thanh Hà, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam.

1.1. Đặc Điểm Của Gen mcr 1 Và Tác Động Đến Sức Khỏe Cộng Đồng

Gen mcr-1 là một yếu tố di truyền quan trọng, cho phép E. coli kháng lại colistin, một kháng sinh được sử dụng như lựa chọn cuối cùng. Sự hiện diện của gen này trong cộng đồng có thể dẫn đến sự gia tăng tỷ lệ nhiễm trùng khó điều trị, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe cộng đồng.

1.2. Tình Hình Kháng Kháng Sinh Tại Việt Nam

Tại Việt Nam, tình trạng kháng kháng sinh đang gia tăng, đặc biệt là ở các vi khuẩn gram âm. Nghiên cứu cho thấy rằng việc sử dụng colistin trong chăn nuôi và điều trị bệnh đã tạo điều kiện cho sự phát triển của các chủng E. coli mang gen mcr-1.

II. Vấn Đề Kháng Kháng Sinh Và Thách Thức Đối Với Y Tế Công Cộng

Kháng kháng sinh là một trong những thách thức lớn nhất đối với y tế công cộng hiện nay. Sự gia tăng của các chủng vi khuẩn kháng thuốc, đặc biệt là E. coli mang gen mcr-1, đã làm cho việc điều trị các bệnh nhiễm trùng trở nên khó khăn hơn. Việc phát hiện và kiểm soát các chủng này là rất cần thiết để bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

2.1. Nguyên Nhân Gia Tăng Kháng Kháng Sinh

Sự gia tăng kháng kháng sinh chủ yếu do việc sử dụng kháng sinh không hợp lý trong y tế và nông nghiệp. Việc lạm dụng colistin trong chăn nuôi đã tạo ra áp lực chọn lọc mạnh mẽ, dẫn đến sự phát triển của các chủng vi khuẩn kháng thuốc.

2.2. Hệ Lụy Của Kháng Kháng Sinh Đối Với Sức Khỏe

Kháng kháng sinh không chỉ làm tăng tỷ lệ tử vong mà còn kéo dài thời gian điều trị và chi phí y tế. Các bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn kháng thuốc có thể dẫn đến các biến chứng nghiêm trọng, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Đặc Điểm Sinh Học Phân Tử Của E

Nghiên cứu này sử dụng các phương pháp sinh học phân tử hiện đại để xác định đặc điểm của các chủng E. coli mang gen mcr-1. Các kỹ thuật như PCR, giải trình tự gen và điện di xung trường (PFGE) được áp dụng để phân tích và xác định mối liên hệ kiểu gen giữa các chủng vi khuẩn.

3.1. Kỹ Thuật PCR Trong Phát Hiện Gen mcr 1

Kỹ thuật PCR được sử dụng để phát hiện sự hiện diện của gen mcr-1 trong các mẫu vi khuẩn. Phương pháp này cho phép xác định nhanh chóng và chính xác các chủng E. coli mang gen kháng thuốc.

3.2. Phân Tích Kiểu Gen Bằng PFGE

Kỹ thuật PFGE giúp phân tích mối liên hệ kiểu gen giữa các chủng E. coli mang gen mcr-1. Phương pháp này cho phép xác định sự lan truyền của gen kháng giữa các chủng vi khuẩn trong cộng đồng.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu Về Tỷ Lệ E

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ E. coli mang gen mcr-1 tại xã Thanh Hà là đáng kể. Các mẫu phân lập từ người, động vật nuôi, thực phẩm và nước đều cho thấy sự hiện diện của gen kháng này, cho thấy nguy cơ lây lan trong cộng đồng.

4.1. Tỷ Lệ Phân Lập E. coli Mang Gen mcr 1 Từ Người

Nghiên cứu đã phát hiện tỷ lệ E. coli mang gen mcr-1 từ mẫu phân người là cao, cho thấy sự lây lan của vi khuẩn kháng thuốc trong cộng đồng dân cư.

4.2. Tỷ Lệ Phân Lập E. coli Mang Gen mcr 1 Từ Động Vật Nuôi

Mẫu phân lập từ động vật nuôi cũng cho thấy tỷ lệ E. coli mang gen mcr-1 cao, điều này cho thấy sự liên kết giữa việc sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi và sự phát triển của vi khuẩn kháng thuốc.

V. Kết Luận Và Hướng Nghiên Cứu Tương Lai

Nghiên cứu về đặc điểm sinh học phân tử của E. coli mang gen mcr-1 tại Hà Nam đã chỉ ra sự hiện diện đáng kể của các chủng vi khuẩn kháng thuốc. Việc kiểm soát và giám sát tình trạng kháng kháng sinh là rất cần thiết để bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Hướng nghiên cứu tiếp theo cần tập trung vào việc phát triển các biện pháp can thiệp hiệu quả.

5.1. Đề Xuất Các Biện Pháp Kiểm Soát Kháng Kháng Sinh

Cần có các biện pháp kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng kháng sinh trong y tế và nông nghiệp. Việc giáo dục cộng đồng về kháng kháng sinh cũng là một yếu tố quan trọng trong việc giảm thiểu tình trạng này.

5.2. Hướng Nghiên Cứu Tiếp Theo Về Gen mcr 1

Cần tiếp tục nghiên cứu để hiểu rõ hơn về cơ chế lan truyền của gen mcr-1 và các yếu tố di truyền liên quan. Điều này sẽ giúp phát triển các chiến lược hiệu quả trong việc kiểm soát sự lây lan của vi khuẩn kháng thuốc.

26/06/2025
Luận án đặc điểm sinh học phân tử của escherichia coli mang gen mcr 1 kháng colistin phân lập từ người và vật nuôi thực phẩm và nước tại xã thanh hà hà nam năm 2015

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Kháng sinh và sự đề kháng kháng sinh 1. Định nghĩa: Kháng sinh là những chất do vi sinh vật tiết ra hoặc những chất hóa học bán tổng hợp, tổng hợp, với nồng độ rất thấp, có khả năng ức chế hoặc tiêu diệt tác nhân gây bệnh một cách đặc hiệu [6] 1. Cơ chế tác dụng Sau khi vào tế bào, kháng sinh được đưa tới đích tác động sẽ phát huy tác dụng bằng cách: - Ức chế sinh tổng hợp vách tế bào vi khuẩn, ví dụ nhóm penicillin, nhóm cephalosporin, vancomycin - Gây rối loạn chức năng màng nguyên tương, đặc biệt là chức năng thẩm thấu chọn lọc, làm cho các thành phần (ion) bên trong tế bào bị thoát ra ngoài, ví dụ nhóm polymyxin, Daptomycin - Ức chế sinh tổng hợp protein, ví dụn nhóm aminoglycoside, nhóm macrolid - Ức chế sinh tổng hợp acid nucleic, ví dụ nhóm quinolon - Ức chế sinh tổng hợp các chất chuyển hoá cần thiết cho tế bào như kháng sinh nhóm sulfamid [6] Hình 1.1: Cơ chế tác dụng của kháng sinh 5 1.

Sự đề kháng kháng sinh Kháng sinh có tác dụng ức chế hoặc tiêu diệt vi khuẩn, nhưng khi trong môi trường có kháng sinh mà vi khuẩn vẫn phát triển thì được coi là sự đề kháng kháng sinh. Vi sinh vật đa kháng kháng sinh (MDRO) là các vi sinh vật chủ yếu là vi khuẩn có khả năng kháng một hoặc hơn một loại kháng sinh. Một số vi khuẩn chỉ kháng một loại kháng sinh vẫn được coi là đa kháng kháng sinh như tụ cầu vàng kháng methicillin (MRSA) hay vi khuẩn đường ruột kháng carbapenem (CRE)[31] 1. Phân loại đề kháng kháng sinh Có 2 loại đề kháng: là đề kháng giả và đề kháng thật - Đề kháng giả: Đề kháng giả là có biểu hiện là đề kháng nhưng không phải là bản chất, tức là không do nguồn gốc di truyền.

Khi vào trong cơ thể, tác dụng của kháng sinh phụ thuộc vào ba yếu tố là kháng sinh - người bệnh - vi khuẩn. Đề kháng giả có thể do một trong ba yếu tố hoặc có thể kết hợp hai hay thậm chí cả ba yếu tố[6]. - Đề kháng thật: có 2 loại là đề kháng tự nhiên và đề kháng thu được. + Đề kháng tự nhiên do một số loài vi khuẩn không chịu tác dụng của một số kháng sinh nhất định.

aeruginosa không chịu tác dụng của penicilin G, S. aureus không chịu tác dụng của colistin. Hoặc vi khuẩn không có vách như Mycoplasma không chịu tác dụng của các kháng sinh beta-lactam ức chế sinh tổng hợp vách. Đề kháng tự nhiên thường mang tính chất đặc trưng theo từng loại vi khuẩn.

- Đề kháng thu được do một biến cố di truyền là đột biến hoặc nhận được gen đề kháng để một vi khuẩn đang từ không có gen đề kháng trở thành có gen đề kháng, nghĩa là đang nhạy cảm trở thành có khả năng đề kháng kháng sinh. Các gen đề kháng có thể nằm trên một, một số hoặc tất cả các thành phần di truyền của vi khuẩn gồm nhiễm sắc thể, plasmid và transposon. Đề kháng thu được thường mang tính chất của từng cá thể trong loài[6]. 6 Đề kháng thu được là yếu tố đóng vai trò chính trong việc gia tăng tình hình kháng kháng sinh hiện nay.

Các nghiên cứu về kháng kháng sinh của vi khuẩn luôn tập trung phân tích những biến đổi về mặt di truyền của vi khuẩn do đề kháng thu được làm thay đổi tính đề kháng của vi khuẩn như thế nào 1. Cơ chế kháng kháng sinh của vi khuẩn Sự chọn lọc tự nhiên tạo ra những đáp ứng đặc hiệu dẫn đến các đột biến gen để thích nghi. Gần như toàn bộ các kháng sinh sẵn có hiện nay trong thực hành lâm sàng thu nhận được các đột biến gen từ các chất liệu di truyền hoặc những biến đổi của các gen biểu hiện, tạo ra sự kháng thuốc. Việc hiểu rõ nền tảng cơ bản về sinh học và gen học của sự kháng kháng sinh là vần đề rất quan trọng để làm giảm sự lan rộng của kháng kháng sinh cũng như cải thiện việc điều trị trên lâm sàng.

Vi khuẩn thường sử dụng 2 cơ chế chính về mặt gen học để thích ứng và tạo ra sự kháng kháng kháng sinh là: - Đột biến gen thường liên quan tới sự hoạt động của các thuốc kháng sinh; - Tiếp nhận các DNA mã hóa các gen kháng từ bên ngoài thông qua lây truyền ngang từ các gen chuyển (Horizontal Gene Transfer-HGL). Từ các gen kháng kháng sinh này sẽ tổng hợp ra các protein chức năng, tạo ra các cơ chế kháng khác nhau [69]. Đột biến kháng thuốc Đột biến kháng thuốc xảy ra khi có một tập hợp nhỏ trong quần thể vi khuẩn nhạy cảm với thuốc kháng sinh phát triển các đột biến gen ảnh hưởng tới hoạt động của thuốc kháng sinh. Nhóm vi khuẩn này vẫn tồn tại khi có mặt của thuốc kháng sinh.

Khi đột biến xảy ra, kháng sinh đã loại bỏ hết quần thể nhạy cảm và chỉ còn các vi khuẩn kháng kháng sinh chiếm ưu thế. Các đột biến kháng thuốc thông qua các cơ chế sau: - Làm thay đổi đích tác động Vi khuẩn thay đổi đích tác động của kháng sinh do đó kháng sinh không còn vị trí để tác động, ví dụ: A. baumannii kháng lại imipenem và P. aeruginosa kháng ticarcillin và imipenem do chúng thay đổi vị trí gắn vào protein của các kháng sinh.

Cơ chế tác động của các kháng sinh nhóm quinolon là ức chế hoạt động của đoạn 7 gen mã hóa quá trình tổng hợp enzym ADN gyrase và topoisomerase IV của tế bào vi khuẩn. Ví dụ tính kháng quinolon của S. typhi xảy ra do đột biến điểm của các đoạn gen mã hóa quá trình tổng hợp enzym ADN gyrase và topoisomerase IV trên nhiễm sắc thể của vi khuẩn [103, 124]. - Thay đổi các con đường chuyển hóa thông qua sự thay đổi mạng lưới điều hòa Enzym được tạo ra làm biến đổi hoặc phá hủy cấu trúc phân tử của kháng sinh.

Ví dụ với các enzym beta-lactamase có khả năng phá hủy penicillin được báo cáo trước khi được đưa vào sử dụng vào đầu những năm 1940. Sau đó hàng loạt các enzym beta-lactamase có khả năng ức chế hoặc phân hủy các kháng sinh mạnh như cephalosporin và carbapenem được phát hiện. Hiện nay đã xác định được hơn 890 loại enzym kháng kháng sinh của vi khuẩn, nhiều hơn số lượng các loại kháng sinh đã được sản xuất và phần lớn các gen mã hóa các enzym này nằm trên các plasmid có thể truyền dễ dàng trong quần thể vi khuẩn cùng và khác loài [82]. - Làm giảm tính thấm của màng nguyên sinh chất, giảm sự hấp thu thuốc Làm giảm mức độ thấm của kháng sinh qua thành tế bào vi khuẩn trong trường hợp kháng tetracyclin hoặc làm mất hệ thống vận chuyển qua màng trong trường hợp kháng kháng sinh nhóm aminoglycosid.

Việc thâm nhập của các kháng sinh nhóm beta-lactam vào vi khuẩn được thực hiện qua các kênh vận chuyển (porin), vi khuẩn biến đổi làm mất các kênh vận chuyển và làm hạn chế sự tác động của nhóm kháng sinh này [82]. - Cơ chế bơm đẩy (efflux pump) của các kháng sinh nhóm quinolon của vi khuẩn E. aeruginosa, thường liên quan đến hệ thống vận chuyển ion qua màng tế bào [69]. Như vậy, từ khi tiếp xúc với kháng sinh, vi khuẩn đã phát triển các cơ chế kháng thuốc phức tạp để chống lại sự tác động của kháng sinh và tồn tại, quá trình này diễn ra theo sự tiến hóa tự nhiên, trải qua hàng trăm năm.

Sự đề kháng với một loại kháng sinh thường xảy ra qua nhiều nhiều con đường khác nhau. Tuy nhiên, mỗi loài vi khuẩn có một cơ chế kháng ưu tiên khác với các loài khác đối với cùng loại kháng sinh như các vi khuẩn gram âm kháng kháng sinh nhóm beta-lactam 8 thông qua việc sinh enzym beta-lactamase trong khi vi khuẩn gram dương lại kháng qua việc làm biến đổi vùng gắn kháng sinh trên vách, penicillin-binding proteins (PBPs) [69].2: Cơ chế kháng kháng sinh của vi khuẩn 1. Lây truyền ngang từ gen chuyển (Horizontal Gene Transfer-HGT) Tiếp nhận các DNA mã hóa các gen kháng kháng sinh từ bên ngoài vào thông qua con đường lây truyền ngang từ gen chuyển là con đường rất thường gặp trong kháng kháng sinh. Vi khuẩn thường thu nhận các gen kháng kháng sinh từ bên ngoài vào thông qua 03 cơ chế chính là: biến nạp, tải nạp và tiếp hợp.

Biến nạp là hình thức đơn giản nhất nhưng chỉ có một số ít các vi khuẩn tự nhiên có thể tiếp nhận các DNA ngoại lai và phát triển tính kháng. Các vụ dịch lây lan các vi khuẩn kháng thuốc trong bệnh viện thường liên quan đến cơ chế tiếp hợp- một phương pháp chuyển gen hiệu quả thông qua việc tiếp xúc giữa tế bào cho và tế bào nhận thông qua pili giới tính (như E. coli), thường xảy ra với tỷ lệ cao ở đường tiêu hóa dưới ở người khi được điều trị bằng kháng sinh. Tiếp hợp, theo nguyên tắc chung, thường sử dụng các yếu tố di truyền động (mobile genetic elements- MGEs) là phương tiện để chia sẻ các thông tin di truyền có giá trị trong đó có yếu tố kháng kháng sinh.

MGEs quan trọng nhất là plasmid và transposon-có vai trò quan trọng 9 trong việc phát triển và lây lan các vi khuẩn kháng kháng sinh trên lâm sàng. Một trong những cơ chế hiệu quả nhất để tích lũy các gen đề kháng kháng sinh thông qua các integron, integron cũng chứa trình tự ADN đặc biệt cho phép integraz chèn các nhóm gen gọi là cassette vào nhiễm sắc thể, mà trên đó có promoter cho phép các gen cassette mới được biểu hiện [97].3: Các cơ chế truyền gen ngang: tiếp hợp (A), biến nạp (B), tải nạp (C) và thông qua các yếu tố truyền gen (D) (nguồn: Christian von Wintersdorff (2016), Dissemination of Antimicrobial Resistance in Microbial Ecosystems through Horizontal Gene Transfer)[102]. Plasmid: Plasmid là các phân tử ADN vòng nằm ngoài nhiễm sắc thể và có khả năng tự nhân lên. Plasmid chứa các gen mã hóa nhiều đặc tính khác nhau giúp tế bào chủ tồn tại được dưới áp lực của chọn lọc.

Một số plasmid có vai trò quan trọng trong vi sinh y học là plasmid mang gen đề kháng kháng sinh và kim loại nặng (R-plasmid), plasmid sinh độc tố, plasmid chứa yếu tố độc lực (khả năng bám dính và xâm nhập vào tế bào). Các plasmid lớn mang bộ gen tra (transfer) hoặc RTF (Resistance Transfer Factor) có khả năng tiếp hợp với vi khuẩn khác và truyền 10 chất liệu di truyền cho vi khuẩn nhận. Plasmid nhỏ có gen mob (mobilization) sẽ được gắn vào một plasmid có tra+ nào đó và cùng được dẫn truyền sang vi khuẩn nhận.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Đặc Điểm Sinh Học Phân Tử Của Escherichia coli Mang Gen mcr-1 Kháng Colistin Tại Hà Nam" cung cấp cái nhìn sâu sắc về đặc điểm sinh học của vi khuẩn Escherichia coli có khả năng kháng thuốc colistin, một loại kháng sinh quan trọng trong điều trị nhiễm trùng. Nghiên cứu này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về cơ chế kháng thuốc mà còn chỉ ra những nguy cơ tiềm ẩn đối với sức khỏe cộng đồng. Độc giả sẽ nhận được thông tin quý giá về sự phát triển của vi khuẩn kháng thuốc và tầm quan trọng của việc giám sát các chủng vi khuẩn này trong môi trường.

Để mở rộng kiến thức về các chủ đề liên quan, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn thạc sĩ công nghệ sinh học phân lập tuyển chọn các chủng probiotic từ heo rừng có khả năng ức chế escherichia coli và salmonella typhimurium và đánh giá đáp ứng sinh miễn dịch của chúng trên mô hình tế bào caco2, nơi nghiên cứu về các chủng vi khuẩn có khả năng ức chế E. coli. Bên cạnh đó, tài liệu Luận văn thạc sĩ công nghệ sinh học phát hiện gen mã hóa carbapenemase trên chủng acinetobacter baumannii bằng kỹ thuật lamp cũng sẽ cung cấp thêm thông tin về kháng thuốc trong vi khuẩn. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Luận văn thạc sĩ công nghệ sinh học phân lập và phân tích genome thực khuẩn thể kháng vi khuẩn gây bệnh quan trọng trên cá tra, giúp bạn có cái nhìn tổng quát hơn về các nghiên cứu liên quan đến vi khuẩn kháng bệnh. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng hiểu biết và khám phá sâu hơn về lĩnh vực vi sinh vật học và kháng sinh.