Tổng quan luận án
Tình trạng kháng kháng sinh của vi khuẩn Gram âm đường ruột đang gia tăng nhanh chóng trên phạm vi toàn cầu, đặc biệt là sự xuất hiện của các chủng mang gen blaNDM-1 đề kháng kháng sinh carbapenem – nhóm thuốc vốn được coi là lựa chọn ưu tiên trong điều trị các trường hợp nhiễm khuẩn nặng do vi khuẩn sinh enzym beta-lactamase phổ rộng (ESBLs). Trước tình hình đó, colistin (kháng sinh thuộc nhóm polypeptid) đã được tái sử dụng trên lâm sàng như một trong những giải pháp điều trị cuối cùng. Tuy nhiên, colistin từ lâu đã được sử dụng phổ biến trong chăn nuôi gia súc, gia cầm và thủy sản nhằm mục đích phòng bệnh, điều trị và kích thích tăng trưởng.
Năm 2015, gen mcr-1 (mediated colistin resistance 1 hoặc mobilized colistin resistance 1) lần đầu tiên được phát hiện trên vi khuẩn Escherichia coli có nguồn gốc từ thịt lợn và phân người tại Trung Quốc. Khác với các cơ chế kháng colistin qua đột biến nhiễm sắc thể trước đây, gen mcr-1 nằm trên plasmid và các yếu tố di truyền di động, tạo điều kiện cho sự lan truyền ngang giữa các chủng vi khuẩn cùng loài và khác loài. Tại Việt Nam, một số nghiên cứu bước đầu đã phát hiện vi khuẩn mang gen mcr-1 trong bệnh viện và tại một số trang trại chăn nuôi riêng lẻ. Tuy nhiên, tại khu vực miền Bắc chưa có công trình nào khảo sát một cách toàn diện và đồng bộ sự hiện diện, tỷ lệ lưu hành cũng như đặc tính sinh học phân tử của các chủng E. coli mang gen mcr-1 trên toàn bộ các thành phần của hệ sinh thái cộng đồng bao gồm người, động vật nuôi, thực phẩm và nguồn nước. Luận án tiến sĩ y học của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Tuyết Mai được thực hiện nhằm giải quyết khoảng trống nghiên cứu này.
Mục tiêu nghiên cứu:
- Xác định tỷ lệ chủng Escherichia coli mang gen mcr-1 kháng colistin phân lập được từ phân người và vật nuôi, thực phẩm, nước tại xã Thanh Hà, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam, năm 2015.
- Xác định một số đặc điểm sinh học phân tử của các chủng Escherichia coli mang gen mcr-1 đã phân lập được.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các chủng vi khuẩn Escherichia coli mang gen mcr-1 kháng colistin được phân lập từ các loại bệnh phẩm và mẫu môi trường.
- Phạm vi không gian: 69 hộ gia đình thuộc các thôn tại xã Thanh Hà, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam.
- Phạm vi thời gian: Mẫu nghiên cứu được thu thập trong năm 2015 (thuộc giai đoạn 2014–2015).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế về cơ chế kháng kháng sinh, tình hình sử dụng colistin và sự phân bố của gen mcr-1:
Các nghiên cứu quốc tế:
- Liu và cộng sự (2015) tại Trung Quốc: Công bố phát hiện gen mcr-1 mã hóa enzyme phosphoethanolamine transferase nằm trên plasmid ở vi khuẩn E. coli và Klebsiella pneumoniae. Tác giả ghi nhận tỷ lệ mang gen mcr-1 là 15% (78/523 mẫu) ở thịt sống, 21% (166/824 mẫu) ở động vật và 1% (16/1322 mẫu) ở bệnh nhân nội trú; đồng thời giải trình tự cấu trúc các plasmid mang gen như pHNSHP45, pE15004, pE15015 và pE15017.
- Anjum MF và cộng sự: Phát hiện các chủng E. coli và Salmonella mang gen mcr-1 tại trang trại nuôi lợn ở Anh, đồng thời mang enzym sinh ESBLs và yếu tố liên kết ISApl1.
- Fernandes MR và cộng sự: Phân lập chủng E. coli sequence type ST101 mang gen mcr-1 trên plasmid IncX4 từ bệnh nhân đái tháo đường bị nhiễm trùng bàn chân tại Brazil.
- Wong Sally CY và cộng sự (2015–2016): Giám sát tại bệnh viện đại học ở Hồng Kông, phát hiện 5 chủng Enterobacteriaceae mang gen mcr-1 (gồm 4 chủng E. coli, chiếm 0,4%).
- Nghiên cứu tại Đan Mạch: Bằng giải trình tự toàn bộ hệ gen (WGS), phân lập được 1 chủng E. coli mang gen mcr-1 từ máu bệnh nhân nhiễm trùng huyết (đồng mang gen blaCTX-M-55 và blaCMY-2) và 5 chủng từ thịt gà (đồng mang gen blaSHV-12 và blaCMY-2).
- Dan-xia Guo và cộng sự (Trung Quốc): Phân lập chủng K. pneumoniae và E. coli mang gen mcr-1 từ phân trẻ em bị tiêu chảy.
- Patrick McGann và cộng sự (Mỹ): Ghi nhận chủng E. coli sinh ESBL mang gen mcr-1 từ mẫu nước tiểu bệnh nhân nhiễm trùng đường niệu.
- Nghiên cứu tại Bangladesh: Phân lập chủng E. coli mang mcr-1 kháng 11 loại kháng sinh từ bùn thải đô thị.
- Yao Xu và cộng sự (Quảng Châu, Trung Quốc): Phát hiện chủng E. coli THSJ02 (ST167) trên mẫu cánh gà bán lẻ mang đồng thời các gen mcr-1, blaNDM-9, fosA3, rmtB, blaCTX-M-65 và floR.
- Các nghiên cứu tại Tây Ban Nha, Đức, Nam Mỹ và Thụy Sỹ ghi nhận sự xuất hiện của E. coli mang gen mcr-1 trong nước thải tưới tiêu, chất thải chuồng trại và thịt gia cầm.
Các nghiên cứu tại Việt Nam:
- Surbhi Malhotra-Kumar và cộng sự (2014–2015): Sàng lọc 24 chủng E. coli sinh ESBL phân lập từ phết trực tràng gà và lợn tại Hưng Yên (Văn Lâm) và Hà Nội (Hoài Đức), phát hiện 9/24 chủng (37,5%) mang gen mcr-1 với MIC colistin là 4–8 mg/L. Trình tự gen tương đồng 100% với trình tự công bố tại Trung Quốc.
- Nguyễn T. Nhung và cộng sự: Khảo sát tại 12 trang trại ở Tiền Giang, ghi nhận tỷ lệ vi khuẩn E. coli mang gen mcr-1 từ 19% đến 22%, tỷ lệ đề kháng colistin ở gà là 22,2% và ở lợn là 24,4%.
- Dương Thị Toan và cộng sự (2014): Khảo sát tại 20 trang trại ở Bắc Giang, ghi nhận 45,0% cơ sở chăn nuôi lợn thịt sử dụng colistin.
- Phạm Kim Đăng và cộng sự: Điều tra tại Hải Phòng cho thấy việc sử dụng colistin bất hợp pháp ở liều thấp trong thức ăn hỗn hợp cho gà nhằm mục đích kích thích sinh trưởng.
Khoảng trống nghiên cứu luận án giải quyết:
Các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam chỉ khảo sát trên số lượng mẫu nhỏ, phân lập riêng rẽ ở vật nuôi tại trang trại hoặc bệnh nhân nội viện, chưa đánh giá đồng bộ sự phát tán của các chủng E. coli mang gen mcr-1 qua chuỗi liên kết sinh thái: người, động vật nuôi, thực phẩm và nguồn nước trong cùng một cộng đồng dân cư nông thôn. Luận án đã giải quyết khoảng trống này thông qua cách tiếp cận đa nguồn, xác định mối liên hệ phả hệ di truyền và cơ chế lan truyền qua plasmid tại tỉnh Hà Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết
- Cơ chế tác dụng và đề kháng kháng sinh: Kháng sinh tác động qua ức chế tổng hợp vách, rối loạn chức năng màng nguyên tương, ức chế sinh tổng hợp protein, acid nucleic hoặc chất chuyển hóa. Đề kháng thu được xảy ra qua đột biến gen (thay đổi đích gắn protein, biến đổi kênh porin, hoạt hóa bơm đẩy efflux pump) hoặc tiếp nhận vật liệu di truyền ngoại lai qua truyền gen ngang (HGT: biến nạp, tải nạp và tiếp hợp).
- Đặc điểm colistin và gen mcr-1: Colistin (polymyxin E) tích điện dương, gắn vào phân tử lipopolysaccharide (LPS) và lipid A ở màng ngoài vi khuẩn Gram âm, đẩy các ion Ca2+ và Mg2+ làm phá vỡ tính toàn vẹn màng. Gen mcr-1 mã hóa enzyme phosphoethanolamine transferase xúc tác gắn nhóm phosphoethanolamine vào lipid A, làm giảm điện tích âm của bề mặt tế bào vi khuẩn và vô hiệu hóa tác dụng của colistin.
- Yếu tố di truyền di động: Sự lan truyền của gen mcr-1 gắn liền với transposon Tn6330 (ISApl1-PAP2-mcr-1-ISApl1) và các nhóm plasmid tương thích (IncI2, IncHI2, IncX4, IncP, IncN).
| Nhóm kháng sinh |
Cơ chế đề kháng chính |
Gen kháng quan trọng |
| β-lactam |
Sinh enzym phá hủy vòng beta-lactam |
AmpC, blaTEM-, blaSHV-, blaCTX-M-, blaNDM-, blaKPC-, blaOXA- |
| Aminoglycosid |
Enzym biến đổi, methyl hóa 16S rRNA |
armA, npmA, rmtA-D, aac, ant, aph |
| Chloramphenicol |
Enzym acetyltransferase (CAT), bơm đẩy |
catA, catB, cmlA, floR |
| Glycopeptid |
Biến đổi thành phần cấu trúc peptidoglycan |
vanA, vanB, vanC1, vanC2/3, vanD-G |
| Quinolon |
Đột biến gyrase/topoisomerase, gen trên plasmid |
gyrA/B, parC/E, qnrA-S, aac(6')-Ib-cr, qepA |
| Sulfonamid & Trimethoprim |
Đột biến hoặc tiếp nhận gen thay thế con đường acid folic |
folP, sul1-3, folA, dfrA, dfrB, dfrK |
| Polymyxin (Colistin) |
Biến đổi lipid A trên màng ngoài |
lpxA/C/D, pmrAB, phoPQ, mgrB, mcr-1 đến mcr-10 |
Phương pháp nghiên cứu thực tế
- Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp phân tích thực nghiệm sinh học phân tử.
- Quy trình thu thập mẫu: Thu thập các loại mẫu tại 69 hộ gia đình thuộc xã Thanh Hà, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam, bao gồm: mẫu phân người (PN), mẫu phân động vật nuôi (PĐVN: lợn, gà, vịt, chó, mèo), mẫu thức ăn/thực phẩm (TĂ) và mẫu nước (N: nước ao, nước giếng, nước sinh hoạt).
- Kỹ thuật nuôi cấy và phân lập: Nuôi cấy mẫu trên môi trường chọn lọc MacConkey có và không có bổ sung colistin, ủ ở 37°C.
- Kỹ thuật định danh vi khuẩn: Sử dụng hệ thống máy khối phổ MALDI-TOF để định danh chính xác loài Escherichia coli.
- Kỹ thuật PCR: Sử dụng cặp mồi đặc hiệu để phát hiện sự hiện diện của đoạn gen mcr-1.
- Kỹ thuật kháng sinh đồ và xác định nồng độ ức chế tối thiểu (MIC): Đánh giá mức độ nhạy cảm của vi khuẩn theo tiêu chuẩn CLSI bằng phương pháp pha loãng trên thạch/canh thang và kỹ thuật E-test đối với colistin cùng các kháng sinh thông dụng khác.
- Kỹ thuật điện di xung trường (PFGE): Cắt ADN hệ gen vi khuẩn bằng enzym giới hạn (XbaI), điện di xung trường để xác định mức độ tương đồng kiểu gen và lập cây phả hệ di truyền.
- Giải trình tự toàn bộ hệ gen (WGS) và MLST: Giải trình tự ADN toàn bộ hệ gen, phân tích sequence type (ST) theo phương pháp Multi Locus Sequence Typing, phân tích core genome, xác định các gen kháng thuốc đồng hiện diện và cấu trúc vùng chứa gen mcr-1.
- Kỹ thuật phân tích plasmid: Phân loại replicon plasmid (PCR-based replicon typing), xác định vị trí gen mcr-1 trên nhiễm sắc thể hoặc plasmid bằng enzym S1 kết hợp Southern blot.
- Thử nghiệm tiếp hợp (Conjugation): Đánh giá khả năng lan truyền gen mcr-1 qua plasmid giữa chủng cho (E. coli phân lập mang gen) và chủng nhận (E. coli J53 kháng sodium azide hoặc E. coli DH5α).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tài liệu
Chương này tổng thuật toàn diện cơ sở lý thuyết về kháng sinh và cơ chế đề kháng vi sinh vật. Tác giả phân tích cụ thể 5 cơ chế tác dụng của kháng sinh, phân định giữa đề kháng tự nhiên, đề kháng thu được và đề kháng giả. Trọng tâm của chương làm rõ các cơ chế truyền gen ngang (tiếp hợp, biến nạp, tải nạp) và vai trò của các yếu tố di truyền di động (plasmid, transposon, integron) trong việc phát tán gen kháng. Tác giả tổng kết các nhóm gen kháng thuốc phổ biến trên thế giới, lịch sử sử dụng và tái sử dụng colistin trên lâm sàng, thực trạng lạm dụng colistin trong chăn nuôi tại Việt Nam và các nước. Chương 1 cũng điểm lại các mốc phát hiện gen mcr-1 từ năm 2015 đến nay trên thế giới và tại Việt Nam, đồng thời trình bày nguyên lý của các kỹ thuật vi sinh, sinh học phân tử (khuếch tán khoanh giấy, MIC, E-test, PCR, RAPD-PCR, PFGE, Southern blot, MLST, WGS).
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 mô tả chi tiết địa bàn nghiên cứu tại xã Thanh Hà, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam – khu vực nông thôn có hoạt động chăn nuôi gia đình kết hợp trồng trọt. Tác giả chuẩn hóa quy trình lấy mẫu đối với 4 nhóm: phân người, phân vật nuôi, thực phẩm và nước tại 69 hộ gia đình. Các quy trình kỹ thuật phòng thí nghiệm được trình bày chi tiết theo các bước chuẩn: nuôi cấy chọn lọc, định danh bằng máy MALDI-TOF, tách chiết ADN, phản ứng PCR phát hiện gen mcr-1, xác định MIC colistin và các kháng sinh khác theo tiêu chuẩn CLSI. Chương này cũng nêu rõ phương pháp điện di xung trường PFGE, quy trình giải trình tự toàn bộ hệ gen WGS trên nền tảng giải trình tự thế hệ mới, kỹ thuật phân loại replicon plasmid, kỹ thuật lai Southern blot với enzym S1 và thử nghiệm tiếp hợp trên môi trường thạch chọn lọc. Tác giả trình bày các chỉ số nghiên cứu, phương pháp xử lý số liệu tin sinh học và các biện pháp kiểm soát sai số, đạo đức nghiên cứu y sinh học.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Chương 3 trình bày các kết quả thực nghiệm thu được qua các bảng số liệu, biểu đồ và sơ đồ phân tích:
- Tỷ lệ phân lập chủng mang gen mcr-1: Tỷ lệ mẫu dương tính với chủng E. coli mang gen mcr-1 được thống kê cụ thể theo từng loại mẫu (phân người, phân động vật nuôi, thực phẩm và nước) tại 69 hộ gia đình thuộc các thôn của xã Thanh Hà.
- Mức độ nhạy cảm colistin và phân bố gen: Toàn bộ các chủng E. coli mang gen mcr-1 đều biểu hiện kiểu hình kháng colistin với giá trị MIC đạt ngưỡng kháng theo tiêu chuẩn CLSI. Phân tích Southern blot enzym S1 cho thấy gen mcr-1 phân bố chủ yếu trên các plasmid và một tỷ lệ nhỏ nằm trên nhiễm sắc thể.
- Tình trạng đa kháng kháng sinh: Các chủng E. coli mang gen mcr-1 phân lập được thể hiện tỷ lệ đa kháng cao với nhiều nhóm kháng sinh khác nhau bao gồm beta-lactam (ampicillin, cephalosporin thế hệ 3 như cefotaxime, ceftazidime), aminoglycosid (gentamicin, amikacin), quinolon (ciprofloxacin) và chloramphenicol, nhưng vẫn còn nhạy cảm cao với nhóm carbapenem (imipenem, meropenem).
- Đặc điểm sinh học phân tử qua WGS và PFGE: Giải trình tự toàn bộ hệ gen WGS xác định sự đồng hiện diện của nhiều nhóm gen kháng thuốc (blaCTX-M, blaTEM, floR, sul, dfrA, aac). Phân tích MLST chỉ ra sự đa dạng về sequence type (ST) trong quần thể, đồng thời ghi nhận sự xuất hiện của các chủng E. coli có cùng ST phân lập từ các loại mẫu khác nhau (người, động vật, thức ăn, nước) trong cùng một hộ gia đình. Cây phả hệ PFGE và cây phân loại core genome MLST khẳng định mối liên hệ di truyền gần gũi giữa các chủng phân lập từ các nguồn khác nhau tại địa bàn.
- Đặc điểm plasmid và cơ chế lan truyền di động: Phân loại replicon plasmid xác định các loại plasmid chủ yếu mang gen mcr-1 thuộc nhóm IncI2, IncHI2/IncHI2A/IncN và IncX4. Thử nghiệm tiếp hợp thực hiện thành công việc chuyển plasmid mang gen mcr-1 từ các chủng E. coli thực địa sang chủng nhận E. coli J53, làm cho chủng nhận có khả năng kháng colistin. Phân tích cấu trúc phân tử xác định gen mcr-1 nằm trong cấu trúc transposon động Tn6330 (ISApl1-PAP2-mcr-1-ISApl1).
Chương 4: Bàn luận
Tác giả thảo luận về ý nghĩa dịch tễ học của tỷ lệ lưu hành E. coli mang gen mcr-1 tại cộng đồng nông thôn Hà Nam, đặt trong mối tương quan với thói quen sử dụng kháng sinh colistin trong chăn nuôi quy mô hộ gia đình. Bàn luận sâu về sự phân bố của gen mcr-1 trên plasmid IncI2 và IncHI2, phân tích cơ chế lan truyền qua tiếp hợp và vai trò của trình tự chèn ISApl1 trong việc tái tổ hợp, chèn gen mcr-1 vào nhiễm sắc thể hoặc sang các plasmid khác. Tác giả biện luận bằng chứng về sự lây truyền chéo vi khuẩn mang gen kháng giữa vật nuôi, thực phẩm, môi trường nước và đường ruột người dựa trên dữ liệu kiểu gen PFGE và ST chung trong cùng hộ gia đình, từ đó nêu bật nguy cơ đối với sức khỏe cộng đồng và đề xuất các giải pháp kiểm soát.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về lý luận và khoa học
- Cung cấp bộ số liệu dịch tễ học phân tử đồng bộ đầu tiên tại Việt Nam về sự phân bố và tỷ lệ lưu hành của vi khuẩn Escherichia coli mang gen mcr-1 kháng colistin trên 4 thành phần sinh thái trong cùng một cộng đồng dân cư: người, động vật nuôi, thực phẩm và môi trường nước.
- Chứng minh bằng chứng di truyền học phân tử (thông qua kỹ thuật PFGE, MLST, WGS) về sự tương đồng kiểu gen giữa các chủng E. coli mang gen mcr-1 phân lập từ phân người, phân vật nuôi, thực phẩm và nước trong cùng hộ gia đình, khẳng định sự lây truyền qua lại giữa các nguồn trong chuỗi thức ăn và môi trường sống.
- Xác định đặc tính phân tử của các plasmid mang gen mcr-1 (thuộc các nhóm replicon IncI2, IncHI2/IncHI2A/IncN), chứng minh khả năng truyền ngang gen mcr-1 qua cơ chế tiếp hợp sang chủng vi khuẩn nhận trong phòng thí nghiệm, và làm rõ cấu trúc di truyền động transposon Tn6330 (ISApl1-PAP2-mcr-1-ISApl1).
Đóng góp thực tiễn và kiến nghị
- Cung cấp cơ sở khoa học cảnh báo về nguy cơ lây lan tính kháng colistin từ môi trường chăn nuôi sang người qua chuỗi thức ăn và nguồn nước sinh hoạt.
- Cung cấp bằng chứng thực địa phục vụ các cơ quan quản lý y tế và nông nghiệp trong việc xây dựng chính sách quản lý, cấm sử dụng kháng sinh colistin làm chất kích thích sinh trưởng hoặc phòng bệnh trong chăn nuôi.
- Đề xuất tăng cường hệ thống giám sát kháng kháng sinh theo mô hình tiếp cận Một sức khỏe (One Health), phối hợp chặt chẽ giữa ngành Y tế, Thú y và Môi trường.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp mô tả cắt ngang tại một địa bàn xã nông nghiệp (xã Thanh Hà, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam) với mẫu thu thập trong năm 2015, do đó chưa theo dõi được biến động dịch tễ học phân tử theo thời gian dài và chưa bao phủ các vùng địa lý khác.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Cần mở rộng quy mô nghiên cứu giám sát dịch tễ học phân tử theo chiều dọc tại nhiều vùng sinh thái nông thôn và đô thị; nghiên cứu sâu hơn về tính ổn định của các plasmid mang gen mcr-1 trong các điều kiện môi trường tự nhiên khác nhau; đồng thời mở rộng sàng lọc các biến thể gen mới trong họ gen kháng colistin (từ mcr-2 đến mcr-10) trên các loài vi khuẩn Gram âm đường ruột khác như Klebsiella pneumoniae, Salmonella spp., và Acinetobacter baumannii.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên sâu có giá trị cho:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Thuộc các chuyên ngành Vi sinh Y học, Vi sinh Thú y, Dịch tễ học, Bệnh truyền nhiễm và Y tế công cộng. Phần phương pháp nghiên cứu (kết hợp đồng bộ từ MALDI-TOF, E-test, PFGE, WGS đến tiếp hợp plasmid) là tài liệu tham khảo quy chuẩn cho các nghiên cứu về dịch tễ học phân tử kháng kháng sinh.
- Các nhà hoạch định chính sách và cơ quan quản lý: Cục Y tế Dự phòng, Cục Quản lý Khám chữa bệnh (Bộ Y tế), Cục Thú y (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn) trong việc xây dựng các quy chuẩn quản lý sử dụng kháng sinh và kế hoạch hành động quốc gia về phòng chống kháng thuốc tại Việt Nam.
Câu hỏi thường gặp
1. Kháng sinh colistin có vai trò lâm sàng như thế nào và tại sao việc phát hiện gen mcr-1 lại là một cảnh báo nghiêm trọng?
Colistin thuộc nhóm polypeptid, vốn bị ngừng dùng trên người từ thập niên 1970 do độc tính trên thận và thần kinh, nhưng đã được tái sử dụng từ những năm 2000 như lựa chọn cuối cùng để điều trị các bệnh nhiễm trùng nặng do trực khuẩn Gram âm đa kháng và kháng carbapenem (chứa gen blaNDM-1). Việc phát hiện gen mcr-1 cảnh báo nguy cơ vi khuẩn đề kháng cả carbapenem lẫn colistin, làm mất đi giải pháp kháng sinh điều trị cuối cùng ở người.
2. Đề tài đã thu thập những loại mẫu nào và tại địa bàn cụ thể nào?
Đề tài thu thập 4 nhóm mẫu gồm: phân người (PN), phân động vật nuôi (PĐVN: lợn, gà, vịt, chó, mèo), thực phẩm/thức ăn (TĂ) và mẫu nước (N) tại 69 hộ gia đình thuộc các thôn tại xã Thanh Hà, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam trong năm 2015.
3. Gen mcr-1 được xác định nằm trên những cấu trúc di truyền nào trong các chủng vi khuẩn phân lập?
Gen mcr-1 được xác định phân bố chủ yếu trên các plasmid thuộc nhóm replicon IncI2, IncHI2/IncHI2A/IncN, IncX4 và một phần nằm trên nhiễm sắc thể của vi khuẩn E. coli, gắn liền với các yếu tố di truyền di động transposon Tn6330 (ISApl1-PAP2-mcr-1-ISApl1).
4. Khả năng truyền gen kháng colistin giữa các chủng vi khuẩn được chứng minh qua thử nghiệm nào trong luận án?
Khả năng truyền gen kháng được chứng minh qua thử nghiệm tiếp hợp (conjugation) trong phòng thí nghiệm. Kết quả cho thấy plasmid mang gen mcr-1 từ các chủng E. coli thực địa đã chuyển thành công sang chủng vi khuẩn nhận E. coli J53, làm cho chủng nhận mang gen mcr-1 và biểu hiện tính kháng colistin.
Kết luận
Luận án tiến sĩ y học của tác giả Nguyễn Thị Tuyết Mai đã hoàn thành đầy đủ hai mục tiêu nghiên cứu, xác định tỷ lệ và đặc điểm sinh học phân tử của các chủng vi khuẩn Escherichia coli mang gen mcr-1 kháng colistin phân lập từ người, vật nuôi, thực phẩm và nước tại xã Thanh Hà, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam năm 2015. Bằng việc ứng dụng đồng bộ các kỹ thuật sinh học phân tử như PFGE, MLST, WGS, phân loại replicon plasmid và tiếp hợp, luận án đã chứng minh sự lan truyền ngang của gen mcr-1 qua plasmid cũng như mối liên hệ di truyền giữa các chủng vi khuẩn phân lập từ các nguồn khác nhau trong cùng hộ gia đình. Các phát hiện thực nghiệm này cung cấp cơ sở khoa học vững chắc cho chiến lược Một sức khỏe (One Health), khẳng định tính cấp thiết của việc kiểm soát sử dụng colistin trong chăn nông nghiệp nhằm ngăn chặn sự phát tán của các chủng vi khuẩn đa kháng bảo vệ sức khỏe cộng đồng.