Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Giải phẫu và sinh lý hậu môn trực tràng Giải phẫu ống hậu môn Ống hậu môn hay còn gọi là đoạn trực tràng tầng sinh môn là phần trực tràng đi qua phần sau của tầng sinh môn. Được giới hạn phía sau bởi dải mu- trực tràng của cơ nâng hậu môn, phía dưới da của cơ thắt ngoài. Ống hậu môn hợp với đoạn thấp của trực tràng một góc 90-100 độ chạy xuống dưới ra sau và đổ ra da qua lỗ hậu môn ở tam giác đáy chậu sau. Ống hậu môn dài từ 3-4 cm, đường kính khoảng 3 cm, đóng mở chủ động.
Từ ngoài vào trong ống hậu môn được cấu tạo bởi các lớp cơ, niêm mạc và hệ thống mạch máu thần kinh. Cơ vùng hậu môn Vùng hậu môn có nhiều cơ tạo thành hình thể ống hậu môn và góp phần quan trọng trong hoạt động chức năng của ống hậu môn. Cơ thắt ngoài Thuộc hệ cơ vân hình ống và bao quanh bên ngoài cơ thắt trong, vượt quá bờ dưới cơ thắt trong khi đi sâu xuống phía dưới tiến sát tới da rìa hậu môn, cơ thắt ngoài là cơ riêng của vùng này gồm 3 phần: phần dưới da, phần nông và phần sâu. Phần dưới da là nông nhất, ngay ở lỗ hậu môn.
Xuyên qua phần này có các sợi cơ của cơ dọc trực tràng chạy từ ngoài vào, từ trên xuống, bám vào da tạo nên cơ nhăn da, làm cho da có nếp nhăn. Phần nông ở sâu hơn và ở phía ngoài hơn so với phần dưới da. Phần nông là phần to nhất của cơ thắt ngoài. Phần này xuất phát từ sau chạy ra trước, vòng quanh hai bên hậu môn, có một số sợi bám vào trung tâm cân đáy chậu.
Phần sâu nằm trên phần nông. Các thớ cơ của phần này hòa lẫn với các thớ cơ của cơ nâng hậu môn, hai bó này 4 duy trì góc hậu môn trực tràng và có chức năng đặc biệt trong tự chủ hậu môn. Cơ thắt trong: thuộc hệ cơ trơn, là phần dày lên của lớp cơ vòng hậu môn. Cấu trúc hình ống dẹt, cao 4-5 cm, dày 3-6 mm, màu trắng ngà co bóp tự động.
Cơ nâng hậu môn: gồm 2 phần: phần thắt và phần nâng. Phần thắt xòe giống hình cánh quạt gồm 3 bó: bó mu bám ở mặt sau xương mu, bó ngồi bám ở gai hông, bó chậu bám vào cơ bịt trong. Cả 3 bó đều tụm lại chạy ở 2 bên trực tràng, tới sau hậu môn đính vào nhau, đính vào xương cụt hình thành nên đai hậu môn-xương cụt. Phần nâng: chỉ bám vào xương mu, ở phía trên phần thắt, bám tận bằng hai bó ở phía trước và phía bên hậu môn.
Hai bó ở hai bên đan vào lớp cơ của thành trực tràng và bám vào bó sâu của cơ thắt ngoài. Cơ Treitz Cơ Treitz là cơ trơn, nằm giữa da hậu môn và cơ thắt trong. Cơ Treitz đi xuyên qua cơ thắt trong và cố định lớp mô dưới niêm mạc vào cơ dọc kết hợp. Khi trĩ bị sa, cơ Treitz bị kéo dãn và tách thành nhiều mảnh không hồi phục.
Vì vậy, nó là cấu trúc trọng nhất trong hình thành trĩ. Da và niêm và mạch máu vùng hậu môn Phía trên của vòng hậu môn trực tràng, tức là niêm mạc trực tràng, được phủ bởi biểu mô trụ đơn. Lớp dưới niêm hậu môn giống với lớp dưới niêm của trực tràng, dễ di động khỏi lớp cơ bên dưới, dễ dãn rộng, và có chứa nhiều mạch máu. Nằm giữa vòng hậu môn trực tràng và đường lược là biểu mô chuyển tiếp.
Vùng này có 8-10 chỗ lồi lên gọi là “cột Morgagni” với chiều dài 1 cm. Nó được hình thành khi trực tràng thu hẹp để nối với ống hậu môn. Giải phẫu vùng hậu môn trực tràng (Nguồn: Mott T, Latimer K, Edwards C, (2018), "Hemorrhoids: Diagnosis and Treatment Options", Am Fam Physician, 97(3), pp.172-179 ) Biểu mô từ đường lược đến rãnh gian cơ thắt được gọi là “bì hậu môn”, và được lót bởi biểu mô lát. Nó giống với da, nhưng không có các cấu trúc phụ của da như lông, tuyến bả, tuyến mồ hôi… Nó không được phân bố bởi hệ thống thần kinh tự động mà bởi thần kinh trĩ dưới, thuộc hệ thần kinh bản thể.
Vì vậy nó nhạy cảm với đau, có chức năng cảm giác quan trọng liên quan đến chức năng cơ thắt hậu môn, và gây phản xạ co cơ thắt ngoài chỉ với một kích thích nhỏ [22]. 6 Các búi trĩ được cấu thành bởi mạch máu, cơ trơn (cơ Treitz), và mô liên kết đàn hồi ở dưới niêm. Chúng nằm ở đoạn trên ống hậu môn, từ đường lược đến vòng hậu môn trực tràng [45]. Ba búi trĩ chính nằm ở các vị trí cố định: 3h, 7h và 11h ở tư thế sản khoa.
Các búi trĩ phụ có thể xuất hiện giữa các búi trĩ chính. Vị trí của chúng thường cố định và không có mối liên hệ với các nhánh tận của động mạch trực tràng trên. Máu từ ống hậu môn trở về tuần hoàn chung theo 2 hệ thống: hệ cửa và hệ chủ. Hai hệ này thông với nhau ở vùng lược.
Các mạch máu dưới niêm nằm phía trên đường lược tạo thành đám rối trĩ nội, từ đó máu đi qua tĩnh mạch trực tràng trên và đổ vào tĩnh mạch mạc treo tràng dưới, vào hệ cửa. Các mạch máu nằm phía dưới đường lược tạo thành đám rối trĩ ngoại, từ đó một phần máu đổ về tĩnh mạch trực tràng giữa và vào tĩnh mạch chậu trong, nhưng phần lớn máu sẽ vào tĩnh mạch trực tràng dưới để vào tĩnh mạch thẹn, là một nhánh của tĩnh mạch chậu trong. Các tĩnh mạch của đám rối trĩ ngoại thường nhỏ; tuy nhiên trong khi rặn, do đám rối trĩ nội và ngoại thông thương với nhau, các tĩnh mạch này bị ứ máu. Nếu tình trạng này kéo dài có thể dẫn đến trĩ kết hợp [45].
Sinh lý hậu môn Tự chủ hậu môn Khả năng tự chủ của hậu môn tùy thuộc vào một chuỗi quá trình phức tạp, có quan hệ chặt chẽ với nhau. Hiện nay với sự hiểu biết về sinh bệnh học bệnh trĩ, các nhà hậu môn học công nhận đám rối tĩnh mạch trĩ là trạng thái sinh lý bình thường tạo nên lớp đệm trong ống hậu môn, giúp kiểm soát tự chủ của đại tiện. 7 Theo Nguyễn Đình Hối và Nguyễn Mạnh Nhâm khả năng tự chủ của hậu môn là do vùng áp suất cao trong ống hậu môn lúc nghỉ (25-120 mmHg) tạo ra rào cản chống lại áp suất trong trực tràng (5-20 mmHg). Khi phân xuống trực tràng làm tăng áp lực trong bóng trực tràng và kích thích các bộ phận nhận cảm áp lực để từ đó gây ra các phản xạ giúp tự chủ hậu môn (phản xạ ức chế và phản xạ bảo vệ).
Phản xạ ức chế bắt đầu bằng việc cơ thắt trong dãn ra để phân tiếp xúc với các tế bào nhạy cảm ở phần trên ống hậu môn, từ đó cơ thể nhận cảm được khối lượng và tính chất phân, sự nhận biết này là vô thức. Phản xạ bảo vệ: trong khi cơ thắt trong dãn ra thì cơ thắt ngoài vẫn co thắt không cho phân ra ngoài. Khi cơ thể nhận biết được khối lượng và tính chất phân thì cơ thắt ngoài co thắt mạnh hơn không cho phân đi ra ngoài đồng thời trực tràng dãn ra để thích nghi với lượng phân lớn, khi đó áp lực trong bóng trực tràng đã giảm xuống và cảm giác buồn đi ngoài bị triệt tiêu do đó bộ phận nhận cảm không còn bị kích thích. Phản xạ đó là vô thức, có sự chỉ huy của trung tâm phía dưới tủy sống và vỏ não.
Cơ chế đại tiện Ống hậu hậu môn với chức năng sinh lý chính là đào thải phân bằng động tác đại tiện. Hoạt động sinh lý bình thường của ống hậu môn hoàn toàn tự chủ. Khi muốn đi đại tiện thì cơ thể phải hủy bỏ cơ chế giữ phân như đã nêu, phân xuống đến trực tràng áp lực trong bóng trực tràng đến ngưỡng (45 mmHg) thì có cảm giác buồn đại tiện: phản xạ ức chế cơ thắt ngoài và bó mu trực tràng xuất hiện làm cho hai cơ này dãn ra, kết hợp với tư thế ngồi gấp đùi 90 độ sẽ làm mất góc hậu môn trực tràng; động tác rặn làm tăng áp lực trong ổ bụng để đẩy phân xuống, lúc này hiệu ứng van không còn, áp lực trực tràng tăng cao vượt quá sức cản ống hậu môn, phân được tống ra ngoài.2 Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh Nguyên nhân Nguyên nhân của bệnh trĩ là do suy yếu các dây chằng treo niêm mạc (cơ Treitz), rối loạn co dãn cơ sàn chậu. Búi trĩ sa ra ngoài ống hậu môn là do rặn kéo dài làm tổn thương dây chằng.
Ngoài ra, cơ sàn chậu dãn cũng làm nặng hơn tình trạng bệnh. Khi thuyết trượt niêm mạc ống hậu môn được xem như là cơ chế bệnh sinh của trĩ, có thể dễ dàng ước đoán các yếu tố nguyên nhân, và có thể hữu ích trong phòng ngừa bệnh trĩ [22]. Đại tiện trong thời gian dài Các búi trĩ của bất kì ai cũng sa xuống khi đi tiêu. Khi giữ tư thế đi tiêu trong thời gian dài, các dây chằng treo niêm mạc dãn và không trở về vị trí ban đầu.
Vì thế cần phải đi tiêu trong thời gian ngắn, trong vòng 3 phút, nếu có thể. Táo bón do chế độ ăn ít chất xơ Đối với táo bón và ăn ít chất xơ, trĩ hình thành do rặn kéo dài. Trĩ thường gặp ở tầng lớp kinh tế cao bởi vì họ thường ăn nhiều thịt và ít xơ. Trong khi đi cầu, không nên đọc báo hay sách làm kéo dài thời gian đi cầu.
Tiêu chảy Tiêu chảy cũng có thể làm sa các búi trĩ, bởi vì sự tăng nhu động ruột. Di truyền Áp lực hậu môn càng cao, càng phải rặn nhiều khi đi cầu, và trĩ càng dễ xuất hiện. Với hậu môn dãn, các búi trĩ cũng dễ bị sa. Đây có thể là các yếu tố di truyền góp phần gây ra trĩ.
Mang thai Trong lúc mang thai gây tăng áp lực ổ bụng và trĩ có thể sa dễ dàng. Ngoài ra, tử cung to làm chèn ép tĩnh mạch chủ dưới, làm phá vỡ tuần hoàn tĩnh mạch gây ứ huyết và dãn các búi trĩ. 9 Các hoạt động và thói quen gây trĩ: chơi golf, đạp xe, cử tạ, lái xe, ngồi trong thời gian dài, và uống rượu. Nghề nghiệp Trĩ thường gặp ở nhóm bệnh nhân có công việc phải ngồi lâu, như tài xế lái xe.
Bệnh sinh Trong các thuyết giải thích bệnh trĩ hiện nay, có hai thuyết được chấp nhận nhiều: thuyết cơ học và thuyết mạch máu.