ĐẶT VẤN ĐỀ Động kinh là bệnh phổ biến gặp ở tất cả các quốc gia trên toàn thế giới. Bệnh gặp ở cả nam và nữ, từ người trẻ đến người già đều có thể mắc bệnh động kinh. Tỷ lệ bệnh tăng nhiều từ lúc sinh đến tuổi thiếu niên [27]. Báo cáo của Bệnh viện tâm thần thành phố Hồ Chí Minh tỷ lệ bệnh động kinh ở Việt Nam khoảng 0,33% và ở Thành phố Hồ Chí Minh là 0,5% [3].Theo số liệu thống kê của ngành y tế An Giang, tính đến cuối năm 2016 số bệnh nhân tâm thần chung được quản lý còn sống là 2180 thì số lượng bệnh nhân động kinh là 1230 chiếm tỷ lệ 56,4% [4], một con số rất lớn, trong đó có cả người lớn và trẻ em, bệnh lý đã làm ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của người bệnh cũng như tác động về mặt kinh tế, xã hội.
Người bị bệnh động kinh thường có biểu hiện co giật, mất ý thức, có thể ngưng thở, ngất và rối loạn giấc ngủ. Có các dạng biểu hiện lâm sàng như động kinh vắng ý thức, động kinh cơn lớn, Hội chứng West, Hội chứng Lennox Gaustaut. Điện não đồ rất có giá trị đối với việc phát hiện các tổn thương khó nhìn thấy gây nên cơn động kinh. Khi có nhiều ổ tổn thương trong não, điện não đồ có thể giúp bác sĩ khu trú được ổ tổn thương nào chủ yếu gây ra bệnh động kinh.
Điện não đồ có kết quả bình thường cũng không thể loại trừ được bệnh động kinh [6]. Không phải tất cả các trường hợp động kinh đều kiểm soát được tốt cơn co giật, có khoảng 20-30% không đáp ứng tốt với điều trị. Chính vì vậy việc tuân thủ điều trị, tái khám đúng hẹn còn gặp nhiều khó khăn. Nếu bệnh nhân tuân thủ điều trị theo hướng dẫn của thầy thuốc thì động kinh có thể kiểm soát tốt và khống chế được sự xuất hiện của các cơn co giật.
Tuy nhiên, điều trị bệnh động kinh không tuân thủ đúng nguyên tắc dùng thuốc và tái khám có thể dẫn tới các tác hại hoặc tử vong do trạng thái động kinh xảy ra khi ngừng 2 thuốc đột ngột. Việc phát triển của dược học ngày nay với các thuốc đặc trị có thể giúp bệnh nhân tuân thủ tốt điều trị có cuộc sống gần như bình thường trong hơn 80% trường hợp [30]. Trong thời gian qua chưa có nghiên cứu nào thực hiện nghiên cứu về hiệu quả điều trị bệnh động kinh ở An Giang, mặc khác bệnh động kinh chiếm tỷ lệ hơn 50% bệnh tâm thần nói chung được quản lý tại An Giang, chính vì vậy chúng tôi muốn góp phần thực hiện đề tài “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, yếu tố nguy cơ và kết quả điều trị bệnh động kinh bằng Natrivalproate tại Bệnh viên đa khoa Trung tâm An Giang năm 2018-2019” với những mục tiêu cụ thể như sau: 1. Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, yếu tố nguy cơ bệnh động kinh tại Bệnh viên đa khoa Trung tâm An Giang năm 2018-2019.
Đánh giá kết quả điều trị bệnh động kinh bằng Natrivalproate tại Bệnh viên đa khoa Trung tâm An Giang năm 2018-2019. Tìm hiểu các yếu tố liên quan tới kết quả điều trị bệnh động kinh tại Bệnh viên đa khoa Trung tâm An Giang năm 2018-2019. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Định nghĩa, dịch tễ và nguyên nhân bệnh động kinh 1.
Định nghĩa động kinh Động kinh được định nghĩa là tình trạng bệnh lý ở não, đặc trưng bởi sự phóng lực quá mức và đồng thời của các neuron ở não (khu trú hoặc lan tỏa và bị kích thích cao độ); biểu hiện lâm sàng bởi những cơn đột ngột, nhất thời và lặp lại. Động kinh phụ thuộc vào các cơn động kinh, các cơn động kinh phụ thuộc vào nguồn gốc khu trú và sự lan truyền của hiện tượng phóng điện của các neuron. Nhưng một cơn duy nhất chưa thể gọi là động kinh. Với nghĩa rộng, bệnh động kinh được định nghĩa bởi sự lặp lại trên cùng một đối tượng các cơn động kinh tự phát.
Trong các thư viện cổ từ thế kỷ XVII trước công nguyên người ta đã thấy những thông tin mô tả chứng bệnh chóng mặt, đau đầu và các cơn co giật. Con người đã biết về bệnh động kinh từ nhiều thế kỷ nay. Theo Hughlings Jackson một nhà thần kinh học tiềm năng của Anh quốc ở thế kỷ XIX- “Cơn động kinh là những rối loạn nhất thời của chức năng sinh lý não bộ (gồm vận động, cảm giác, giác quan, tâm thần và thần kinh thực vật) do sự phóng điện kịch phát quá mức, đồng bộ và tự giới hạn của các neuron thần kinh vỏ não”. Tổ chức Y tế Thế giới và Tổ chức Quốc tế chống động kinh xác định: “Động kinh là tình trạng xác định bởi cơn động kinh không do sốt cao, tái phát từ hai cơn trở lên, cách nhau trên 24 giờ và không bị kích thích lên cơn bởi các nguyên nhân được xác định tức thì, các rối loạn chuyển hóa cấp tính hoặc sự ngừng thuốc hay rượu đột ngột” [7].
4 Phân loại cơn động kinh Phân loại năm 1981 Phân loại chung chia thành 3 thể gồm: cơn động kinh toàn thể, cơn động kinh cục bộ, cơn không phân loại (hội chứng Lennox-Gestaut). Phân loại cơn động kinh toàn thể: Cơn vắng ý thức, cơn giật cơ, cơn co giật, cơn co cứng co giật, cơn mất trương lực. Phân loại cơn động kinh cục bộ:cơn cục bộ đơn giản, cơn cục bộ phức tạp, cơn cục bộ toàn thể hóa thứ phát [30]. Phân loại ILAE 2017 về các kiểu động kinh cơ bản - Khởi phát cục bộ:Có thể còn ý thức hoặc suy giảm ý thức bao gồm: + Khởi phát vận động.
+ Khởi phát không vận động. + Cơn cục bộ chuyển thành co cứng co giật hai bên. - Khởi phát toàn thể: + Vận động. + Co cứng – co giật.
+ Không vận động (cơn vắng). - Không rỏ khởi phát: + Vận động. + Co cứng – co giật. + Không vận động.
- Không phân loại [60]. Dịch tễ học động kinh Theo thống kê ở nhiều nước trên thế giới, tỷ lệ người bị động kinh vào khoảng 0,5 – 0,7% dấn số. Tỷ lệ mới mắc trung bình hàng năm là 20 – 70 5 người trong 100. Tỷ lệ trên có sự khác nhau giữa các khu vực khác nhau trên thế giơí, giữa các nước trong khu vực và giữa các vùng khác nhau trong mỗi nước [7].
Lứa tuổi: khoảng 50% số bệnh nhân động kinh dưới 10 tuổi và đến 75% số người động kinh dưới 20 tuổi. Tuổi càng lớn thì tỷ lệ bị động kinh càng thấp, nhưng đến tuổi 60 trở lên thì tỷ lệ động kinh lại tăng lên, tỷ lệ gặp khoảng 100 trong 100. Giới: tỷ lệ bị động kinh ở nam cao hơn nữ. Tính chất gia đình: khoảng 10% đến 25% bệnh nhân động kinh có yếu tố gia đình (cha, mẹ bị động kinh).
Theo thống kê ở nhiều nước trên thế giới, tỷ lệ người bị động kinh vào khoảng 0,5 – 0,7% dấn số. Tỷ lệ mới mắc trung bình hàng năm là 20 – 70 người trong 100. Tỷ lệ trên có sự khác nhau giữa các khu vực trên thế giới, giữa các nước trong khu vực và giữa các vùng khác nhau trong mỗi nước. Thống kê của Liên hội quốc tế chống động kinh (ILAE) năm 1996 cho biết trên thế giới ước tính có khoảng 70 triệu bệnh nhân động kinh thì trong đó có 60 triệu người thuộc các nước đang phát triển [30].
Tỷ lệ tử vong quy chuẩn của bệnh nhân động kinh cao gấp 2-3 lần những người không có bệnh trong cùng cộng đồng. Tỷ lệ tử vong quá cao này chủ yếu là tử vong không rõ nguyên nhân trong cơn động kinh hoặc bệnh nhân có bệnh động kinh thể nặng hoặc thể không đáp ứng với điều trị. Trong khoảng 60% những bệnh nhân xuất hiện co giật, điều trị ban đầu là hoàn toàn có hiệu quả, thời gian trung bình của hoạt động động kinh thường ngắn (< 5 năm) trong khoảng 50% số trường hợp. Trong 40% số bệnh nhân còn lại, co giật vẫn tiếp tục diễn ra mặc dù đã được điều trị ban đầu, do đó cần có các biện pháp điều trị thay thế.
6 Trong khoảng 20% số bệnh nhân đang quản lý và điều trị bệnh động kinh, co giật tiếp tục không khống chế được trong một thời gian dài mặc dù vẫn đang được điều trị thuốc. Khoảng 15% những bệnh nhân được điều trị có trên 50 cơn co giật trong 1 năm, 25% có số cơn co giật từ 10 đến 50 trong năm và 60% có ít hơn 10 cơn co giật trong năm. 18% bệnh nhân người lớn có bệnh động kinh mới được chẩn đoán có vấn đề về nhận thức, 6% có bất thường về vận động và 6% có rối loạn tâm thần nặng. Khoảng 1 trong 15 bệnh nhân có bệnh động kinh phụ thuộc vào người khác cho các công việc hàng ngày vì lý do bệnh động kinh và mức độ tàn phế liên quan.
Sự rối loạn nhân cách của bệnh nhân bệnh động kinh là vấn đề hay gặp, điều trị thay đổi thái độ cũng được coi là quan trọng không kém gì với điều trị bằng thuốc [30]. Nguyên nhân gây động kinh Có nhiều nguyên nhân gây động kinh, nhưng có thể xếp vào hai nhóm chính là bệnh lý thần kinh nguyên phát và nhóm các bệnh khác như sau: [7]. Các bệnh thần kinh nguyên phát: - Co giật lành tính do sốt ở trẻ em: xảy ra ở 2- 4% trẻ em từ 3 tháng đến 5 năm tuổi. Thường xảy ra trong ngày sốt đầu tiên và không có biểu hiện của nhiễm khuẩn hệ thần kinh trung ương (viêm não , viêm màng não), không có biểu hiện tổn thương khu trú hệ thần kinh trung ương.
Tiền sử gia đình có thể có người bị co giật tương tự hoặc các chứng co giật lành tính khác. - Động kinh vô căn: chiếm 75% số bệnh nhân đông kinh. Tuổi phát bệnh thường từ nhỏ đến 25 năm. Trong số đó 75% có cơn đầu tiên trước tuổi 18.
Không phải tất cả các bệnh nhân động kinh vô căn đều sẽ có cơn tái phát 7 sau cơn lần đầu mà chỉ khoảng 30 –70% trong số họ mà thôi. Các bệnh nhân có thay đổi điện não, các bệnh nhân có liệt Todd sau cơn, có triệu chứng thần kinh kéo dài, trạng thái động kinh, hoặc có tiền sử gia đình thường dễ bị cơn tái phát. - Chấn thương sọ não: là nguyên nhân gây động kinh thường gặp, đặc biệt khi xảy ra ở giai đoạn chu sinh, hoặc chấn thương gây lún sọ cũng như gây chảy máu não, chảy máu dưới nhện.