Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của động kinh ở phụ nữ có thai

Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng và một số yếu tố liên quan của động kinh ở phụ nữ có thai, phân tích chuyên sâu, xây dựng mô hình lý thuyết, đề xuất giải

Trường đại học

Trường Đại Học Y Hà Nội

Chuyên ngành

Thần kinh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2022

168
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Động kinh và chẩn đoán động kinh ở phụ nữ có thai

1.2. Cơ sở sinh lý bệnh của cơn động kinh

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân

2.3. Tiêu chuẩn loại trừ

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.5. Thiết kế nghiên cứu

2.6. Cỡ mẫu nghiên cứu

2.7. Quy trình nghiên cứu

2.8. Các biến số trong nghiên cứu

2.9. Xử lý số liệu

DANH MỤC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Đặc điểm động kinh ở phụ nữ mang thai

Động kinh là một bệnh lý thần kinh phổ biến, đặc biệt ở phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ. Tỷ lệ mắc động kinh ở phụ nữ mang thai dao động từ 0,5% đến 1%. Trong quá trình mang thai, phụ nữ bị động kinh có thể gặp nhiều nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe của cả mẹ và thai nhi. Các yếu tố như cơn co giật, tác động của thuốc điều trị động kinh, và sự thay đổi sinh lý trong thai kỳ đều có thể làm tăng nguy cơ biến chứng. Việc theo dõi và quản lý tình trạng động kinh trong thai kỳ là rất quan trọng để giảm thiểu các rủi ro cho mẹ và thai nhi.

1.1. Lâm sàng động kinh ở phụ nữ mang thai

Lâm sàng động kinh ở phụ nữ mang thai thường biểu hiện qua các cơn co giật, có thể là cơn toàn thể hoặc cơn cục bộ. Tình trạng này có thể gây ra các biến chứng nghiêm trọng như thiếu oxy cho thai nhi, tăng nguy cơ dị tật bẩm sinh, và thậm chí là tử vong. Các triệu chứng động kinh có thể thay đổi trong thai kỳ do sự thay đổi hormone và sự chuyển hóa thuốc. Việc theo dõi cẩn thận các triệu chứng và điều chỉnh thuốc điều trị là cần thiết để đảm bảo an toàn cho cả mẹ và thai nhi.

1.2. Cận lâm sàng trong chẩn đoán động kinh

Cận lâm sàng đóng vai trò quan trọng trong việc chẩn đoán và theo dõi động kinh ở phụ nữ mang thai. Các phương pháp như điện não đồ (EEG) và hình ảnh cộng hưởng từ (MRI) giúp xác định loại động kinh và mức độ nghiêm trọng của bệnh. Việc sử dụng các phương pháp này cần được thực hiện cẩn thận để tránh ảnh hưởng đến thai nhi. Các nghiên cứu cho thấy rằng việc theo dõi định kỳ nồng độ thuốc trong máu cũng rất quan trọng để điều chỉnh liều lượng thuốc phù hợp, nhằm giảm thiểu nguy cơ cơn co giật tăng cường trong thai kỳ.

II. Yếu tố liên quan đến động kinh trong thai kỳ

Nhiều yếu tố có thể ảnh hưởng đến hoạt động của cơn động kinh trong thai kỳ. Các yếu tố này bao gồm tiền sử cơn co giật trước khi mang thai, loại thuốc điều trị đang sử dụng, và sự tuân thủ điều trị của bệnh nhân. Nghiên cứu cho thấy rằng việc tư vấn và lập kế hoạch trước mang thai có thể giúp kiểm soát tốt hơn hoạt động của cơn động kinh. Ngoài ra, các yếu tố tâm lý như stress và lo âu cũng có thể làm tăng nguy cơ cơn co giật trong thai kỳ.

2.1. Tác động của thuốc điều trị động kinh

Thuốc điều trị động kinh có thể có tác động tiêu cực đến thai nhi, bao gồm nguy cơ dị tật bẩm sinh và các vấn đề phát triển sau này. Việc lựa chọn thuốc và liều lượng cần được cân nhắc kỹ lưỡng. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng một số loại thuốc như valproate có liên quan đến nguy cơ cao hơn về dị tật bẩm sinh. Do đó, việc theo dõi và điều chỉnh thuốc trong thai kỳ là rất quan trọng để đảm bảo an toàn cho cả mẹ và thai nhi.

2.2. Quản lý và tư vấn trước mang thai

Quản lý và tư vấn trước mang thai cho phụ nữ bị động kinh là rất cần thiết. Tư vấn này bao gồm việc cung cấp thông tin về tình trạng bệnh, các lựa chọn điều trị an toàn, và lập kế hoạch cho quá trình mang thai. Nghiên cứu cho thấy rằng việc tư vấn đầy đủ có thể giúp giảm thiểu các rủi ro liên quan đến động kinh trong thai kỳ, từ đó nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân và thai nhi.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN 1. Động kinh và chẩn đoán động kinh ở phụ nữ có thai 1. Cơ sở sinh lý bệnh của cơn động kinh Tuy đã có nhiều công trình nghiên cứu về cơ chế bệnh học của động kinh nhưng đến nay chúng ta mới chỉ hiểu rõ về các hiện tượng điện sinh lý, sự thay đổi chuyển hóa xảy ra trong cơn và sau cơn còn bản chất thực sự động kinh là gì vẫn còn nhiều tranh cãi. Ðặc trưng bệnh lý quan sát được trong cơn động kinh là sự phóng điện kịch phát, thành từng đợt và lặp đi lặp lại của một quần thể nơron nhờ sự khử cực mạnh xảy ra ở màng tế bào phát sinh điện thế hoạt động (còn gọi là sự di chuyển vị trí khử cực) của các nơron trong ổ động kinh [8].

Trong cơn động kinh có nhiều phản ứng chuyển hóa xảy ra tại não gồm tăng nồng độ ion kali và giảm nồng độ ion canxi ngoài tế bào, giải phóng các chất dẫn truyền thần kinh và các peptide thần kinh, tăng lưu lượng máu nơi tổn thương, tăng hấp thụ glucose tại chỗ…Tất cả các hiện tượng chuyển hóa này vừa là hậu quả vừa là nguyên nhân gây tăng kích thích các nơron góp phần hình thành ổ động kinh và lan truyền cơn động kinh. Có nhiều cơ chế khác nhau để gây được cơn động kinh thực nghiệm trên não bình thường hoặc bệnh lý. Các nghiên cứu cho thấy: quá trình tăng kích thích hay giảm ức chế đều gây tăng quá mức tính kích thích của nơron dẫn tới một phóng điện thành ổ. Sự tăng cường tính kích thích của nơron là kết quả của sự phối hợp giữa hai yếu tố gồm ngưỡng của động kinh mà mức độ di truyền đã được xác định và sự bất thường về chuyển hóa, tổn thương não.

làm ngưỡng nói trên hạ thấp tạm thời hoặc vĩnh viễn. Phương pháp thường dùng để gây động kinh thực nghiệm trên động vật là dựa vào cơ chế làm nghẽn ức chế, ví dụ như dùng chất đối kháng axit gama - aminobutiric (GABA), là một dẫn truyền thần kinh loại ức chế. Người ta cho rằng một số thể động kinh toàn thể là do một sự bất thường của hệ thống ức chế GABA đồng thời cũng chứng minh các thuốc như phenobarbital, benzodiazepine và axit valproic làm tăng sự ức chế của GABA, do đó có tác dụng chống cơn động kinh. TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat 4 Ngoài ra, cũng có thể gây cơn động kinh bằng phương pháp kích thích hóa lý có sử dụng một dòng điện với cường độ thích hợp kích thích tại não.

Cơn động kinh này có tính chất tự duy trì ngoài các kích thích ban đầu. Đối với các kích thích dưới ngưỡng ban đầu không gây động kinh nhưng nếu lặp đi lặp lại, định hình trong khoảng cách đều, các kích thích này sẽ được tích lũy và đến một lúc nào đó một kích thích tương tự có thể gây cơn động kinh. Các cơn động kinh tự phát có thể xảy ra mà không cần có kích thích mới được gọi là sự nhen nhóm [8]. Các hiện tượng về điện sinh lý chuyển hoá xảy ra trong cơn động kinh Các mạng lưới nơron thần kinh tham gia vào cơ chế động kinh có thể chia làm 3 nhóm: Khởi phát, lan truyền và kiểm soát.

- Mạng lưới khởi phát: Gồm một nhóm các cấu trúc đặc hiệu của vỏ não và/hoặc dưới vỏ. Hoạt động của các thể động kinh sẽ tùy thuộc vào mạng lưới nơron nào nằm trong cấu trúc này. Cấu trúc chủ chốt của động kinh thùy thái dương là hồi hải mã. Mạng lưới khởi phát trong động kinh phản xạ nằm ở thân não hoặc vùng trán Rolando.

Mạng lưới khởi phát trong động kinh cơn vắng là các tiếp nối tương hỗ giữa vỏ não cảm giác vận động và các nhân bên của đồi thị. - Mạng lưới lan truyền: Từ vị trí khởi phát, các phóng lực động kinh lan truyền ra các neuron khác trong cùng một cấu trúc hoặc lan ra các cấu trúc xung quanh thông qua mạng lưới lan truyền. Trong trường hợp động kinh tiến triển, các mạng lưới lan truyền này biến đổi liên tục và sự “mềm dẻo” này của hệ thần kinh có vai trò rất quan trọng trong việc gây động kinh. - Mạng lưới kiểm soát: Cho đến hiện nay, người ta chưa giải thích được lý do cơn động kinh dừng lại cũng như tại sao khoảng cách giữa các cơn lại có thể dài như vậy.

Giả thuyết cho rằng có một mạng lưới kiểm soát hoạt động của các cơn động kinh và khi mạng lưới này không hoạt động sẽ dẫn đến trạng thái động kinh. Một trong những mạng lưới kiểm soát động kinh được biết đến là các hạch nền [8]. Các phóng lực động kinh Giả thuyết cho rằng biến đổi bất thường các dòng ion qua màng tế bào và sự mất cân bằng giữa hệ thống ức chế và hưng phấn của mạng lưới neuron gây ra tăng hoạt động đồng bộ của một quần thể neuron. Để nghiên cứu cơ chế của động kinh, người ta tạo ra trên động vật thí nghiệm tình trạng kích thích cấp tính hoặc mạn tính của não [9].

Đặc trưng của các hoạt động động kinh là các phóng lực kịch phát và TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat 5 đồng bộ của một quần thể nơron. Biểu hiện trên điện não đồ của trạng thái nơron tăng kích thích là một nhọn (gai). Nhờ việc ghi điện thế tế bào dựa trên công trình của Matsumoto và Ajmore – Marsan, người ta hiểu được sóng nhọn ghi được trên điện não đồ chính là hiện tượng khử cực kịch phát ồ ạt trong tế bào (Paroxysmal Depolarizing Shift:PDS) gây ra các phóng lực của điện thế hoạt động tần số cao (các đợt bùng phát) [10]. Khi đưa penicillin vào vỏ não hoặc cấu trúc dưới vỏ của chuột cống trắng, người ta ghi được trên điện não đồ hoặc trên các cấu trúc của hồi hải mã một sóng nhọn biên độ lớn.

Khi ghi điện thế của tế bào, khử cực kịch phát là một loạt các phóng điện thế hoạt động tần số cao. Khử cực kịch phát xuất hiện đột ngột và có thể ghi được trên điện não đồ, tuy nhiên lại không có biểu hiện gì trên lâm sàng. Đây chính là hiện tượng kịch phát tồn tại giữa các cơn động kinh [8],[11],[12],[13]. Ở màng neuron, Hodgkin và Huxley từ lâu đã nói đến vai trò của ion Na+ trong pha khử cực nhanh của điện thế hoạt động.

Dòng ion K+ ra khỏi tế bào gây ưu phân cực màng tế bào, làm giảm tính kích thích của màng tế bào. Các chất ức chế các ion K+ ra khỏi màng tế bào (ví dụ: 4 amino-pyridin hay tetra-ethyl-ammonium) sẽ làm xuất hiện các khử cực kịch phát. Trên thực nghiệm, người ta đã phát hiện được nhiều dòng K+ và một số dòng ion này lại phụ thuộc vào các ion Ca2+. Các dòng ion K+ đi ra có thể đóng vai trò chủ chốt trong cơ chế hạn chế phóng lực trong không gian và theo thời gian của tế bào.

Vai trò của ion Ca2+ khá phức tạp. Ion Ca2+ đi vào trong tế bào có tác dụng làm thay đổi điện thế và truyền các tín hiệu nội bào. Các tín hiệu được hoạt hóa bằng dòng Ca2+ liên quan đến các protein nhận cảm đặc hiệu như calmodulin và protein kinase C. Các nghiên cứu trước đây trên các mảnh cắt của tổ chức não bình thường đã cho thấy ở một số tế bào, đặc biệt là vùng hải mã (vùng C3) có các phóng lực tự phát nhưng không đồng bộ.

Về mặt hình thái học, các tế bào này giống các tế bào thấy được trên các mẫu động vật gây động kinh thực nghiệm bằng penicillin. Người ta đã nhận thấy PDS có liên quan đến ion Ca2+ đổ vào trong neuron và dòng ion K+ đi ra [8],[13],[14]. Lan truyền của các phóng lực động kinh Theo Prince và Wilder cũng như nhiều tác giả sau này đã phát hiện ổ động kinh có 3 phần: Các tế bào dễ kích thích là nguồn gốc tạo ra các hiện tượng khử cực kịch phát quan trọng nằm ở trung tâm của ổ động kinh (ictal core territory), vùng trung gian (ictal penumbra) và ngoài cùng là một vùng dày đặc các tế bào phân cực, TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat 6 không kích thích được, có vai trò hạn chế các phóng lực trong không gian (penumbra) [8],[15],[16],[17],[18]. Quá trình chuyển từ trạng thái giữa cơn động kinh thành cơn động kinh phụ thuộc sự đồng bộ của quần thể neuron.

Khi một quần thể các neuron ở tâm của ổ động kinh khử cực với tần số cao, các neuron bình thường kế cận có thể cũng bị khử cực và kéo theo lan truyền các hoạt động động kinh ra khắp hệ thần kinh trung ương. Sự lan truyền các hoạt động động kinh phụ thuộc vị trí ổ động kinh, các đường tham gia dẫn truyền các xung động động kinh và việc các xung động được diễn ra nhanh hay chậm [15],[16]. Nếu hoạt động động kinh xảy ra ở vùng vận động, sự lan truyền sẽ xảy ra rất nhanh theo hệ thống vỏ-tủy hoạt hóa các neuron ở thân não, tủy sống và hệ thần kinh ngoại vi. Các phóng lực này có thể lan sang bán cầu đối diện.

Hoạt động kịch phát ở thân não sẽ lan tới các trung tâm dưới vỏ điều biến thông qua các hệ thống ức chế. Lan truyền của các xung động động kinh có thể xảy ra rất nhanh theo các đường đi xuống, đặc biệt là các đường thuộc hệ lưới hoạt hóa, lúc này tất cả các quần thể neuron của ổ động kinh đều bị các phóng lực động kinh tác động. Như vậy, sự mất khả năng ức chế synap sẽ gây ra hiện tượng tăng tính kích thích neuron dẫn đến sự đồng bộ của hoạt động động kinh [16],[17]. Tuy vậy, các hiểu biết hiện nay về cơ chế gây đồng bộ này của các neuron vẫn chưa đầy đủ.

Kết thúc các phóng lực động kinh Các yếu tố hạn chế lan truyền và làm ngừng các hoạt động động kinh bao gồm sự tích tụ các chuyển hóa trong tế bào sau cơn động kinh, các tế bào thần kinh đệm hình sao tham gia vào thu hồi K+ ngoại bào, vai trò của các chất dẫn truyền thần kinh ức chế và một số cấu trúc ức chế như tiểu não. Trong cơn động kinh, người ta nhận thấy ở tế bào có chuyển hóa yếm khí thứ phát do giảm lượng oxy cung cấp gây toan hóa tế bào, giảm hoạt động ATP-ase, nguồn gốc của sự hoạt hóa các dòng K+ tạo nên ưu phân cực, do đó có tác dụng ức chế các phóng lực kịch phát [8],[15],[19].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của động kinh ở phụ nữ có thai" của tác giả Nguyễn Thị Thanh Bình, dưới sự hướng dẫn của GS. Lê Văn Thính, trình bày những đặc điểm nổi bật về động kinh trong thai kỳ, bao gồm các triệu chứng lâm sàng và các phương pháp cận lâm sàng để chẩn đoán. Bài viết không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình trạng này mà còn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc theo dõi và điều trị cho phụ nữ mang thai bị động kinh, nhằm bảo vệ sức khỏe của cả mẹ và thai nhi.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến sức khỏe phụ nữ và điều trị trong lĩnh vực y tế, bạn có thể tham khảo các tài liệu sau: Kháng Sinh Dự Phòng Trong Mổ Lấy Thai Tại Bệnh Viện Hùng Vương, nơi đề cập đến các biện pháp phòng ngừa trong quá trình phẫu thuật cho phụ nữ mang thai, và Khảo Sát Nhu Cầu Tư Vấn Sử Dụng Thuốc Của Bệnh Nhân Điều Trị Ngoại Trú Tại Bệnh Viện Đại Học Y Hà Nội Năm 2023, nghiên cứu về nhu cầu tư vấn thuốc cho bệnh nhân, điều này có thể liên quan đến việc điều trị cho phụ nữ mang thai. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề sức khỏe trong bối cảnh y tế hiện đại.