ĐẶT VẤN ĐỀ Dọa đẻ non và đẻ non luôn là vấn đề lớn của y học nói chung cũng như sản khoa nói riêng. Theo nghiên cứu của WHO, mỗi năm có khoảng 15 triệu trẻ đẻ non ra đời. Tỷ lệ đẻ non trên thế giới ước tính khoảng 11%. Ở những nước châu âu, tỷ lệ đẻ non thấp hơn các vùng khác trên thế giới, khoảng 5% trong khi những nước châu Phi có tỷ lệ đẻ non cao nhất, khoảng 18% [1].
Theo thống kê của Việt Nam, năm 2002 có khoảng 180 nghìn sơ sinh non tháng trên tổng số gần 1.6 triệu sơ sinh chào đời, 1/5 số các trẻ sơ sinh non tháng này tử vong. Tỷ lệ tử vong của nhóm sơ sinh non tháng cao gấp 20 lần nhóm đủ tháng. Trong những trẻ đẻ non sống sót, nhiều trẻ mang theo những di chứng suốt cuộc đời như chậm phát triển về mặt thể chất và trí tuệ cùng với những vấn để về mắt và tai. Hiện nay với sự phát triển của y học, chúng ta đã có thể nuôi sống được những trẻ có trọng lượng thấp và tuổi thai còn khá nhỏ.
Tuy nhiên, để nuôi sống được những trẻ non tháng này sẽ tốn kém rất nhiều công sức, nhân lực và tài chính của xã hội cũng như ngành y tế, đồng thời tỷ lệ bệnh tật của những đứa trẻ này khi lớn lên còn khá cao. Do đó, phát hiện sớm những thai phụ có nguy cơ cao đẻ non để can thiệp kịp thời để hạn chế tỷ lệ đẻ non luôn là mục đích của y học nhằm cho ra đời những đứa trẻ có thể chất khỏe mạnh và thông minh, đảm bảo nguồn nhân lực tương lai và chất lượng dân số cho xã hội. Trên thực tế lâm sàng, chẩn đoán sớm dọa đẻ non gặp rất nhiều khó khăn vì giai đoạn đầu triệu chứng lâm sàng thường không rõ ràng. Chính vì vậy có nhiều chẩn đoán dọa đẻ non không chính xác.
Từ đó, nhiều thai phụ phải nhập viện điều trị thuốc giảm co và corticoid không cần thiết dẫn đến tốn kém về kinh tế để chi trả tiền thuốc và viện phí cũng như mất đi cơ hội về 2 việc làm trong thời gian nằm viện. Bên cạnh đó, chúng ta lại bỏ sót những trường hợp dọa đẻ non thực sự, để những thai phụ này về nhà theo dõi dẫn đến thời gian can thiệp muộn, điều trị giữ thai không còn hiệu quả. Trên thế giới và trong nước đã có rất nhiều các công trình khoa học nghiên cứu về cơ chế sinh bệnh học, các yếu tố nguy cơ, triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng và điều trị để hạn chế tình trạng đẻ non. Với sự phát triển của khoa học, trong những năm gần đây các nhà nghiên cứu trên thế giới đã tìm hiểu được sâu sắc hơn cơ chế của đẻ non và tìm ra được các chất hóa học tham gia vào cơ chế của đẻ non.
Bằng cách phát hiện sự thay đổi nồng độ các chất này ở giai đoạn sớm của chuyển dạ đẻ non, các thầy thuốc lâm sàng có thể chẩn đoán dọa đẻ non sớm hơn và chính xác hơn để can thiệp kịp thời giúp hạn chế tỷ lệ đẻ non và hậu quả của đẻ non. Trong các xét nghiệm tiên đoán đẻ non, 2 xét nghiệm có giá trị cao là fetal fibronectin (FFN) dịch âm đạo và Interleukin-8 (IL-8) dịch cổ tử cung (CTC). Do đó, chúng tôi tiến hành "Nghiên cứu giá trị của Fetal fibronectin âm đạo và Interleukin 8 cổ tử cung trong tiên đoán đẻ non" nhằm mục tiêu: 1. Xác định nồng độ IL8 dịch CTC và xét nghiệm FFN dịch âm đạo ở nhóm thai phụ dọa đẻ non có chiều dài CTC ≤ 25mm và nhóm thai phụ dọa đẻ non có chiều dài CTC > 25mm.
Nghiên cứu giá trị của IL-8 và FFN trong tiên đoán khả năng đẻ non. 3 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Khái niệm đẻ non Theo tổ chức y tế thế giới, đẻ non là cuộc chuyển dạ xảy ra từ tuần thứ 22 đến trước tuần thứ 37 của thai kỳ hoặc 259 ngày tính từ ngày đầu tiên của kỳ kinh cuối cùng [2]. Tại Việt Nam theo hướng dẫn quốc gia về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản thì tuổi thai đẻ non là từ hết 22 tuần đến hết 37 tuần thai nghén.
Các tài liệu đưa ra nhiều cách phân loại đẻ non khác nhau nhưng theo WHO có 3 cách phân loại phổ biến nhất là theo tuổi thai, theo cân nặng và theo nguyên nhân [2]. Theo tuổi thai, đẻ non được phân ra 3 loại: đẻ non rất sớm (trước 28 tuần), đẻ non sớm (từ 28 đến trước 32 tuần), đẻ non trung bình và muộn (32 tuần đến trước 37 tuần). Theo cân nặng, đẻ non cũng được phân ra 3 loại: cân nặng đặc biệt thấp (<1000g), cân nặng rất thấp (từ 1000g đến <1500g), cân nặng thấp (từ 1500g đến <2500g). Theo nguyên nhân, chia ra 2 loại: đẻ non tự nhiên hoặc do chỉ định y khoa.
Đẻ non tự nhiên: chiếm 70-80% (bao gồm chuyển dạ đẻ tự nhiên (40-50%) và vỡ ối non (20-30%). Đẻ non do chỉ định y khoa: chiếm 20-30%. Chỉ định y khoa có thể do mẹ hoặc do thai như tiền sản giật, rau tiền đạo, rau bong non, thai chậm phát triển trong tử cung,. Tỷ lệ đẻ non trên thế giới ước tính khoảng 11%.
Ở những nước châu Âu, nền y tế phát triển hơn, tỷ lệ đẻ non thấp hơn các vùng khác trên thế giới, khoảng 5% trong khi những nước châu Phi có tỷ lệ đẻ non cao nhất, khoảng 18%. Theo nghiên cứu của WHO, mỗi năm có khoảng 15 triệu trẻ đẻ non ra đời. Như vậy cứ 10 đứa trẻ đẻ ra trên thế giới lại có một trẻ đẻ non. Trong số những trẻ đẻ non này, 84% nằm trong 32 đến 36 tuần,10% nằm trong 28- <32 tuần và 5% trước 28 tuần.
Trên 1 triệu trẻ tử vong hàng năm có liên quan đến các biến chứng của đẻ non [1]. 4 Tại Việt Nam cho đến nay vẫn chưa có thống kê trên cả nước về tỷ lệ đẻ non mà chỉ có những nghiên cứu tại từng vùng miền hoặc từng bệnh viện. Theo Nguyễn Viết Tiến và Phạm Thị Thanh Hiền, tỷ lệ đẻ non tại viện Bảo vệ bà mẹ và trẻ sơ sinh năm 1985 là 17,6%, năm 1986 là 16,9% [3]. Nghiên cứu về các yếu tố nguy cơ về đẻ non năm 2002 của Nguyễn Công Nghĩa cho thấy tỷ lệ đẻ non tại Hà Nội là 11,8% [4].
Nghiên cứu của Trương Quốc Việt và nghiên cứu của Phan Thành Nam về nhóm thai phụ có triệu chứng dọa đẻ non phải nhập viện điều trị tại khoa sản bệnh lý Bệnh viện phụ sản Trung ương năm 2012 và 2013, tỷ lệ đẻ non là 35,2% và 37,3% [5],[6]. Cơ chế đẻ non Cơ chế bệnh sinh của đẻ non đến nay vẫn còn nhiều tranh cãi và chưa có giả thuyết nào được coi là tối ưu. Trong số đó có một số giả thuyết được chấp nhận rộng rãi là: 1. Kích hoạt sớm trục nội tiết hạ đồi -tuyến yên -tuyến thƣợng thận của mẹ và thai nhi: Đây là một trong những giả thuyết lâu nhất về đẻ non đến nay vẫn còn được chấp nhận.
Nguyên nhân gây ra đẻ non khi kích hoạt trục nội tiết là do cơ thể người mẹ bị căng thẳng. Khi bị căng thẳng, vùng dưới đồi sẽ tiết ra hormon chống lại sự căng thẳng (corticotrophic releasing hormon- CRH). Bình thường CRH do tuyến dưới đồi tiết ra nhưng trong suốt thời kỳ thai nghén, một lượng lớn CRH được các tế bào màng rụng, tế bào màng ối và rau thai tiết ra. CRH sẽ kích thích tuyến yên tiết ra ACTH, ACTH sẽ kích thích tuyến thượng thận tiết cortisol.
Ở phụ nữ không mang thai, cortisol có tác dụng như phản hồi âm tính lên các tuyến nội tiết, ức chế tuyến dưới đồi giảm tiết CRH và tuyến yên giảm tiết ACTH. Tuy nhiên khi có thai, CRH được tiết ra rất nhiều và liên tục ở màng rụng và màng rau không chịu sự 5 ức chế của tuyến dưới đồi và tuyến yên. CRH tăng cao liên tục sẽ kích thích trục nội tiết hạ đồi - tuyến yên - tuyến thượng thận [7]. Mặt khác, CRH cũng kích thích tổng hợp prostaglandin (PG) ở màng rụng, màng ối và nước ối và chính PG cũng có tác dụng feedback dương tính kích thích tổng hợp CRH.
PG có tác dụng gây ra cơn co tử cung và làm tăng enzym protease ở đường sinh dục (matrix metalloproteinases -MMPs) để làm chín muồi cổ tử cung, gây ra chuyển dạ. Những feedback dương tính này sẽ tạo thành một vòng xoắn kích thích lẫn nhau làm cho CRH và PG được tiết ra liên tục và cuối cùng dẫn đến chuyển dạ. Trong một nghiên cứu năm 2011, Dunkel Schetter và Glynn kết luận rằng căng thẳng trong quá trình mang thai là một yếu tố nguy cơ lớn của đẻ non và rút ngắn thời gian mang thai [8]. Một nghiên cứu năm 2014 tổng hợp 12 nghiên cứu với cỡ mẫu 17304 thai phụ của XX.Dinh và cộng sự cho thấy căng thẳng của mẹ trong quá trình thai nghén làm tăng có ý nghĩa thống kê tỷ lệ đẻ non (RR=1,5;95%; CI=1,33-1,7) và tỷ lệ đẻ thấp cân (RR=1,76;95%; CI=1,32-2,33) [9].
Nhiễm khuẩn hoặc phản ứng viêm Khi có sự xâm nhập vi khuẩn vào đường sinh dục, các receptor nằm trên bề mặt các tế bào màng rụng, màng ối, cổ tử cung và bánh rau sẽ gắn với vi khuẩn và tiết ra các cytokine nội sinh. Dưới tác dụng hóa ứng động của các cytokine, các tế bào bạch cầu đa nhân trung tính, các đại thực bào sẽ hoạt hóa và tập trung lại ở vùng có mặt của vi khuẩn và tiết ra rất nhiều các chất trung gian hóa học như interleukin 1,6,8; yếu tố hoại tử u (TNF), MMPs,. Có nhiều bằng chứng chỉ ra rằng các cytokine đóng vai trò trung tâm trong các cơ chế của viêm / nhiễm khuẩn gây ra đẻ non. IL-1 kích thích gây ra cơn co tử cung và kích thích chuyển dạ đẻ và đẻ non trên động vật và có khả năng bị 6 chặn lại khi dùng chất đối vận [10].
Nồng độ TNF- α tăng lên ở thai phụ vỡ ối non và cao hơn khi xuất hiện chuyển dạ. Đưa TNF-α vào cổ tử cung gây ra những thay đổi ở CTC tương tự như khi CTC trong quá trình chín và TNF- α có thể kích thích chuyển dạ khi dùng toàn thân ở động vật [11]. Ngoài ra, IL-1 và TNF-α kích thích tổng hợp prostaglandin bằng cách kích thích tiết ra COX-2 vào màng rụng và nước ối trong khi ức chế emzym chuyển hóa prostaglandin (15-hydroxy-prostaglandin dehydrogenase) trong màng đệm.