ĐẶT VẤN ĐỀ Trong cuộc sống của ngƣời phụ nữ có thể chia làm 3 thời kỳ quan trọng: một là thời kỳ sinh sản, hai là thời kỳ tiền mãn kinh với những thay đổi sinh lý biểu hiện rất khó chịu, ba là thời kỳ mãn kinh bắt đầu của sự lão hóa; một số bệnh có nguy cơ tăng ở thời kỳ này nhƣ: loãng xƣơng, đái tháo đƣờng, tim mạch. Bệnh tật và lão hóa là hai quá trình không thể tránh khỏi trong đời sống con ngƣời, tiền mãn kinh là dấu hiệu báo động chuẩn bị bƣớc vào giai đoạn lão hóa của phụ nữ, một hiện tƣợng sinh lý xảy ra ở phụ nữ 45 đến 55 tuổi, với biểu hiện ngƣng hoàn toàn và vĩnh viễn các chảy máu trong chu kỳ kinh nguyệt [17]. Sự chuyển tiếp từ thời kỳ tiền mãn kinh sang mãn kinh làm xuất hiện nhiều dấu hiệu của hội chứng chuyển hóa nhƣ béo trung tâm, chuyển hóa lipid có tính sinh vữa (tăng triglycerid, tăng lipoproten tỷ trọng thấp, giảm lipoprotein tỷ trọng cao), tăng glucose máu và tăng insulin máu [15], [19]. Đặc điểm sinh lý thời kỳ tiền mãn kinh nhƣ: thiếu hụt estrogen, độ nhạy cảm insulin giảm, tăng trọng, giảm hoạt động thể chất góp phần làm tăng nguy cơ rối loạn lipid máu và rối loạn chuyển hóa glucose, gây rối loạn chức năng mô mỡ dẫn đến tăng huyết áp và không dung nạp glucose, tất cả gọi chung là “hội chứng chuyển hóa” [16].
Các thành phần của hội chứng chuyển hóa đều là các yếu tố nguy cơ tim mạch, do vậy hội chứng này đƣợc dự báo là tăng tỷ lệ mắc các bệnh tim mạch cũng nhƣ các biến chứng nặng đe dọa đến tính mạng ngƣời bệnh. Hội chứng chuyển hóa giờ đây đƣợc xem là hội chứng “tiền mạch vành” và bệnh tim mạch vẫn là nguy cơ hàng đầu gây bệnh tật và tử vong ở phụ nữ mãn kinh. Nếu ngăn ngừa kịp thời các yếu tố nguy cơ thì có thể phòng ngừa tiến triển không những bệnh đái tháo đƣờng, bệnh tim mạch, mà cả các biến chứng tim mạch [1]. Tại Việt Nam, hội chứng chuyển hóa (HCCH) là vấn đề sức khoẻ ngày càng phổ biến trong cộng đồng dân cƣ, tuy nhiên việc hiểu biết về HCCH và các thành tố nguy cơ mắc HCCH của ngƣời dân còn hạn chế.
Nhìn chung ở Việt Nam, các nghiên cứu đa số tập trung vào việc xác định tỷ lệ mắc HCCH, tỷ lệ xuất hiện các rối loạn thuộc HCCH và chủ yếu trên những bệnh nhân đang điều trị tại bệnh viện. Trong bối cảnh khi mà HCCH đã trở thành vấn đề 2 thời sự của y học thì việc khảo sát hội chứng này để tìm kiếm cách hạn chế mắc bệnh là rất cần thiết. Nhằm cung cấp bằng chứng và biện pháp ngăn ngừa mắc HCCH. Có thể giúp phần nào cho phụ nữ có cuộc sống khỏe mạnh, hạn chế tối đa bệnh mạn tính, góp phần vào cải thiện chất lƣợng cuộc sống ở tuổi già.
Do đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng mắc hội chứng chuyển hóa và một số yếu tố liên quan ở phụ nữ tiền mãn kinh khám tại Bệnh viện 30-4 thành phố Hồ Chí Minh, năm 2016”. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU MỤC TIÊU CỤ THỂ: 1- Xác định tỷ lệ hiện mắc hội chứng chuyển hóa: glucose, cholesterol total, high density lipoprotein - cholesterol, low density lipoprotein - cholesterol, triglycerid ở phụ nữ tiền mãn kinh đến khám tại Bệnh viện 30-4 thành phố Hồ Chí Minh, năm 2016. 2- Mô tả một số yếu tố liên quan đến mắc hội chứng chuyển hóa ở phụ nữ tiền mãn kinh khám tại Bệnh viện 30-4 thành phố Hồ Chí Minh, năm 2016. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
KHÁI QUÁT TIỀN MÃN KINH 1. Khái niệm tiền mãn kinh Tuổi mãn kinh là tuổi chấm dứt vĩnh viễn kinh nguyệt, tuy nhiên sự tắt kinh ít khi xảy ra đột ngột ở một thời điểm rõ ràng, mà thƣờng chỉ xảy ra sau một khoảng thời gian từ 2 đến 5 năm với những rối loạn kinh nguyệt. Giai đoạn này thƣờng đƣợc gọi là giai đoạn tiền mãn kinh. Đây là giai đoạn đặc trƣng của suy giảm hoặc thiếu progesteron [6].
Cơ chế tiền mãn kinh Nguồn gốc của mọi thay đổi trong thời kỳ tiền mãn kinh là do sự giảm đáp ứng của buồng trứng với các nội tiết tố hƣớng sinh dục (gonadotropin), dẫn đến những rối loạn trong sự trƣởng thành của noãn bào. Điều này sẽ đƣa đến những chu kỳ không rụng trứng hoặc rụng trứng khó khăn. Do đó, đầu tiên là lƣợng progesteron giảm, rồi đến lƣợt estrogen cũng giảm. Ngƣợc lại FSH (Follicle Stimulating Hormon) và LH (Luteinizing Hormon) lại tăng tiết, chủ yếu là FSH.
Đỉnh LH vắng dần. FSH sẽ lại càng tăng khi chất inhibin ức chế tiết từ tế bào hạt của buồng trứng, có tác dụng ngăn sự tổng hợp và phóng thích FSH giảm đi. Hậu quả của sự vắng dần những chu kỳ có rụng trứng và cơ chế phản hồi ngƣợc âm (negative feedback mechanism) đƣa đến tình trạng cƣờng estrogen tƣơng đối với nhiều biểu hiện lâm sàng [6]. KHÁI QUÁT VỀ HỘI CHỨNG CHUYỂN HÓA 1.
Định nghĩa Hội chứng chuyển hóa (HCCH) bao gồm một tập hợp các yếu tố nguy cơ tim mạch và rối loạn chuyển hóa. Các yếu tố thƣờng xuyên xuất hiện trong HCCH bao gồm: - Rối loạn dung nạp glucose. - Béo phì, ngày nay nhấn mạnh đến béo phì vùng bụng. - Rối loạn chuyển hóa lipid kiểu gây xơ vữa động mạch.
5 HCCH là một trong những vấn đề sức khỏe cộng đồng đƣợc quan tâm nhất trong thế kỷ XXI này. Theo Hiệp hội ĐTĐ quốc tế (IDF), HCCH là tập hợp những yếu tố nguy cơ của hai đại dịch lớn đó là bệnh tim mạch và ĐTĐ typ 2, ảnh hƣởng đến chất lƣợng sống con ngƣời và tốn kém đáng kể ngân sách y tế toàn dân của nhiều nƣớc trên thế giới [19]. - Theo tiêu chuẩn chẩn đoán HCCH của ATP III (theo NCEP) [8], mắc HCCH khi có 3 trong 5 yếu tố trình bày tại bảng 1. Tiêu chuẩn chẩn đoán HCCH của ATP III (theo NCEP) [8] Tăng glucose huyết tƣơng lúc đói >6,1mmol/L (>110mg/dL) Tăng triglycerid huyết tƣơng >1,7mmol/L (>150mg/dL) Giảm HDL-cholesterol: - Nam <1,0mmol/L (<40mg/dL) - Nữ <1,3mmol/L (<50mg/dL) >130/85mmHg hoặc bắt buộc phải Tăng huyết áp dùng thuốc hạ áp Béo phì trung tâm (béo bụng) - Vòng bụng nam >102cm - Vòng bụng nữ > 88cm 1.
Hậu quả của hội chứng chuyển hóa HCCH làm tăng nguy cơ bị bệnh lý tim mạch cũng nhƣ làm tăng tỷ lệ tử vong do nguyên nhân này. Các thành phần của HCCH đều là các yếu tố nguy cơ tim mạch, do đó HCCH đƣợc dự báo làm tăng tỷ lệ mắc các bệnh tim mạch cũng nhƣ các biến chứng nặng đe dọa đến tính mạng ngƣời bệnh. Các thành phần của HCCH thƣờng xuất hiện cùng với nhau, mỗi yếu tố nguy cơ đơn lẻ lại có tác động qua lại với nhau làm thúc đẩy nguy cơ chung của HCCH tăng lên một cách đáng kể. HCCH làm tăng tỷ lệ mắc bệnh tim mạch lên gấp 2 lần so với ngƣời không mắc HCCH.
Khi kết hợp với nhau các thành phần của HCCH có thể có tác dụng cộng hƣởng với nhau, chúng sẽ thúc đẩy tình trạng sinh xơ vữa rất mạnh dẫn đến hình thành và phát triển các mảng vữa xơ trong lòng mạch, từ đó gây nên những biến cố tim mạch, nhƣ béo phì làm tăng đề kháng insulin, ĐTĐ typ 2 và tăng huyết áp. Cả ĐTĐ typ 2 và 6 THA đều đƣợc biết là các yếu tố nguy cơ của bệnh ĐMV và quá trình xơ vữa động mạch nói chung. Mặc dù HCCH chỉ mới đƣợc đề cập trong thời gian gần đây nhƣng căn cứ theo những hậu quả và di chứng của nó đủ cho thấy vấn đề HCCH trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Một bệnh nhân mắc HCCH sẽ phải gánh chịu các bệnh lý về tim mạch và nội tiết nhƣ: THA, ĐTĐ.
Có ý kiến cho rằng HCCH đã chứa sẵn các yếu tố nguy cơ tim mạch nhƣ: THA, rối loạn chuyển hóa lipid theo kiểu xơ xữa động mạch. Gần đây các nghiên cứu, báo cáo nguy cơ tim mạch tăng từ 2 - 4 lần ở các bệnh nhân có HCCH theo tiêu chí của WHO, ngay cả khi không có ĐTĐ hoặc rối loạn dung nạp glucose. Nguy cơ tim mạch càng gia tăng nếu bệnh nhân mắc HCCH có ĐTĐ, không dừng lại ở các biến chứng về tim mạch nhƣ tai biến mạch máu não, đột quỵ. những bệnh nhân mắc HCCH sẽ có nguy cơ rất cao gặp phải các biến chứng đa cơ quan do bệnh lý ĐTĐ gây ra [17].
CÁC THÀNH TỐ CỦA HỘI CHỨNG CHUYỂN HÓA 1. Định nghĩa Béo phì đơn giản là sự tăng bất thƣờng hay quá nhiều mỡ trong mô mỡ, từ đó có thể gây ra những vấn đề về sức khỏe. Sự phân bố mỡ ở các vị trí giải phẫu khác nhau đóng vai trò trong nguy cơ gây ra các nhóm bệnh lý khác nhau do béo phì [8]. Chẩn đoán béo phì Có nhiều phƣơng pháp để chẩn đoán béo phì nhƣng ngƣời ta thƣờng dùng nhất là dựa vào chỉ số khối cơ thể là BMI (Body Mass Index) Trọng lƣợng cơ thể (tính bằng kg) BMI = ──────────────────────── Bình phƣơng chiều cao (tính bằng m²) Xác định chỉ số khối cơ thể theo tiêu chuẩn đánh giá béo phì của ASEAN áp dụng cho ngƣời Châu Á trƣởng thành [8].
Tiêu chuẩn chẩn đoán béo phì theo chỉ số BMI của ASEAN áp dụng cho ngƣời Châu Á trƣởng thành [40]. Phân loại BMI (kg/m2) Gầy < 18,5 Bình thƣờng 18,5 – 22,9 Có nguy cơ ≥ 23 – 24,9 Béo phì độ 1 25 - 29,9 Béo phì độ 2 ≥ 30 Đo vòng eo cũng là thông số hữu ích, trong chẩn đoán béo phì, chỉ số quan trọng là béo phì trung tâm chính là tỷ số vòng eo/vòng mông (VE/VM) đƣợc dùng hiện nay. Theo WHO những đối tƣợng có tỷ số VE/VM >0,85 ở nữ là béo phì bất kể BMI bằng bao nhiêu. Chỉ số BMI đánh giá khối lƣợng mỡ chung trong cơ thể, còn hai chỉ số kia đánh giá tình trạng béo trung tâm hay còn gọi là béo tạng, béo vùng bụng hay béo phì dạng nam.
Ngƣời ta nhận thấy có một sự tƣơng quan giữa béo phì dạng nam và phân bố mỡ trong phủ tạng. Theo tiêu chuẩn chẩn đoán của ATP III (NCEP), phân độ béo phì trung tâm [23]. Phân độ béo phì trung tâm (vòng eo) Béo phì trung tâm (vòng eo) Nam Nữ Có > 90 cm > 80 cm Không < 90 cm < 80 cm 1. Tăng huyết áp * Định nghĩa THA Theo tổ chức y tế thế giới, một ngƣời lớn có: - HA bình thƣờng: nếu HA động mạch tâm thu (HATT) <140mmHg và HA động mạch tâm trƣơng (HATTr) <90mmHg.
- THA: nếu HA động mạch tâm thu ≥140mmHg hoặc HA động mạch tâm trƣơng ≥ 90mmHg.