Tổng quan nghiên cứu

Dịch bệnh do vi rút Zika từng ghi nhận sự lưu hành tại 148 quốc gia và vùng lãnh thổ, thúc đẩy Tổ chức Y tế Thế giới công bố tình trạng khẩn cấp y tế công cộng quốc tế vào đầu năm 2016. Tại Việt Nam, tính đến tháng 3 năm 2017 đã ghi nhận 231 trường hợp dương tính tại 12 tỉnh, thành phố. Trong đó, phường Phước Hòa, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa là địa bàn đầu tiên của cả nước phát hiện ca nhiễm vi rút Zika vào tháng 3 năm 2016, nâng tổng số ca mắc của toàn tỉnh lên 7 ca. Bệnh truyền nhiễm cấp tính này đặc biệt nguy hiểm đối với phụ nữ mang thai do nguy cơ gây ra hội chứng teo não, tật đầu nhỏ ở thai nhi và hội chứng viêm đa rễ dây thần kinh Guillain-Barré ở người trưởng thành.

Trước bối cảnh chưa có vắc xin và thuốc điều trị đặc hiệu, đề tài luận văn thạc sĩ y tế công cộng của tác giả Nguyễn Hiến tập trung giải quyết vấn đề cấp bách: Đánh giá thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành và xác định các yếu tố liên quan đến phòng chống vi rút Zika ở phụ nữ trong độ tuổi sinh sản từ 18 đến 40 tuổi tại phường Phước Hòa năm 2017.

Nghiên cứu được triển khai trên 400 phụ nữ đại diện cho 1.885 người thuộc nhóm tuổi sinh sản tại địa bàn. Kết quả ghi nhận tỷ lệ kiến thức chung đạt là 55,7%, tỷ lệ thái độ tích cực đạt 41,0% và tỷ lệ thực hành chung đạt 45,0%. Những chỉ số định lượng này cung cấp cơ sở dịch tễ học thực chứng để ngành y tế dự phòng địa phương thiết kế các chiến dịch truyền thông can thiệp hành vi có trọng tâm, bảo vệ trực tiếp sức khỏe bà mẹ và sự phát triển toàn diện của trẻ sơ sinh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng trên mô hình lý thuyết Kiến thức - Thái độ - Thực hành (KAP) do Tổ chức Y tế Thế giới chuẩn hóa vào tháng 4 năm 2016, kết hợp cùng mô hình dịch tễ học bệnh truyền nhiễm do véc-tơ truyền của chi Flavivirus. Khung lý thuyết phân tích mối quan hệ tương tác giữa đặc điểm nhân khẩu học (tuổi tác, học vấn, nghề nghiệp, tình trạng thai nghén), nguồn tiếp nhận thông tin, các can thiệp của chính quyền với ba trụ cột hành vi sức khỏe của người dân.

Các khái niệm chuyên ngành cốt lõi được định nghĩa chuẩn xác trong nghiên cứu bao gồm:

  • Vi rút Zika: Vi rút ARN thuộc chi Flavivirus, lây truyền chủ yếu qua muỗi Aedes aegypti, lây truyền qua quan hệ tình dục, đường truyền máu và truyền dọc từ mẹ sang con.
  • Hội chứng đầu nhỏ ở thai nhi và trẻ sơ sinh: Tình trạng kích thước vòng đầu đo được trong 24 giờ sau sinh hoặc qua siêu âm thai nhỏ hơn 2 độ lệch chuẩn (-2SD) so với giá trị trung bình theo tuổi thai và giới tính, gây tổn thương não bộ vĩnh viễn.
  • Hội chứng Guillain-Barré: Bệnh lý viêm đa rễ dây thần kinh cấp tính ảnh hưởng đến hệ thần kinh ngoại biên, gây yếu và liệt cơ tiến triển lan dần toàn thân.
  • Kiểm soát véc-tơ và tình dục an toàn: Các biện pháp cắt đứt đường lây truyền thông qua diệt lăng quăng, bọ gậy, loại bỏ ổ đọng nước, ngủ màn và sử dụng bao cao su thường xuyên.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng thiết kế mô tả cắt ngang có phân tích.

Cỡ mẫu được tính toán theo công thức ước lượng một tỷ lệ trong quần thể với độ tin cậy 95%, mức sai số tuyệt đối cho phép d = 0,05, giả định tỷ lệ p = 0,5 để đạt cỡ mẫu cực đại là 385 đối tượng; thực tế nghiên cứu đã thu thập đầy đủ 400 phụ nữ.

Quy trình chọn mẫu sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống qua 2 giai đoạn. Giai đoạn 1 lập khung mẫu gồm danh sách 1.885 phụ nữ từ 18 đến 40 tuổi tại 6 tổ dân phố thuộc phường Phước Hòa. Giai đoạn 2 tính khoảng cách mẫu k = 5, chọn ngẫu nhiên đối tượng đầu tiên và lấy tuần tự các đối tượng tiếp theo theo bước nhảy k cho đến khi đủ 400 người. Phương pháp này đảm bảo tính ngẫu nhiên cao, phân bổ đều khắp địa bàn và hạn chế tối đa sai số chọn mẫu.

Công cụ thu thập dữ liệu là bộ câu hỏi cấu trúc phát triển từ ngân hàng câu hỏi chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới, đã được Việt hóa và điều tra thử nghiệm trên 10 phụ nữ tại phường Phước Tân lân cận nhằm hoàn thiện ngôn ngữ. Nghiên cứu viên tiến hành phỏng vấn trực tiếp tại hộ gia đình.

Dữ liệu được làm sạch, nhập bằng phần mềm EpiData 3.1 và phân tích trên phần mềm SPSS 22. Nghiên cứu sử dụng các thuật toán thống kê mô tả (tần số, tỷ lệ phần trăm) và thống kê phân tích suy luận: kiểm định Khi bình phương (p < 0,05) để so sánh sự khác biệt giữa các nhóm và tính tỷ suất chênh Odds Ratio (OR) kèm khoảng tin cậy 95% nhằm xác định mức độ tác động của các yếu tố liên quan. Quá trình nghiên cứu được Hội đồng Đạo đức Trường Đại học Y tế Công cộng xét duyệt theo Quyết định số 118/2017/YTCC-HD3 vào tháng 3 năm 2017.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát 400 phụ nữ ghi nhận các nhóm tuổi phân bố đồng đều: nhóm 30-34 tuổi chiếm 32,3%, 35-40 tuổi chiếm 29,8%, 25-29 tuổi chiếm 26,8% và 18-24 tuổi chiếm 11,3%. Về học vấn, 42,8% có trình độ từ cao đẳng trở lên và 30,8% tốt nghiệp trung học phổ thông. Nhóm công chức, viên chức chiếm 30,0%, lao động tự do chiếm 20,0% và có 3,8% phụ nữ đang mang thai.

Thứ nhất, về kiến thức phòng bệnh: Có 55,7% đối tượng đạt mức kiến thức chung. Đa số phụ nữ nhận biết chính xác đường lây qua muỗi đốt với tỷ lệ 84,0% và 83,8% biết các biện pháp phòng ngừa muỗi đốt. Ngược lại, kiến thức về các đường lây truyền khác còn rất hạn chế: chỉ 21,3% biết vi rút lây qua quan hệ tình dục, 34,5% biết lây qua đường máu và 43,8% biết lây từ mẹ sang con. Đáng chú ý, chỉ 11,5% nhận thức được việc sử dụng bao cao su giúp ngăn ngừa vi rút Zika. Mặc dù 76,5% từng nghe về dị tật đầu nhỏ và 64,4% biết vi rút gây ra dị tật này, chỉ có 12,5% từng nghe và 11,0% biết vi rút Zika gây hội chứng Guillain-Barré.

Thứ hai, về thái độ phòng bệnh: Tỷ lệ phụ nữ có thái độ tích cực đạt 41,0%. Có 78,8% người tham gia nhận thức rõ trách nhiệm phòng ngừa của bản thân và 64,8% ghi nhận trách nhiệm của chính quyền địa phương. Khi xuất hiện triệu chứng nghi ngờ, 70,8% ưu tiên chọn Bệnh viện Bệnh nhiệt đới tỉnh Khánh Hòa và 63,3% chọn Bệnh viện Đa khoa tỉnh, trong khi chỉ 12,5% lựa chọn Trạm Y tế phường. Ngoài ra, 71,5% đối tượng thể hiện thái độ chắc chắn sẽ tiêm vắc xin nếu có và 90,8% đồng ý thực hiện xét nghiệm tầm soát khi mang thai.

Thứ ba, về thực hành phòng bệnh: Có 45,0% đối tượng đạt tiêu chuẩn thực hành chung. Các biện pháp kiểm soát véc-tơ được tuân thủ tương đối tốt: 67,5% ngủ màn cả ngày lẫn đêm, 61,0% diệt lăng quăng bọ gậy, 64,8% súc rửa dụng cụ chứa nước và 76,3% đồng ý phun hóa chất diệt muỗi. Tuy nhiên, thực hành phòng tránh lây nhiễm qua đường tình dục ở mức rất thấp khi chỉ có 10,5% sử dụng bao cao su và 4,5% áp dụng các biện pháp kế hoạch hóa gia đình để phòng bệnh. Rào cản lớn nhất khi thực hiện phòng bệnh là thiếu thời gian (41,5%) và thiếu nguồn lực kinh phí (15,0%).

Thứ tư, về các yếu tố liên quan: Phân tích suy luận khẳng định kiến thức có tác động mang tính quyết định đến thái độ và hành động. Phụ nữ có kiến thức đạt sở hữu thái độ tích cực cao gấp 4,2 lần so với nhóm chưa đạt (OR = 4,2; khoảng tin cậy 95%: 2,76 - 6,66). Đặc biệt, nhóm có kiến thức đạt có mức độ thực hành đúng cao gấp 6 lần nhóm có kiến thức chưa đạt (OR = 6,0; khoảng tin cậy 95%: 3,84 - 9,37). Các biến số như độ tuổi, học vấn và nghề nghiệp cũng cho thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê với thái độ và thực hành của đối tượng.

Thảo luận kết quả

Khoảng trống lớn trong nhận thức của người dân về đường lây truyền qua quan hệ tình dục (chỉ 21,3%) và nguy cơ hội chứng Guillain-Barré (11,0%) phản ánh tính chất một chiều của các chiến dịch truyền thông trước đó. Do vi rút Zika có chung véc-tơ truyền bệnh với sốt xuất huyết Dengue, các thông điệp truyền thông tại địa phương chủ yếu tập trung vào việc diệt muỗi, bọ gậy mà vô tình bỏ sót cảnh báo về tình dục an toàn và biến chứng thần kinh.

Khi so sánh với các quốc gia Nam Mỹ, tỷ lệ nhận biết lây truyền qua đường tình dục của phụ nữ tại Phước Hòa (21,3%) cao hơn đáng kể so với Guatemala (5%), Dominica (dưới 4%) và Brazil (dưới 6%). Tuy nhiên, tỷ lệ thực hành sử dụng bao cao su để phòng ngừa của địa bàn nghiên cứu (10,5%) vẫn ở mức rất thấp do định kiến xã hội và tâm lý e ngại.

Dữ liệu nghiên cứu khi biểu diễn qua các bảng tương quan chéo và biểu đồ tỷ lệ phễu nhận thức đã minh chứng rõ quy luật: từ nhận thức đúng (55,7%) chuyển hóa sang thái độ tích cực (41,0%) và chuyển tiếp thành thực hành đạt chuẩn (45,0%) có sự sụt giảm qua từng mắt xích. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ tâm lý chủ quan khi dịch bệnh chưa bùng phát diện rộng và xu hướng người dân phụ thuộc vào các bệnh viện tuyến tỉnh hơn là trạm y tế cơ sở.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Tái cơ cấu và đa dạng hóa thông điệp truyền thông: Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Khánh Hòa và Trạm Y tế phường Phước Hòa cần thiết kế lại nội dung tuyên truyền, bổ sung trọng tâm về con đường lây truyền qua quan hệ tình dục và nguy cơ dị tật đầu nhỏ ở thai nhi. Đặt mục tiêu nâng tỷ lệ nhận biết đường lây tình dục từ 21,3% lên 80% trong 6 tháng đầu năm 2018 thông qua truyền hình (kênh tiếp cận 66,6%) và mạng xã hội.

  2. Nâng cao năng lực chuyên môn cho Trạm Y tế cơ sở: Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa tổ chức đào tạo, cập nhật phác đồ giám sát dịch tễ vi rút Zika cho 100% cán bộ trạm y tế và cộng tác viên dân số trước quý 2 năm 2018. Mục tiêu nâng tỷ lệ phụ nữ tin tưởng lựa chọn khám, tư vấn ban đầu tại trạm y tế từ 12,5% lên 50% vào cuối năm 2018.

  3. Thiết lập mạng lưới theo dõi và sàng lọc trước sinh: Khoa Chăm sóc sức khỏe sinh sản tuyến tỉnh phối hợp với y tế phường triển khai quy trình theo dõi định kỳ siêu âm 3-4 tuần một lần cho 100% phụ nữ mang thai trong vùng nguy cơ. Cung cấp miễn phí xét nghiệm huyết thanh và sinh học phân tử cho các ca nghi nhiễm từ quý 1 năm 2018.

  4. Duy trì chiến dịch vệ sinh môi trường liên ngành: Ủy ban nhân dân phường Phước Hòa chủ trì phối hợp với Hội Phụ nữ và Đoàn Thanh niên phát động phong trào diệt bọ gậy, dọn dẹp phế thải đọng nước định kỳ 2 tuần một lần. Phấn đấu duy trì chỉ số Breteau (BI) luôn dưới mức 20 và nâng tỷ lệ thực hành phòng chống véc-tơ đạt chuẩn từ 45% lên 85% trong năm 2018.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Nhà quản lý và hoạch định chính sách y tế công cộng: Tài liệu cung cấp số liệu thực chứng về ổ dịch nguyên phát tại Việt Nam, hỗ trợ xây dựng chính sách phòng chống dịch bệnh truyền nhiễm mới nổi và phân bổ ngân sách dự phòng hợp lý.

  2. Cán bộ y tế dự phòng và nhân viên y tế cơ sở: Nghiên cứu cung cấp khung câu hỏi chuẩn hóa của Tổ chức Y tế Thế giới và kỹ năng đánh giá nhanh chỉ số KAP cộng đồng, ứng dụng trực tiếp vào công tác truyền thông giáo dục sức khỏe tại xã, phường.

  3. Học viên sau đại học và nhà nghiên cứu dịch tễ học: Đề tài là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống hai giai đoạn, kỹ thuật kiểm soát sai số và quy trình phân tích thống kê định lượng đo lường tỷ suất chênh OR trên phần mềm chuyên dụng.

  4. Các tổ chức phi chính phủ và cơ quan truyền thông sức khỏe: Cung cấp góc nhìn thực tế về hành vi tiếp cận thông tin của phụ nữ trong độ tuổi sinh sản, giúp tối ưu hóa chiến lược truyền thông thay đổi hành vi xã hội (SBCC).

Câu hỏi thường gặp

Vi rút Zika lây truyền qua những phương thức nào theo kết quả nghiên cứu? Vi rút lây truyền chủ yếu qua vết đốt của muỗi Aedes aegypti (84,0% đối tượng nhận biết đúng). Ngoài ra, vi rút còn lây qua đường quan hệ tình dục không an toàn (21,3%), đường truyền máu (34,5%) và lây truyền dọc từ mẹ sang thai nhi (43,8%), có thể gây tổn thương nghiêm trọng đến hệ thần kinh của thai nhi.

Vì sao phụ nữ từ 18 đến 40 tuổi là đối tượng đích trọng điểm của nghiên cứu? Đây là nhóm tuổi sinh sản chịu ảnh hưởng nặng nề nhất bởi biến chứng teo não và dị tật đầu nhỏ ở thai nhi khi người mẹ nhiễm vi rút trong thai kỳ (75,0% đối tượng biết về nguy cơ này). Việc bảo đảm kiến thức và thực hành đúng cho nhóm phụ nữ này mang tính chất quyết định đối với chất lượng dân số.

Mức độ hiểu biết ảnh hưởng như thế nào đến hành vi thực hành phòng bệnh? Phân tích thống kê chứng minh mối liên hệ nhân quả rất chặt chẽ: những phụ nữ có kiến thức đạt có khả năng thực hành các biện pháp phòng bệnh đúng cao gấp 6 lần so với nhóm có kiến thức chưa đạt (OR = 6,0; khoảng tin cậy 95%: 3,84 - 9,37).

Những rào cản chính khiến người dân chưa đạt thực hành phòng bệnh là gì? Dù 46,8% phụ nữ không gặp trở ngại, có đến 41,5% đối tượng cho biết thiếu thời gian để thường xuyên súc rửa dụng cụ chứa nước và 15,0% thiếu kinh phí trang bị lưới chống muỗi, hóa chất diệt côn trùng; bên cạnh rào cản tâm lý e ngại sử dụng bao cao su trong sinh hoạt vợ chồng.

Tại sao người dân ít lựa chọn Trạm Y tế phường khi nghi ngờ mắc bệnh? Có đến 70,8% phụ nữ chọn bệnh viện nhiệt đới và 63,3% chọn bệnh viện đa khoa tỉnh do tâm lý lo ngại biến chứng nặng và mong muốn được xét nghiệm kỹ thuật cao. Trạm y tế phường chỉ đạt 12,5% lựa chọn do hạn chế về phương tiện chẩn đoán xác định vi rút.

Kết luận

  • Luận văn đã phác thảo toàn diện bức tranh dịch tễ học hành vi tại ổ dịch vi rút Zika đầu tiên của Việt Nam với mẫu nghiên cứu 400 phụ nữ trong độ tuổi sinh sản.
  • Xác lập các chỉ số định lượng cốt lõi: tỷ lệ kiến thức chung đạt 55,7%, thái độ tích cực đạt 41,0% và thực hành đạt yêu cầu đạt 45,0%.
  • Phát hiện khoảng trống truyền thông nghiêm trọng về con đường lây truyền qua quan hệ tình dục (21,3%) và biến chứng thần kinh Guillain-Barré (11,0%).
  • Cung cấp bằng chứng khoa học khẳng định vai trò quyết định của kiến thức đối với hành vi thực hành phòng bệnh thực tế (OR = 6,0).
  • Đưa ra hệ thống 4 giải pháp can thiệp liên ngành toàn diện, kết hợp chặt chẽ giữa đổi mới truyền thông, củng cố y tế cơ sở và giám sát tiền sản.

Các đơn vị y tế dự phòng và chính quyền địa phương cần khẩn trương đưa các khuyến nghị vào kế hoạch hành động giai đoạn 2018-2020, định kỳ đánh giá hiệu quả can thiệp sau 12 tháng. Luận văn là tài liệu khoa học thiết thực kêu gọi cộng đồng và các nhà hoạch định chính sách chủ động chuyển đổi nhận thức thành hành động thực tế nhằm đẩy lùi nguy cơ bùng phát dịch bệnh truyền nhiễm mới nổi.