CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm dùng trong nghiên cứu 1. Khái niệm về vi rút Zika Vi rút Zika là một vi rút ARN (arbovirus) thuộc chi Flavivirus, họ Flaviviridae, loài Zika vi rút, được phân lập lần đầu tiên từ một con khỉ Rhesus trong rừng Zika của Uganda vào năm 1947. Vi rút Zika lây truyền chủ yếu qua vết cắn của muỗi Aedes aegypti bị nhiễm.
Ngoài ra vi rút Zika còn lây qua đường tình dục, từ mẹ sang con và qua truyền máu [33] 1. Định nghĩa hội chứng đầu nhỏ ở thai nhi Hội chứng đầu nhỏ ở thai nhi là một tình trạng trong đó đầu thai nhi nhỏ hơn đáng kể so với tuổi thai và giới tính, có thể liên quan đến sự phát triển não bất thường. Nghi ngờ thai nhi có hội chứng đầu nhỏ nếu kích thước vòng đầu đo được nhỏ hơn số đo trung bình trừ đi 2 độ lệch chuẩn (-2SD) so với tuổi thai [5]. Hội chứng đầu nhỏ ở trẻ sơ sinh Hội chứng đầu nhỏ ở trẻ sơ sinh là tình trạng trẻ sơ sinh có kích thước vòng đầu đo được trong vòng 24 giờ sau sinh nhỏ hơn trung bình trừ đi 2 độ lệch chuẩn (-2SD) theo tuổi và giới tính [5].
Hội chứng Guillain- Barré Hội chứng Guillain- Barré là một bệnh viêm đa dây thần kinh cấp, một rối loạn ảnh hưởng đến hệ thần kinh ngoại biên biểu hiện các triệu chứng điển hình: bàn chân và bàn tay yếu và liệt dần sau đó lan dần toàn thân [31].2 Tổng quan về vi rút Zika Tên của vi rút lấy tên từ khu rừng Zia, gần hồ Victoria ở Uganda nơi đầu tiên phân lập vào năm 1947. Vi rút Zika lây truyền cho người qua véc tơ trung gian là muỗi Aedes aegypti. Muỗi này đốt người, hút máu ban ngày cao điểm vào buổi sáng sớm và chiều tối [33]. Vi rút Zika cũng có thể lây truyền qua một số con đường khác như đường tình dục, truyền từ mẹ sang con, truyền máu [33].
Thời gian ủ bệnh của bệnh do vi rút Zika không rõ ràng, nhưng có thể vài ngày. Triệu chứng có thể gồm sốt nhức 5 đầu, mắt đỏ viêm kết mạc, ngứa có ban dát sẫm trên da, viêm khớp (đặc biệt là các khớp nhỏ ở bàn tay và bàn chân). Các triệu chứng này thường nhẹ và kéo dài từ 2 đến 7 ngày [9] [33]. Việc chẩn đoán dựa vào triệu chứng lâm sàng cũng như yếu tố dịch tễ, nhưng để chẩn đoán xác định cần dựa vào phân lập vi rút Zika hoặc xác định đoạn gen đặc hiệu của vi rút Zika bằng kỹ thuật sinh học phân tử và xác định kháng thể IgM kháng vi rút Zika và hiệu giá kháng thể trung hòa (PRN) với vi rút Zika ≥ 20 và cao gấp 4 lần hoặc so với nồng độ vi rút Flavi khác, đồng thời loại trừ loại vi rút Flavi khác [9].
Hiện chưa có thuốc điều trị đặc hiệu vi rút Zika và chưa có vắc xin phòng bệnh, nên các biện pháp điều trị hiện nay chủ yếu là điều trị triệu chứng. Người bệnh cần nghỉ ngơi, bù dịch bằng cách uống nhiều nước để chống mất nước. Dùng các thuốc hạ sốt, giảm đau như paracetamol. Không dùng aspirin và các thuốc chống viêm không steroid khác như ibuprofen hoặc naproxen như những bệnh khác.
Hiện chưa có thuốc điều trị đặc hiệu vi rút Zika và chưa có vắc xin phòng bệnh, việc phòng chống lây nhiễm chủ yếu thông qua các biện pháp kiểm soát véc tơ truyền bệnh [33]. Khi vi rút Zika xâm nhập vào cơ thể, nó có thể gây ra các hội chứng chứng rối loạn thần kinh, gồm teo não ở trẻ sơ sinh và hội chứng làm liệt hệ thần kinh ở người lớn (thường gọi là GBS) [32]. Cần theo dõi các biểu hiện yếu, liệt cơ sau khi bị bệnh để phát hiện, xử trí sớm GBS nếu có, theo dõi phụ nữ có thai và trẻ sơ sinh bị nhiễm vi rút Zika. Phụ nữ có thai nghi ngờ hoặc xác định bị nhiễm vi rút Zika cần được theo dõi siêu âm thai mỗi 3-4 tuần một lần để phát hiện sớm tình trạng dị tật đầu nhỏ hoặc vôi hóa não ở thai nhi.
Phụ nữ có thai trên 15 tuần bị nhiễm vi rút Zika có thể chỉ định chọc ối làm xét nghiệm RT-PCR hoặc lấy máu dây rốn ngay sau cuộc đẻ để xét nghiệm huyết thanh. Trẻ bị dị tật đầu nhỏ hoặc có tiền sử mẹ nhiễm vi rút Zika khi mang thai cần được theo dõi sự phát triển về tinh thần - vận động, đánh giá thị lực và điều trị các rối loạn như co giật, động kinh [33]. Biện pháp phòng lây truyền của vi rút Zika 1.1 Phòng lây truyền qua đường muỗi đốt Muỗi và nơi sinh sản của chúng là một yếu tố nguy cơ quan trọng đối với nhiễm vi rút Zika. Phòng ngừa và kiểm soát dựa trên việc giảm muỗi.
Tại vùng có dịch cần 6 triển khai các biện pháp diệt muỗi trưởng thành, diệt bọ gậy như: vệ sinh môi trường, loại bỏ các vật dụng đọng nước như các mảnh vỡ chai lọ, lốp xe, vỏ lon, vũng nước đọng. Đậy kín các chum, vại, bể chứa nước để phòng muỗi Aedes đẻ trứng, thả cá để diệt loăng quăng. Diệt muỗi bằng bẫy, vợt. Mọi cá nhân trong vùng dịch nên áp dụng các biện pháp hạn chế muỗi đốt như: mặc quần áo kín, sáng màu, dùng các thuốc xua đuổi côn trùng, nằm màn.
Những nguyên tắc này cũng áp dụng đối với những người đã bị nhiễm bệnh nhằm tránh nguy cơ lây nhiễm cho người khác. Sử dụng hóa chất diệt côn trùng trong danh mục của Bộ Y tế ban hành, theo hướng dẫn trên nhãn sản phẩm phải được thực hiện nghiêm túc [3] [4]. Đặc biệt chú ý và giúp đỡ cho những người ít có khả năng tự bảo vệ mình đầy đủ, chẳng hạn như trẻ em, người ốm hoặc người già. Trong thời gian dịch Zika bùng phát, cơ quan Y tế cần tổ chức để phun hóa chất diệt muỗi.
Khuyến cáo người dân không nên đi du lịch đến các vùng đang có dịch bệnh Zika để tránh lây lan bệnh [33]. Phòng tránh vi rút Zika lây qua đường tình dục Tất cả những người đã bị nhiễm vi rút Zika khi sinh hoạt tình dục với bạn tình nên thực hành tình dục an toàn bằng cách sử dụng bao cao su đúng cách và nhất quán. Bạn tình của phụ nữ mang thai sống trong vùng dịch hoặc trở về từ những nơi có dịch bệnh do vi rút Zika lưu hành nên thực hành tình dục an toàn, mang bao cao su, hoặc kiêng quan hệ tình dục trong suốt thai kỳ. Người dân sống trong khu vực có lan truyền dịch bệnh do vi rút Zika nên thực hành tình dục an toàn.
Ngoài ra, những người trở về từ các vùng dịch nên áp dụng thực hành tình dục an toàn hơn hoặc xem xét kiêng quan hệ tình dục ít nhất 4 tuần sau khi họ trở về để làm giảm nguy cơ lây truyền [33]. Phòng tránh lây nhiễm vi rút Zika cho thai nhi Phụ nữ đang mang thai hoặc dự định có thai không nên đi đến vùng dịch khi không thực sự cần thiết. Nếu phụ nữ đang mang thai sống trong vùng dịch vi rút Zika lưu hành hoặc đi du lịch từ vùng có dịch Zika đang hoạt động, khi quan hệ tình dục phải luôn sử dụng bao cao su hoặc kiêng quan hệ tình dục trong suốt thai kỳ. Ngành y tế cần tổ chức giám sát, lấy mẫu xét nghiệm phát hiện sớm các trường hợp nhiễm vi rút Zika, đặc biệt với nhóm phụ nữ mang thai, triển khai giám sát dựa vào sự kiện để phát hiện sớm trường hợp mắc bệnh do vi rút Zika, trẻ đẻ ra có tật đầu 7 nhỏ và các trường hợp mắc hội chứng viêm đa rễ thần kinh để kịp thời khoanh vùng và xử lý triệt để.
Tăng cường khám sàng lọc trước sinh, vận động phụ nữ mang thai đi khám và siêu âm thai định kỳ, xét nghiệm khẳng định và tư vấn xử trí cho phụ nữ mang thai nghi nhiễm vi rút Zika hoặc có thai nhi nghi đầu nhỏ. Mặc dù đã phát hiện ARN của vi rút Zika trong sữa nhưng chưa có bằng chứng lây truyền vi rút Zika qua nuôi con bằng sữa mẹ nên chưa có khuyến cáo kiêng cho con bú trong khi mẹ nghi ngờ hoặc xác định bị nhiễm vi rút Zika [33]. Đặc điểm dịch tễ học bệnh do vi rút Zika 1.1 Đặc điểm dịch tễ học do vi rút Zika trên thế giới Vi rút Zika đã được phát hiện thông qua chương trình kiểm soát bệnh sốt vàng. Các vụ dịch do vi rút Zika cũng được ghi nhận tại châu Phi, châu Mỹ, châu Á và Thái Bình Dương.
Từ những năm 1960 đến những năm 1980, nhiễm vi rút Zika ở người được tìm thấy từ ở châu Phi cho đến châu Á với những biểu hiện bệnh rất nhẹ. Vụ dịch lớn do vi rút Zika đầu tiên bùng nổ tại Yap, liên bang Micronesia năm 2007. Tháng 7/2015, Brazil báo cáo có mối liên quan giữa nhiễm vi rút Zika và hội chứng Guillain-Barré. Tháng 10/2015, tiếp tục có báo cáo về mối liên quan giữa nhiễm vi rút Zika và hội chứng trẻ sơ sinh có đầu nhỏ [28].
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và Trung tâm Kiểm soát dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC), tình hình dịch bệnh do vi rút Zika vẫn diễn biến phức tạp. Đến 3/2017 đã có 148 quốc gia và vùng lãnh thổ ghi nhận có sự lưu hành hoặc lây truyền vi rút Zika, trong đó có 48 quốc gia ở châu Mỹ, 23 quốc gia ở châu Á, 7 quốc gia ở châu Âu và 3 quốc gia ở châu Phi. Có 13 quốc gia ghi nhận trường hợp nhiễm từ người sang người, 29 quốc gia và vùng lãnh thổ báo cáo ghi nhận trẻ mắc chứng đầu nhỏ có liên quan đến vi rút Zika, 20 quốc gia và vùng lãnh thổ báo cáo gia tăng hội chứng viêm đa rễ thần kinh. Ngày 01/2/2016, WHO tuyên bố sự gia tăng các ca dị tật bẩm sinh nghiêm trọng tại Nam Mỹ có khả năng do vi rút Zika gây ra và coi đây là yếu tố đủ để cấu thành tình trạng khẩn cấp toàn cầu về y tế.
Ở Brazil, cho đến nay thì quốc gia này đang bị ảnh hưởng nặng nề nhất với 1.701 trường hợp nhiễm vi rút Zika. Sau Brazil, Colombia có 20.297 trường hợp nhiễm vi rút Zika trong khoảng thời gian từ tháng 10/2015 đến tháng 1/2016 [33]. 8 Ngày 08/3/2016, WHO tiếp tục khẳng định tình trạng dịch bệnh do vi rút Zika hiện nay là sự kiện y tế công cộng (YTCC) khẩn cấp, gây quan ngại quốc tế và cho rằng sự lan truyền của vi rút Zika sẽ tiếp tục mở rộng trong thời gian tới.