Tổng quan luận án
Xơ gan là bệnh lý phổ biến trên toàn cầu, là vấn đề sức khỏe cộng đồng nghiêm trọng và là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong trong các bệnh lý nội khoa. Theo số liệu của Trung tâm Dự phòng và Kiểm soát Bệnh tật Hoa Kỳ (CDC) năm 1998, xơ gan là nguyên nhân tử vong đứng hàng thứ 10, chiếm 1,1% tổng số ca tử vong. Quá trình tổn thương tế bào gan mạn tính đi kèm sự phát triển lan tỏa của tổ chức xơ và các nốt tân tạo làm đảo lộn cấu trúc tiểu thùy gan, dẫn đến suy giảm chức năng gan, tăng áp lực tĩnh mạch cửa và gây biến chứng trên nhiều hệ cơ quan như bệnh não gan, hội chứng gan thận, hội chứng gan phổi và xuất huyết tiêu hóa do vỡ giãn tĩnh mạch.
Bên cạnh các biến chứng truyền thống, ảnh hưởng bất lợi của xơ gan lên hệ tim mạch đã được ghi nhận từ năm 1953 bởi Kowalski H. và sau đó được xác lập chính thức thành hội chứng bệnh cơ tim do xơ gan (cirrhotic cardiomyopathy) tại Hội nghị Tiêu hóa Thế giới ở Montreal năm 2005. Bệnh cơ tim do xơ gan giữ vai trò trọng yếu trong cơ chế giữ muối nước, hình thành hội chứng gan thận, hội chứng gan phổi và là nguyên nhân gây tử vong đáng kể. Đặc biệt, các bất thường tim mạch tiềm tàng này thường bộc lộ trầm trọng sau các thủ thuật can thiệp giảm áp như tạo shunt cửa - chủ trong gan qua đường tĩnh mạch cảnh (TIPS) hoặc phẫu thuật ghép gan, trong đó nguyên nhân tim mạch chiếm khoảng 7 - 15% tổng số ca tử vong sau ghép. Tại Việt Nam, nhiều tiến bộ can thiệp như TIPS và ghép gan đã được triển khai, song những biến đổi hình thái và chức năng tim ở bệnh nhân xơ gan giai đoạn mất bù vẫn chưa được quan tâm nghiên cứu đầy đủ; trước đó mới chỉ có các khảo sát bước đầu về áp lực động mạch phổi và hội chứng gan phổi.
Xuất phát từ khoảng trống thực tiễn đó, luận án tiến sĩ y học của nghiên cứu sinh Dương Quang Huy, chuyên ngành Nội tiêu hóa (mã số 62.43), thực hiện tại Học viện Quân y dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Hoàng Đình Anh (cùng sự chỉ dẫn chuyên môn của PGS. Trần Việt Tú), tập trung giải quyết 2 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Nhận xét một số triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng, hình thái và chức năng tim bằng siêu âm ở bệnh nhân xơ gan Child-Pugh B/C.
- Xác định mối liên quan giữa một số thông số hình thái và chức năng tim với một số triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng ở bệnh nhân xơ gan Child-Pugh B/C.
- Đối tượng nghiên cứu: Bệnh nhân được chẩn đoán xơ gan mất bù phân loại theo Child-Pugh mức độ B và C; nhóm đối chứng gồm người tình nguyện khỏe mạnh, không mắc bệnh lý gan mật hay tim mạch, có sự tương đồng về độ tuổi và phân bố giới tính.
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu được triển khai tại Bộ môn - Khoa Nội tiêu hóa, Bộ môn Chẩn đoán chức năng và Khoa Tim mạch thuộc Bệnh viện Quân y 103, Học viện Quân y.
- Phạm vi thời gian: Công trình luận án được hoàn thành, nghiệm thu và bảo vệ vào tháng 10 năm 2015.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu của luận án hệ thống hóa các hướng nghiên cứu kinh điển và cập nhật trên thế giới về xơ gan cùng những biến đổi tim mạch kèm theo:
-
Dịch tễ học và lịch sử tự nhiên của xơ gan: Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ước tính khoảng 10% dân số toàn cầu mắc bệnh gan mạn tính, trong đó 20 triệu người bị xơ gan hoặc ung thư gan. Căn nguyên xơ gan chủ yếu do lạm dụng rượu và nhiễm virus viêm gan B (HBV), C (HCV), trong đó tổng hợp 43 nghiên cứu thế giới của Perz J.F. và cộng sự cho thấy virus viêm gan chiếm 57% căn nguyên (30% do HBV, 27% do HCV). Về diễn tiến tự nhiên, D'Amico G. (2006) kết hợp dữ liệu từ 1.649 bệnh nhân đã phân chia xơ gan thành 4 giai đoạn lâm sàng: Giai đoạn 1 (không giãn tĩnh mạch thực quản, không cổ trướng, tử vong 1%/năm); Giai đoạn 2 (có giãn tĩnh mạch thực quản, chưa có cổ trướng, tử vong 3,4%/năm); Giai đoạn 3 (xuất hiện cổ trướng, tử vong khoảng 20%/năm); Giai đoạn 4 (xuất huyết tiêu hóa do vỡ giãn tĩnh mạch thực quản, tử vong 57%/năm).
-
Biến đổi tim mạch và bệnh cơ tim do xơ gan: Khởi đầu từ phát hiện của Kowalski H. (1953) về tuần hoàn tăng động ở bệnh nhân xơ gan rượu, hàng loạt nghiên cứu thực nghiệm và lâm sàng sau đó của Day P. và cộng sự (1993), Mohamed R. đã xác định kéo dài khoảng QTc trên điện tâm đồ xuất hiện ở 40 - 60% bệnh nhân, liên quan đến suy giảm chức năng các kênh ion Kali qua màng tế bào cơ tim theo nghiên cứu của Ward C. và cộng sự (1997). Về chức năng co bóp tâm thu lúc gắng sức, Gould L. và cộng sự (1969), Wong F. và cộng sự (2001) chứng minh phản ứng cơ tim suy giảm khi gắng sức thể lực; Mikulic E. và cộng sự (1983), Kim M. và cộng sự (2010) ghi nhận đáp ứng co bóp yếu khi kích thích bằng Dobutamin. Về chức năng tâm trương, Finucci G. và cộng sự (1996) lần đầu tiên dùng siêu âm tim phát hiện suy chức năng tâm trương thất trái ở 42 bệnh nhân Child-Pugh B và C; tiếp sau đó là các nghiên cứu của Pozzi M. (1997), Valeriano V. (2000), Abd-El-Aziz T. (sử dụng chỉ số Tei), Iscen S. (2011, dùng siêu âm Doppler mô), Alexopoulou A. (2012) và Rabie R. khẳng định tỷ lệ rối loạn chức năng tâm trương dao động 40 - 70%, đồng thời chứng minh chỉ số E/A $\le$ 1 là yếu tố tiên lượng rút chậm cổ trướng và gia tăng tử vong sau can thiệp TIPS. Về tăng áp lực động mạch phổi (tăng áp lực cửa phổi), Swanson K., Hua R. xác định tỷ lệ 0,61 - 4% ở bệnh nhân xơ gan nói chung và lên tới 8,5% ở nhóm chờ ghép gan, đòi hỏi phải sàng lọc nghiêm ngặt qua siêu âm tim trước mổ.
-
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Dù y văn thế giới ghi nhận sâu sắc về bệnh cơ tim do xơ gan, tại Việt Nam chưa có công trình nào đánh giá đồng bộ hình thái và chức năng tim ở bệnh nhân xơ gan giai đoạn Child-Pugh B và C bằng các phương pháp siêu âm tim phối hợp (siêu âm 2D, TM, Doppler xung và Doppler mô) kết hợp đo đạc huyết động hệ mạch máu gan (tĩnh mạch cửa, động mạch gan, tĩnh mạch gan). Luận án định vị trọng tâm vào việc xác lập dữ liệu thực nghiệm lâm sàng, phân tích toàn diện mối liên quan giữa biến đổi cấu trúc, chức năng tim với mức độ suy gan, tình trạng cổ trướng và biến đổi dòng chảy mạch máu gan trên người bệnh Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Luận án dựa trên khung lý thuyết sinh lý bệnh học tim mạch trong xơ gan:
- Hệ thống phân loại Child - Pugh (1973): Kế thừa và cải tiến từ bảng phân loại Child - Turcotte (1964), bảng điểm Child - Pugh lượng hóa mức độ suy giảm chức năng gan dựa trên 5 chỉ tiêu lâm sàng và sinh hóa:
| Chỉ tiêu |
1 điểm |
2 điểm |
3 điểm |
| Cổ trướng |
Không có |
Nhẹ |
Vừa đến nhiều |
| Bệnh não gan |
Không |
Độ 1 - 2 |
Độ 3 - 4 |
| Albumin máu (g/l) |
> 35 |
28 - 35 |
< 28 |
| Bilirubin máu ($\mu$mol/l) |
< 34 |
34 - 51 |
> 51 |
| Thời gian Prothrombin kéo dài (giây) |
1 - 4 |
4 - 6 |
> 6 |
Phân loại mức độ: Child-Pugh A: 5 - 6 điểm; Child-Pugh B: 7 - 9 điểm; Child-Pugh C: 10 - 15 điểm.
- Cơ chế bệnh sinh thay đổi hình thái và chức năng tim trong xơ gan:
- Cường aldosterone và kích hoạt trục RAA: Giảm thanh thải aldosterone tại gan cùng sự hoạt hóa hệ Renin - Angiotensin - Aldosterone (hệ RAA toàn thân do Weber K. mô tả) và hệ RA tại tim dẫn đến tăng Angiotensin II. Angiotensin II kích thích thụ thể AT1 gây phì đại tế bào cơ tim và kích hoạt nguyên bào sợi tăng tổng hợp collagen mô kẽ, gây phì đại thất và xơ hóa cơ tim (Hall E. 1953, Ortiz-Olvera N. 2011). Hiện tượng ứ muối nước nội bào kích thích sản sinh cytokin TGF-$\beta$ và Endothelin 1 thúc đẩy tái cấu trúc cơ tim bất lợi.
- Suy giảm dẫn truyền giao cảm tại tim: Giảm mật độ và tính đáp ứng của thụ thể beta-adrenergic, suy giảm chức năng protein Gs và men adenylate cyclase do thay đổi thành phần lipid màng tế bào cơ tim (Ma Z.); suy giảm số lượng và chức năng kênh Canxi type L trên màng tế bào cơ tim (Ward C. 2001) dẫn đến giảm dòng Canxi đi vào tế bào khi cơ tim bị kích thích.
- Tác động của các chất giãn mạch nội sinh: Nồng độ Nitric Oxide (NO) tăng cao do nội độc tố vi khuẩn đường ruột (endotoxin) kích hoạt cảm ứng men NO synthetase (NOS); nồng độ Carbon Monoxide (CO) tăng do kích hoạt men heme oxygenase (HO). Cả NO và CO đều kích hoạt enzyme guanylate cyclase tạo cGMP, từ đó ức chế dòng ion Canxi vào bào tương sợi cơ tim, gây suy giảm co bóp cơ tim.
Phương pháp nghiên cứu thực tế
- Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu, mô tả cắt ngang có so sánh đối chứng.
- Phương tiện và công cụ nghiên cứu: Máy siêu âm tim Doppler chuyên dụng trang bị các đầu dò tần số phù hợp thực hiện các chế độ: siêu âm TM, siêu âm 2D, Doppler xung (PW), Doppler liên tục (CW) và Doppler mô cơ tim (TDI).
- Quy trình đo đạc các chỉ tiêu nghiên cứu:
- Hình thái tim: Đo kích thước buồng thất trái cuối tâm trương (Dd), cuối tâm thu (Ds), bề dày vách liên thất (IVSd), bề dày thành sau thất trái (LVPWd) trên siêu âm M-mode theo đúng khuyến cáo của Hội Siêu âm Tim Hoa Kỳ (ASE). Đo kích thước nhĩ trái, buồng thất phải và nhĩ phải.
- Chức năng tâm thu thất trái: Tính toán phân số tống máu (EF%) và tỷ lệ co ngắn sợi cơ thất trái (FS%) bằng phần mềm tích hợp trên máy siêu âm.
- Chức năng tâm trương thất trái và thất phải: Đặt cửa sổ Doppler xung tại đầu mút lá van hai lá và van ba lá ở mặt cắt 4 buồng từ mỏm để ghi phổ dòng chảy: đo vận tốc tối đa sóng đổ đầy nhanh đầu tâm trương (E), vận tốc tối đa sóng co nhĩ cuối tâm trương (A), tỷ lệ E/A, thời gian tăng tốc (AT), thời gian giảm tốc sóng E (DT), thời gian giãn cơ đồng thể tích (IVRT). Phân độ suy chức năng tâm trương thất trái theo 3 mức độ (độ 1: rối loạn thư giãn; độ 2: giả bình thường; độ 3: hạn chế).
- Chỉ số Tei (chỉ số hiệu suất cơ tim): Lấy đồng thời phổ dòng chảy qua van hai lá và van động mạch chủ; đo thời gian co cơ đồng thể tích (IVCT), thời gian giãn cơ đồng thể tích (IVRT) và thời gian tống máu thất trái (ET) để tính:
$$\text{Chỉ số Tei} = \frac{\text{IVCT} + \text{IVRT}}{\text{ET}}$$
Áp dụng tương tự cho thất phải bằng cách đo các khoảng thời gian qua van ba lá và van động mạch phổi.
- Ước tính áp lực động mạch phổi (ALĐMP) tâm thu: Đo vận tốc tối đa của dòng hở van ba lá ($V$) bằng Doppler liên tục, áp dụng phương trình Bernoulli đơn giản hóa tính chênh áp qua van ba lá ($\Delta P = 4V^2$) cộng với áp lực nhĩ phải ước tính (dựa vào đường kính và mức độ xẹp của tĩnh mạch chủ dưới theo nhịp thở).
- Khảo sát huyết động mạch máu gan: Dùng siêu âm Doppler đo đường kính, chiều dòng chảy, vận tốc trung bình và lưu lượng dòng chảy tĩnh mạch cửa; đo vận tốc đỉnh tâm thu (Vs), vận tốc cuối tâm trương (Vd) và chỉ số trở kháng (RI) động mạch gan; phân tích các dạng phổ Doppler tĩnh mạch gan phải (3 pha, 2 pha, 1 pha) và đo vận tốc dòng chảy tĩnh mạch gan.
- Xử lý số liệu: Số liệu được mã hóa, làm sạch và xử lý bằng các thuật toán thống kê y học chuyên ngành, so sánh các biến số định lượng bằng kiểm định t-Student, biến số định tính bằng kiểm định Chi-bình phương ($\chi^2$), phân tích tương quan tuyến tính với ngưỡng ý nghĩa thống kê $p < 0,05$.
Nội dung chính theo từng chương
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Chương này tổng thuật toàn diện cơ sở dịch tễ, bệnh sinh của xơ gan và các biểu hiện tim mạch liên quan. Luận án phân tích chi tiết diễn tiến tự nhiên qua 4 giai đoạn theo D'Amico G. (2006) cùng thang điểm Child - Pugh (1973), đồng thời làm rõ khái niệm bệnh cơ tim do xơ gan (Montreal 2005) bao gồm tuần hoàn tăng động, giảm dự trữ co bóp thất trái khi gắng sức, rối loạn chức năng tâm trương và khoảng QTc kéo dài. Chương 1 đi sâu vào các cơ chế phân tử: tình trạng cường aldosterone và trục RAA kích thích tăng sinh mô xơ cơ tim; suy giảm thụ thể adrenergic và kênh Canxi type L màng tế bào; vai trò ức chế co bóp của NO và CO thông qua truyền tín hiệu cGMP. Tác giả cũng phân tích giá trị của các kỹ thuật siêu âm tim (TM, 2D, Doppler xung, chỉ số Tei, Doppler mô) cùng những thách thức kỹ thuật khi bệnh nhân có tuần hoàn tăng động hoặc cổ trướng lớn làm thay đổi trục tim, đồng thời điểm lại các nghiên cứu quốc tế liên quan đến biến cố tim mạch sau can thiệp TIPS và ghép gan.
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chương 2 mô tả chi tiết phương pháp luận nghiên cứu tiến cứu, mô tả cắt ngang có so sánh đối chứng trên nhóm bệnh nhân xơ gan Child-Pugh B và C cùng nhóm chứng khỏe mạnh tại Bệnh viện Quân y 103. Tác giả trình bày tường minh các tiêu chuẩn chọn bệnh, tiêu chuẩn loại trừ các bệnh tim mạch tiên phát, các bước thăm khám lâm sàng (tìm dấu hiệu suy tế bào gan, tăng áp cửa) và xét nghiệm cận lâm sàng (Bilirubin, Albumin, enzym gan, tỷ lệ Prothrombin). Chương này chuẩn hóa quy trình kỹ thuật siêu âm Doppler mạch máu gan (đo đường kính, vận tốc, lưu lượng, phổ Doppler của tĩnh mạch cửa, động mạch gan, tĩnh mạch gan) và quy trình siêu âm tim theo khuyến cáo của Hội Siêu âm Hoa Kỳ (ASE) để đo kích thước buồng tim, độ dày thành thất, chức năng tâm thu (EF%, FS%), chức năng tâm trương (sóng E, sóng A, tỷ lệ E/A, DT, IVRT), chỉ số Tei thất trái và thất phải, cùng phương pháp ước tính ALĐMP tâm thu qua phổ hở van ba lá bằng phương trình Bernoulli. Các nguyên tắc y đức và phương pháp xử lý thống kê y học cũng được mô tả cụ thể.
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chương 3 trình bày toàn bộ số liệu thu thập được thông qua hệ thống bảng biểu và đồ thị:
- Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng: Báo cáo phân bố tuổi, giới, các yếu tố nguyên nhân (rượu, virus, kết hợp); ghi nhận tần số tim và huyết áp; thống kê các triệu chứng suy tế bào gan (vàng da, sao mạch, bàn tay son, giảm Albumin, tăng Bilirubin, giảm tỷ lệ Prothrombin) và tăng áp lực tĩnh mạch cửa (cổ trướng, tuần hoàn bàng hệ, giãn tĩnh mạch thực quản trên nội soi).
- Huyết động mạch máu gan: Trình bày số liệu về đường kính, vận tốc, lưu lượng tĩnh mạch cửa; ghi nhận tỷ lệ dòng chảy đảo chiều hoặc hai chiều; thông số vận tốc Vs, Vd, chỉ số trở kháng RI động mạch gan; tỷ lệ các dạng phổ Doppler tĩnh mạch gan (3 pha, 2 pha, 1 pha) và mối tương quan giữa vận tốc tĩnh mạch gan với lưu lượng tĩnh mạch cửa.
- Hình thái và chức năng tim: Báo cáo kích thước buồng tim và độ dày thành thất (nhĩ trái, thất trái, thành sau, vách liên thất) ở nhóm xơ gan so với nhóm chứng; chức năng tâm thu thất trái (EF%, FS%); chức năng tâm trương thất trái (E, A, tỷ lệ E/A, DT, IVRT) và tỷ lệ các mức độ suy chức năng tâm trương (độ 1, độ 2, độ 3); chức năng tâm trương và chỉ số Tei thất phải; phân loại mức độ tăng ALĐMP tâm thu.
- Mối liên quan giữa các biến số: Phân tích so sánh hình thái và chức năng tim theo nguyên nhân gây xơ gan (do rượu so với không do rượu); theo mức độ Child-Pugh (B so với C); theo sự hiện diện của cổ trướng; và tương quan giữa các thông số huyết động mạch máu gan (lưu lượng TMC, vận tốc TMG) với hình thái, chức năng thất phải và ALĐMP tâm thu.
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN
Chương 4 tập trung phân tích và biện giải các phát hiện thu được từ kết quả nghiên cứu trong sự đối sánh với y văn trong nước và quốc tế:
- Biện luận về đặc điểm dịch tễ, căn nguyên rượu và virus tại Việt Nam; phân tích cơ chế tuần hoàn tăng động và rối loạn chức năng gan trên các chỉ số cận lâm sàng.
- Phân tích cơ chế biến đổi huyết động mạch máu gan: giảm vận tốc dòng cửa do tăng trở kháng xoang gan, phản xạ bù trừ làm tăng vận tốc động mạch gan, và sự biến đổi dạng phổ tĩnh mạch gan từ 3 pha sang 1 pha do nhu mô gan xơ hóa chèn ép.
- Luận giải sâu sắc về biến đổi hình thái và chức năng tim:
- Dày thành thất và giãn nhĩ trái là kết quả của tình trạng quá tải thể tích mạn tính phối hợp với tác động phì đại của cường aldosterone.
- Chức năng tâm thu thất trái ở trạng thái nghỉ ngơi vẫn bảo tồn (EF% bình thường) phản ánh tình trạng giảm hậu gánh do giãn mạch ngoại vi che lấp suy giảm sức bóp cơ tim tiềm ẩn.
- Rối loạn chức năng tâm trương thất trái chiếm tỷ lệ cao, đặc trưng bởi giảm tỷ lệ E/A, kéo dài DT và IVRT, phản ánh tình trạng giảm độ giãn nở và xơ hóa mô kẽ tâm thất.
- Tăng áp lực động mạch phổi tâm thu và rối loạn chức năng thất phải liên quan đến tình trạng tăng lưu lượng máu hồi lưu từ hệ cửa và tăng kháng lực mạch phổi.
- Bàn luận về các mối liên quan: khẳng định biến đổi tim mạch xuất hiện đồng đều giữa nhóm xơ gan do rượu và không do rượu (chứng minh tính độc lập của bệnh cơ tim do xơ gan); mức độ suy tim tâm trương và tăng ALĐMP tâm thu tỷ lệ thuận rõ rệt với độ nặng Child-Pugh, tình trạng cổ trướng và mức độ biến đổi dòng chảy mạch máu gan.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận và khoa học
- Luận án đã cung cấp hệ thống dữ liệu toàn diện và có giá trị khoa học về những biến đổi hình thái và chức năng tim ở bệnh nhân xơ gan giai đoạn mất bù (Child-Pugh B và C) tại Việt Nam, sử dụng các kỹ thuật siêu âm tim Doppler kết hợp khảo sát huyết động mạch máu gan.
- Công trình chứng minh rằng bệnh nhân xơ gan tiến triển có tình trạng dày thành thất trái, giãn kích thước buồng tim và tỷ lệ suy giảm chức năng tâm trương thất trái chiếm tỷ lệ cao (thể hiện qua giảm tỷ lệ E/A, kéo dài thời gian DT và IVRT, tăng chỉ số Tei), trong khi chức năng tâm thu thất trái ở trạng thái nghỉ ngơi (EF%, FS%) vẫn duy trì trong giới hạn bình thường.
- Luận án khẳng định tính chất độc lập của hội chứng bệnh cơ tim do xơ gan: các biến đổi hình thái tim và rối loạn chức năng tâm trương thất trái xuất hiện tương đương giữa nhóm xơ gan do rượu và xơ gan không do rượu. Điều này khẳng định những biến đổi tim mạch ở bệnh nhân xơ gan không thuần túy do độc tính trực tiếp của cồn mà là hậu quả của rối loạn thần kinh thể dịch, cường aldosterone và biến đổi huyết động do bệnh gan gây ra.
- Nghiên cứu xác lập mối tương quan có ý nghĩa thống kê giữa mức độ suy chức năng gan theo thang điểm Child-Pugh, sự hiện diện của cổ trướng và các rối loạn huyết động mạch máu gan (giảm vận tốc và thay đổi dạng phổ Doppler tĩnh mạch gan) với mức độ rối loạn chức năng tâm trương và tình trạng tăng áp lực động mạch phổi tâm thu.
Đóng góp về mặt thực tiễn và giải pháp đề xuất
- Xác lập giá trị của siêu âm tim Doppler như một thăm dò cận lâm sàng không xâm nhập, an toàn và cần thiết để đánh giá toàn diện tình trạng tim mạch ở bệnh nhân xơ gan mất bù trong thực hành lâm sàng nội khoa tiêu hóa.
- Đề xuất quy trình ứng dụng siêu âm tim Doppler định kỳ để sàng lọc sớm rối loạn chức năng tâm trương và đo áp lực động mạch phổi tâm thu cho các bệnh nhân xơ gan có chỉ định can thiệp thủ thuật tạo shunt cửa - chủ trong gan (TIPS) hoặc phẫu thuật ghép gan, nhằm dự phòng nguy cơ suy tim mất bù cấp tính và phù phổi cấp chu phẫu.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu
- Nghiên cứu tập trung khảo sát trên nhóm bệnh nhân xơ gan giai đoạn tiến triển (Child-Pugh B và Child-Pugh C) điều trị nội trú tại bệnh viện, chưa mở rộng thu thập trên nhóm xơ gan còn bù (Child-Pugh A) để so sánh đối chiếu toàn diện diễn tiến tự nhiên của bệnh cơ tim qua từng giai đoạn.
- Nghiên cứu chưa thực hiện các nghiệm pháp gắng sức tim mạch (gắng sức thể lực hoặc nghiệm pháp dược lý với Dobutamin) do điều kiện an toàn trên bệnh nhân xơ gan nặng, vì vậy chưa đánh giá được toàn diện mức độ suy giảm dự trữ co bóp cơ tim tâm thu lúc gắng sức.
- Việc xác định áp lực động mạch phổi tâm thu được thực hiện gián tiếp qua siêu âm tim Doppler dựa trên dòng hở van ba lá, chưa thể đối chiếu với phương pháp thông tim phải (tiêu chuẩn vàng) do tính chất xâm lấn của kỹ thuật.
Hướng nghiên cứu tiếp theo
- Triển khai các nghiên cứu theo dõi dọc trên cỡ mẫu lớn hơn bao gồm đầy đủ các giai đoạn xơ gan từ Child-Pugh A, B đến C nhằm xác định chính xác thời điểm khởi phát các biến đổi hình thái và suy giảm chức năng tâm trương.
- Ứng dụng các kỹ thuật siêu âm tim chuyên sâu như siêu âm đánh dấu mô cơ tim (speckle tracking echocardiography) và chụp cộng hưởng từ tim (cardiac MRI) để lượng hóa chi tiết mức độ biến dạng sợi cơ tim và xơ hóa mô kẽ cơ tim.
- Theo dõi dài hạn các biến cố tim mạch và tỷ lệ sống còn ở nhóm bệnh nhân xơ gan sau khi được can thiệp đặt stent TIPS hoặc ghép gan nhằm kiểm chứng giá trị tiên lượng của chỉ số Tei, tỷ lệ E/A và áp lực động mạch phổi tâm thu.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị học thuật và thực tiễn lâm sàng cho nhiều đối tượng:
- Bác sĩ chuyên khoa Nội Tiêu hóa và Truyền nhiễm: Giúp mở rộng nhận thức bệnh lý toàn diện, không chỉ tập trung vào các biến chứng xơ gan tại ổ bụng mà cần theo dõi chặt chẽ biến đổi tuần hoàn tăng động và hội chứng bệnh cơ tim do xơ gan.
- Bác sĩ Tim mạch và Thầy thuốc Chẩn đoán chức năng: Cung cấp quy chuẩn đo đạc các thông số siêu âm tim đặc thù ở bệnh nhân xơ gan (vận tốc E, A, tỷ lệ E/A, DT, IVRT, chỉ số Tei thất trái và thất phải, đo áp lực động mạch phổi tâm thu), lưu ý các yếu tố gây nhiễu như tần số tim nhanh và dịch cổ trướng đẩy lệch trục tim.
- Phẫu thuật viên Ghép tạng và Bác sĩ Hồi sức Cấp cứu: Cung cấp luận cứ khoa học để xây dựng tiêu chuẩn đánh giá tiền phẫu tim mạch, sàng lọc bệnh nhân trước khi can thiệp TIPS hoặc phẫu thuật ghép gan nhằm giảm thiểu tỷ lệ tử vong do suy tuần hoàn sau mổ.
- Học viên sau đại học và Nghiên cứu sinh: Là tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp luận nghiên cứu kết hợp giữa thăm dò hình thái, huyết động học mạch máu tạng và chức năng huyết động tim mạch trong nghiên cứu y học lâm sàng.
Câu hỏi thường gặp
1. Hội chứng bệnh cơ tim do xơ gan (cirrhotic cardiomyopathy) gồm những đặc trưng cốt lõi nào theo tiêu chuẩn y văn được luận án trích dẫn?
Theo định nghĩa tại Hội nghị Tiêu hóa Thế giới ở Montreal năm 2005 được luận án tổng hợp, bệnh cơ tim do xơ gan bao gồm các đặc trưng: tình trạng tuần hoàn tăng động (tăng tần số tim, tăng cung lượng tim, giảm sức cản ngoại vi); chức năng tâm thu thất trái bình thường lúc nghỉ nhưng đáp ứng suy giảm khi gắng sức thể lực hoặc khi kích thích bằng thuốc cường tim (như Dobutamin); có rối loạn chức năng tâm trương thất trái; và bất thường điện sinh lý học thể hiện qua khoảng QTc kéo dài trên điện tâm đồ.
2. Cường aldosterone trong xơ gan làm biến đổi cấu trúc và hình thái tim thông qua cơ chế nào?
Tình trạng cường aldosterone ở bệnh nhân xơ gan sinh ra do giảm khả năng chuyển hóa và thanh thải hormon tại gan, kết hợp với sự hoạt hóa hệ Renin - Angiotensin - Aldosterone (RAA) toàn thân và hệ RA tại chỗ ở tim. Nồng độ aldosterone và Angiotensin II tăng cao kích hoạt thụ thể AT1, kích thích nguyên bào sợi (fibroblast) tăng sinh và tăng tổng hợp collagen mô kẽ, kết hợp với sự ứ đọng muối nước nội bào kích hoạt các cytokin như TGF-$\beta$ và Endothelin 1. Chuỗi phản ứng này dẫn đến xơ hóa cơ tim, phì đại tế bào cơ tim cả ở tâm thất và tâm nhĩ, làm dày thành thất và giảm độ giãn nở của tim.
3. Tại sao ở bệnh nhân xơ gan giai đoạn mất bù, chức năng tâm thu thất trái lúc nghỉ vẫn bình thường nhưng chức năng tâm trương lại suy giảm?
Chức năng tâm thu thất trái lúc nghỉ (đo bằng phân số tống máu EF% và phân suất co rút FS%) vẫn duy trì trong giới hạn bình thường do bệnh nhân có tình trạng giãn mạch ngoại vi làm giảm đáng kể hậu gánh, giúp tâm thất dễ dàng tống máu. Ngược lại, chức năng tâm trương bị suy giảm sớm và rõ rệt (giảm tỷ lệ E/A, kéo dài DT và IVRT) do thành tâm thất bị dày lên, cơ tim bị xơ hóa mô kẽ dưới tác động của aldosterone, Angiotensin II và các rối loạn vận chuyển ion Canxi qua màng, làm giảm tính đàn hồi và cản trở quá trình giãn cơ đổ đầy thất trái trong thì tâm trương.
4. Vì sao việc siêu âm tim ước tính áp lực động mạch phổi tâm thu là bắt buộc đối với bệnh nhân xơ gan chờ ghép gan?
Tăng áp lực động mạch phổi (tăng áp lực cửa phổi) gặp ở khoảng 0,61 - 4% bệnh nhân xơ gan nói chung và lên tới 8,5% ở bệnh nhân giai đoạn cuối chờ ghép gan. Khi phẫu thuật ghép gan, lưu lượng máu hồi lưu về tim tăng đột ngột; nếu bệnh nhân có tăng áp lực động mạch phổi trung bình từ 35 - 45 mmHg (chống chỉ định tương đối) hoặc > 45 mmHg (chống chỉ định tuyệt đối), nguy cơ xuất hiện suy tim phải cấp tính sau mổ rất cao, dẫn tới ứ máu gan ghép, hoại tử mô gan và tử vong do suy gan cấp. Do đó, khuyến cáo của các hiệp hội chuyên ngành (AASLD, AHA) yêu cầu siêu âm tim định kỳ mỗi 6 tháng để sàng lọc áp lực động mạch phổi trước khi quyết định phẫu thuật.
5. Luận án kết luận như thế nào về mối liên quan giữa biến đổi hình thái, chức năng tim với nguyên nhân gây xơ gan?
Kết quả phân tích trong luận án cho thấy các biến đổi về kích thước buồng tim, bề dày vách liên thất, bề dày thành sau thất trái, chức năng tâm thu (EF%, FS%), các chỉ số chức năng tâm trương (tỷ lệ E/A, DT, IVRT) và chỉ số Tei không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm xơ gan do rượu và nhóm xơ gan không do rượu (do nhiễm virus viêm gan). Kết quả này khẳng định bệnh cơ tim do xơ gan là một thực thể bệnh sinh độc lập, phát triển do tác động chuyển hóa, thể dịch và huyết động của bản thân bệnh cảnh xơ gan chứ không phải là tổn thương tim riêng biệt do rượu.
Kết luận
Luận án tiến sĩ y học của Dương Quang Huy là công trình nghiên cứu lâm sàng và cận lâm sàng chuyên sâu, xác lập toàn diện các biến đổi hình thái và chức năng tim mạch ở bệnh nhân xơ gan giai đoạn Child-Pugh B và C. Bằng phương pháp siêu âm Doppler tim phối hợp thăm dò mạch máu gan, luận án chứng minh tình trạng dày thành thất, suy giảm chức năng tâm trương và tăng áp lực động mạch phổi tâm thu xuất hiện phổ biến ở bệnh nhân xơ gan tiến triển, có mối liên quan mật thiết với mức độ suy gan, tình trạng cổ trướng và biến đổi huyết động hệ cửa, đồng thời diễn ra độc lập với nguyên nhân gây xơ gan. Kết quả công trình khẳng định tầm quan trọng của việc ứng dụng siêu âm tim Doppler thường quy để sàng lọc, đánh giá nguy cơ tim mạch và tiên lượng sống còn cho bệnh nhân xơ gan, đặc biệt trong quy trình chuẩn bị can thiệp TIPS và phẫu thuật ghép gan.