Tổng quan nghiên cứu

Trong giai đoạn 2015 - 2017, công tác quản lý tài sản công nói chung và hệ thống phương tiện chuyên dùng thuộc 35 nhóm danh mục kỹ thuật nghiệp vụ tại Bộ Công an giữ vai trò đặc biệt xung yếu trong bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội. Dù đã có khung pháp lý cơ bản căn cứ theo Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước năm 2008 và Nghị định số 106/2009/NĐ-CP, hoạt động quản trị xe chuyên dùng trong thực tiễn vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm xuất phát từ sự phân tán đầu mối quản lý, tình trạng chồng chéo chức năng giữa Cục Tài chính và Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật, dẫn tới sự chênh lệch lớn giữa số liệu sổ sách kế toán với thực tế kiểm kê tại 63 Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cùng các Cục, Tổng cục nghiệp vụ. Trong khi nhiều địa bàn vùng sâu thiếu thốn phương tiện tuần tra, chữa cháy và cứu thương thì một số đơn vị lại tồn kho dư thừa lượng lớn xe chở quân và xe chở phạm nhân.

Mục tiêu nghiên cứu của luận văn tập trung vào việc đánh giá toàn diện thực trạng thực thi chính sách quản lý xe chuyên dùng tại Bộ Công an từ năm 2015 đến năm 2017, nhận diện căn nguyên của các lỗ hổng chính sách, từ đó thiết lập hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm tối ưu hóa công tác quản trị công sản giai đoạn 2018 - 2020. Nghiên cứu mang ý nghĩa chiến lược sâu sắc khi cung cấp căn cứ khoa học giúp giảm thiểu ít nhất 30% nguy cơ đầu tư trùng lặp, tối ưu hóa 100% định mức trang bị theo nhu cầu tác chiến thực tế, đồng thời nâng cao từ 20% đến 25% tuổi thọ vận hành của phương tiện thông qua việc chuẩn hóa định mức duy tu, bảo dưỡng định kỳ trên toàn lực lượng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng nền tảng Lý thuyết quản lý tài sản công và Lý thuyết quản lý công mới (New Public Management), gắn liền với chu trình chính sách công từ khâu hoạch định, thực thi đến giám sát và đánh giá. Xe chuyên dùng trong Công an nhân dân được định nghĩa chuẩn xác theo Điều 1 Thông tư số 48/2016/TT-BCA là xe ô tô được gắn trang thiết bị chuyên dùng phục vụ nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu hoặc có cấu tạo đặc biệt theo yêu cầu chuyên môn nghiệp vụ. Chính sách quản lý loại phương tiện đặc thù này bao hàm toàn bộ các công cụ pháp lý, tiêu chuẩn định mức và quy trình điều hành của Nhà nước nhằm phân bổ, khai thác hiệu quả và chống thất thoát ngân sách.

Quá trình quản lý vận hành theo chu trình đời sống tài sản gồm 3 giai đoạn cốt lõi: quá trình hình thành (thông qua mua sắm tập trung hoặc tiếp nhận tài trợ, biếu tặng), quá trình khai thác sử dụng (ban hành quy chế, lập hồ sơ cơ sở dữ liệu, bảo dưỡng kỹ thuật và tính hao mòn định kỳ theo Thông tư số 162/2014/TT-BTC) và quá trình kết thúc (điều chuyển thẩm quyền từ 3 tỷ đến trên 10 tỷ đồng, thu hồi hoặc thanh lý theo Thông tư số 19/2014/TT-BCA). Hệ thống chính sách này phải luôn bảo đảm tuân thủ nghiêm ngặt 3 nguyên tắc nền tảng: Nguyên tắc Đảng lãnh đạo tập trung tuyệt đối, Nguyên tắc tập trung dân chủ kết hợp chế độ thủ trưởng và Nguyên tắc bảo mật thông tin nghiệp vụ an ninh ở cả 3 cấp độ mật, tối mật và tuyệt mật.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp xác thực từ các báo cáo kiểm kê tài sản 0 giờ ngày 01/07 hàng năm trong giai đoạn 3 năm liên tiếp (2015, 2016, 2017) của Bộ Công an, kết hợp cùng hệ thống 10 văn bản quy phạm pháp luật chủ chốt của Nhà nước, Bộ Tài chính và Bộ Công an. Tác giả áp dụng phối hợp phương pháp thống kê mô tả, phương pháp đối chiếu so sánh định mức thực tế và phương pháp chuyên gia để phân tích sâu thực trạng.

Về cỡ mẫu và kỹ thuật chọn mẫu, nghiên cứu thực hiện phỏng vấn sâu có chủ đích với đội ngũ chuyên gia gồm 05 cán bộ chuyên trách thuộc Phòng Tài chính và Quản lý công sản (H55), 04 cán bộ phụ trách thẩm định phân bổ ngân sách thuộc Cục Tài chính, cùng các cán bộ thuộc Phòng Quản lý phương tiện bộ (H44) thuộc Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật. Đồng thời, luận văn tiến hành khảo sát cơ cấu trình độ của 30 cán bộ cơ quan quản lý nhà nước và 500 cán bộ trực tiếp quản lý phương tiện tại cơ sở. Việc lựa chọn phương pháp chuyên gia và phân tích tài liệu nội bộ bảo đảm tính bảo mật nghiệp vụ theo quy định ngành, đồng thời cho phép bóc tách chính xác những rào cản tổ chức mà các phương pháp khảo sát đại trà thông thường không thể tiếp cận được. Timeline nghiên cứu được tiến hành tập trung trong 2 năm từ 2016 đến cuối năm 2017.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tổ chức bộ máy quản lý xe chuyên dùng bộc lộ sự phân tán và chồng chéo chức năng nghiêm trọng. Tại cơ quan Bộ, Cục Tài chính thực hiện chức năng quản lý về mặt giá trị tài sản theo Quyết định số 7835/QĐ-BCA, trong khi Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật thực hiện quản lý hiện vật và trang cấp theo Quyết định số 7833/QĐ-BCA. Trong nội bộ Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật, việc xử lý hồ sơ thanh lý, điều chuyển lại cùng lúc do Phòng Quản lý phương tiện bộ (H44) và Đội Quản lý tài sản công (H55) phụ trách, gây lúng túng cho Công an các đơn vị, địa phương khi gửi văn bản đề xuất.

Thứ hai, việc ban hành và thực thi tiêu chuẩn định mức còn nhiều bất cập, dẫn tới mất cân đối nghiêm trọng trong phân bổ tài sản. Điển hình theo Thông tư số 48/2016/TT-BCA, định mức xe cứu thương cho mỗi Trại giam thuộc Tổng cục VIII chỉ có 01 xe/đơn vị, hoàn toàn không đáp ứng đủ nhu cầu y tế cho các cơ sở giam giữ thường xuyên có quy mô trên 200 phạm nhân cùng hàng trăm cán bộ chiến sĩ. Ngược lại, dữ liệu kiểm kê ngày 01/07 các năm 2015, 2016 và 2017 cho thấy tình trạng dư thừa hàng chục xe chở quân và xe chở phạm nhân nằm lưu kho tại các Tổng cục mà không được điều chuyển kịp thời cho cơ sở.

Thứ ba, nguồn kinh phí và đầu mối trang bị bị xé lẻ qua nhiều kênh mua sắm độc lập. Xe chuyên dùng được đầu tư từ ngân sách Bộ qua Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật, qua các dự án chuyên ngành của Cục Cảnh sát giao thông, Cục Cảnh sát PCCC và Cứu nạn cứu hộ, Tổng cục An ninh, Tổng cục Cảnh sát, kết hợp với nguồn kinh phí tài trợ từ Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố. Do thiếu cơ chế báo cáo tập trung, ước tính có từ 15% đến 20% phương tiện trang bị mới theo dự án ngành dọc không được Phòng Hậu cần - Kỹ thuật tại địa phương nắm bắt đầy đủ số liệu.

Thứ tư, nguồn nhân lực quản lý công sản sở hữu trình độ học vấn cao nhưng thiếu kỹ năng chuyên sâu và biến động lớn. Khối cơ quan quản lý nhà nước gồm 30 cán bộ có 12 người trình độ thạc sĩ (chiếm 40%) và 18 cử nhân (chiếm 60%). Khối đơn vị trực tiếp quản lý cơ sở gồm 500 cán bộ có 100 thạc sĩ (chiếm 20%) và 400 cử nhân (chiếm 80%). Dù tỷ lệ có bằng đại học và sau đại học đạt 100%, hầu hết nhân sự không được đào tạo chuyên sâu về quản lý công sản, cộng với tỷ lệ luân chuyển vị trí công tác hàng năm trên 25% khiến hồ sơ theo dõi nguyên giá và giá trị còn lại bị thất lạc, gián đoạn.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của những tồn tại trên xuất phát từ tư duy quản lý bao cấp kéo dài, thiếu vắng các chế tài xử lý vi phạm hành chính nội bộ đối với thủ trưởng các đơn vị không thực hiện nghiêm công tác kiểm kê và thanh lý tài sản. Bên cạnh đó, việc chưa xây dựng được hệ thống định mức kinh tế - kỹ thuật cho công tác duy tu, sửa chữa khiến các địa phương lúng túng trong việc lập dự toán ngân sách vận hành hàng năm.

Khi đối chiếu với kinh nghiệm của Bộ Quốc phòng thông qua việc thực thi Chỉ thị số 92/CT-BQP và Thông tư số 91/2009/TT-BQP, lực lượng quân đội đã duy trì kỷ luật kiểm kê tài sản đồng loạt vào 0 giờ ngày 01/07 từ cấp cơ sở đến toàn quân và ứng dụng sớm phần mềm kế toán tài sản đồng bộ. Trong khi đó, Bộ Công an vẫn tồn tại sự phân mảnh phần mềm và quy trình thống kê. Những dữ liệu biến động này có thể được mô hình hóa rõ nét thông qua Sơ đồ tổ chức bộ máy quản trị công sản và Bảng tổng hợp đối chiếu số lượng xe chuyên dùng thực tế so với tiêu chuẩn định mức tại các đơn vị địa phương trong giai đoạn 2015 - 2017, qua đó chỉ rõ sự cần thiết phải tái cấu trúc toàn diện chu trình quản lý tài sản ngành công an.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, thống nhất một đầu mối quản lý và mua sắm tập trung xe chuyên dùng trong toàn lực lượng Công an nhân dân. Lãnh đạo Bộ Công an cần ban hành quy định giao duy nhất cơ quan chuyên trách Hậu cần - Kỹ thuật của Bộ làm đầu mối thẩm định, theo dõi 100% việc mua sắm, tiếp nhận tài trợ và cấp phát xe chuyên dùng từ các nguồn dự án khác nhau, hoàn thành kiện toàn mô hình tổ chức trong giai đoạn 2018 - 2019.

Thứ hai, hoàn thiện và điều chỉnh hệ thống tiêu chuẩn định mức trang bị sát với thực tiễn chiến đấu. Cục Tài chính phối hợp với các cơ quan chuyên môn rà soát, sửa đổi Thông tư số 48/2016/TT-BCA trong năm 2019, trọng tâm là nâng định mức xe cứu thương lên tối thiểu 02 xe cho các trại giam quy mô trên 200 phạm nhân, đồng thời bổ sung danh mục tiêu chuẩn cho các dòng xe công nghệ cao như xe thông tin vệ tinh, xe tác chiến không gian mạng.

Thứ ba, ban hành quy định chế độ hao mòn đặc thù và định mức kinh tế kỹ thuật bảo dưỡng. Cần thiết lập hệ số hao mòn nhanh hơn từ 30% đến 40% cho các loại xe hoạt động tại địa bàn miền núi, vùng sâu, vùng xa có điều kiện giao thông khắc nghiệt; đồng thời ban hành khung định mức chi phí bảo trì định kỳ làm căn cứ phân bổ 100% dự toán ngân sách thường xuyên từ năm 2019.

Thứ tư, đồng bộ hóa thời điểm kiểm kê và nâng cấp phần mềm quản lý tài sản công số hóa. Cục Quản lý trang bị kỹ thuật chủ trì thống nhất kỳ kiểm kê tài sản 01 lần duy nhất vào 0 giờ ngày 01/07 hàng năm, triển khai phần mềm quản lý bảo mật kết nối trực tuyến toàn bộ 63 Công an tỉnh, thành phố, giúp cắt giảm 20% chi phí hành chính và loại bỏ hoàn toàn sự sai lệch số liệu kế toán.

Thứ năm, ban hành chế tài xử lý vi phạm hành chính và chuẩn hóa đào tạo cho 530 cán bộ chuyên trách. Bộ Công an cần ban hành thông tư quy định trách nhiệm người đứng đầu khi để xảy ra dư thừa, thất thoát hoặc chậm trễ thanh lý xe chuyên dùng; đồng thời tổ chức tối thiểu 02 khóa tập huấn chuyên sâu hàng năm trong giai đoạn 2018 - 2020 nhằm nâng cao năng lực tham mưu cho 30 cán bộ cơ quan tham mưu và 500 cán bộ phụ trách công sản tại cơ sở.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm 1: Lãnh đạo chỉ huy và cán bộ tham mưu hậu cần - kỹ thuật thuộc Bộ Công an. Luận văn cung cấp khung giải pháp thực tiễn giúp tái cấu trúc quy trình tiếp nhận, cấp phát và quản lý hơn 35 nhóm xe chuyên dùng, tối ưu hóa công tác lập dự toán mua sắm tập trung hàng năm.

Nhóm 2: Cán bộ quản lý tài chính và công sản trong các cơ quan lực lượng vũ trang và đơn vị hành chính sự nghiệp. Nhóm đối tượng này có thể tham khảo phương pháp luận đối chiếu định mức trang bị, quy trình kiểm kê tài sản cố định và tiêu chuẩn điều chuyển phương tiện có giá trị từ 3 tỷ đến trên 10 tỷ đồng.

Nhóm 3: Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Quản lý công, Chính sách công tại các học viện, trường đại học. Công trình là tài liệu tham khảo giá trị cung cấp case study thực tiễn điển hình về chu trình chính sách quản trị tài sản công trong khu vực an ninh - quốc phòng đặc thù.

Nhóm 4: Cơ quan thanh tra, Kiểm toán Nhà nước và Sở Tài chính các tỉnh, thành phố. Đề tài hỗ trợ xây dựng quy chuẩn thẩm định nguồn vốn hỗ trợ từ ngân sách địa phương cấp tỉnh cho lực lượng Công an cơ sở, bảo đảm tuân thủ đúng Luật Ngân sách nhà nước và ngăn ngừa lãng phí tài sản công tại 63 địa phương.

Câu hỏi thường gặp

Xe chuyên dùng trong lực lượng Công an nhân dân được phân loại và quản lý theo những căn cứ pháp lý nào? Theo Thông tư số 48/2016/TT-BCA và Thông tư số 19/2014/TT-BCA, phương tiện được chia thành 35 nhóm kỹ thuật nghiệp vụ chuyên biệt như xe chở quân, xe chỉ huy tác chiến, xe chở phạm nhân, xe chữa cháy và xe cứu thương. Quá trình quản lý vận hành theo 3 giai đoạn khép kín gồm hình thành, khai thác sử dụng và kết thúc tài sản theo Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước.

Đâu là hạn chế lớn nhất trong công tác quản lý xe chuyên dùng giai đoạn 2015 - 2017? Hạn chế nổi cộm nhất là sự thiếu thống nhất đầu mối giữa Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật và Cục Tài chính, kết hợp với việc nhiều Cục nghiệp vụ mua sắm độc lập theo dự án. Tình trạng này dẫn tới hiện tượng chênh lệch số liệu kiểm kê tại địa phương và gây dư thừa cục bộ xe chở phạm, xe chở quân trong khi thiếu hụt xe chuyên dụng tác chiến tại vùng sâu.

Thẩm quyền quyết định điều chuyển và thanh lý xe chuyên dùng được phân cấp như thế nào? Thủ tướng Chính phủ quyết định điều chuyển phương tiện ra ngoài ngành Công an; Bộ trưởng Bộ Công an quyết định điều chuyển xe có nguyên giá từ 10 tỷ đồng trở lên; Tổng cục trưởng Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật phê duyệt đối với xe có giá trị từ 3 tỷ đến dưới 10 tỷ đồng; Thủ trưởng Công an các đơn vị, địa phương quyết định điều chuyển nội bộ và lập hội đồng xử lý thanh lý phương tiện hư hỏng theo quy định.

Tại sao luận văn đề xuất phải xây dựng chế độ tính hao mòn riêng cho địa bàn vùng sâu, vùng xa? Địa hình đồi núi phức tạp và điều kiện tuần tra tác chiến hiểm trở khiến tốc độ hao mòn kỹ thuật thực tế của phương tiện tại vùng sâu nhanh hơn từ 30% đến 40% so với khu vực đô thị. Nếu áp dụng tỷ lệ hao mòn bình quân thông thường theo Thông tư số 162/2014/TT-BTC sẽ không phản ánh đúng giá trị thực, gây thiếu hụt nguồn kinh phí duy tu định kỳ.

Bài học kinh nghiệm từ Bộ Quốc phòng được vận dụng vào Bộ Công an như thế nào? Từ kinh nghiệm triển khai Chỉ thị số 92/CT-BQP và Thông tư số 91/2009/TT-BQP của quân đội, Bộ Công an cần thiết lập kỷ luật kiểm kê tài sản đồng loạt vào 0 giờ ngày 01/07 hàng năm, thống nhất một phần mềm kế toán tài sản công có tính bảo mật cao và siết chặt quy trình xác lập quyền sở hữu nhà nước đối với tài sản thanh lý.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa hoàn chỉnh cơ sở lý luận về chính sách quản lý tài sản công đặc thù, làm rõ vai trò then chốt của 35 nhóm xe chuyên dùng trong thực hiện nhiệm vụ bảo đảm an ninh trật tự quốc gia.
  • Phân tích sâu sắc thực trạng quản lý giai đoạn 2015 - 2017, nhận diện 4 điểm nghẽn chính về mô hình tổ chức phân tán, định mức trang bị chưa sát thực tế, nguồn vốn mua sắm bị chia cắt và năng lực của đội ngũ 530 cán bộ chuyên trách.
  • Tổng kết 3 bài học kinh nghiệm giá trị từ mô hình quản lý công sản của Bộ Quốc phòng nhằm ứng dụng linh hoạt cho công tác quản trị phương tiện ngành Công an.
  • Đề xuất 7 nhóm giải pháp mang tính đột phá gồm thống nhất đầu mối mua sắm tập trung, hoàn thiện định mức kỹ thuật, chuẩn hóa hệ số hao mòn vùng sâu và ban hành chế tài xử phạt hành chính nghiêm minh.
  • Xác định lộ trình triển khai rõ ràng từ năm 2018 đến năm 2020 gắn liền với việc ứng dụng công nghệ thông tin và số hóa dữ liệu kiểm kê ngày 01/07 hàng năm.

Công trình là tài liệu tham khảo khoa học và cẩm nang hành động thiết thực, góp phần tích cực vào tiến trình xây dựng lực lượng Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại.