Tổng quan luận án

Công trình nghiên cứu khoa học luật học mang tên "Đổi mới tổ chức bộ máy hành chính đô thị trong cải cách nền hành chính quốc gia ở nước ta hiện nay" được thực hiện bởi tác giả Đỗ Xuân Đông, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS, PTS. Trần Ngọc Đường. Luận án thuộc chuyên ngành Lý luận Nhà nước và Pháp quyền (mã số 5-05-01), bảo vệ năm 1996 tại Hà Nội.

Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ đòi hỏi tất yếu khách quan của công cuộc đổi mới đất nước và tiến trình cải cách nền hành chính quốc gia. Khi chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang phương thức vận hành mới, việc đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước mà trọng tâm là cải cách nền hành chính quốc gia trở thành nhiệm vụ trọng yếu. Mục tiêu là xây dựng một nền hành chính trong sạch, có đủ năng lực, sử dụng đúng quyền lực và từng bước hiện đại hóa để quản lý có hiệu lực, hiệu quả công việc của Nhà nước. Mặc dù tổ chức và hoạt động của bộ máy hành chính đô thị đã có những bước đổi mới bước đầu, song kết quả đạt được chưa thực sự căn bản và vững chắc. Nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn về tổ chức bộ máy hành chính đô thị tại Việt Nam vẫn chưa được giải quyết đồng bộ.

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ vai trò, địa vị pháp lý của đô thị Việt Nam; đồng thời đưa ra các căn cứ pháp lý xác định vị trí của tổ chức bộ máy hành chính đô thị trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần có sự quản lý của Nhà nước. Để đạt được mục đích đó, luận án xác định 5 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Khái quát những yêu cầu chung về hành chính đô thị, vị trí và vai trò pháp lý của tổ chức bộ máy hành chính đô thị trong nền hành chính quốc gia.
  2. Phân tích quá trình hoạt động và phát triển của hệ thống hành chính quốc gia và của tổ chức bộ máy hành chính đô thị nước ta qua các thời kỳ lịch sử, đặc biệt là thực trạng tổ chức bộ máy hành chính đô thị Việt Nam hiện nay, từ đó bàn về phương hướng và các yêu cầu hoàn thiện pháp luật về đổi mới tổ chức bộ máy hành chính đô thị Việt Nam.
  3. Phân tích thực trạng pháp luật bảo đảm cho sự tồn tại, phát triển và hoạt động của tổ chức bộ máy hành chính đô thị Việt Nam.
  4. Phân tích vai trò và vị trí của tổ chức bộ máy hành chính đô thị trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần có sự quản lý của Nhà nước.
  5. Phân tích căn cứ pháp lý để hoàn thiện hệ thống cán bộ, công chức nhà nước, đổi mới việc bố trí sắp xếp, đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng cán bộ, công chức hành chính ở địa phương và công tác cán bộ có liên quan tới việc đổi mới tổ chức bộ máy hành chính đô thị Việt Nam trong cải cách nền hành chính quốc gia ở nước ta hiện nay.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án tập trung vào tổ chức bộ máy hành chính đô thị Việt Nam dưới giác độ lý luận Nhà nước pháp quyền. Luận án đi sâu tìm kiếm các luận cứ, phương pháp luận và giải pháp pháp lý phục vụ việc đổi mới bộ máy hành chính đô thị trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam từ tiến trình lịch sử truyền thống đến giai đoạn đầu của thời kỳ đổi mới (tập trung vào các mốc lập pháp từ năm 1945 đến năm 1994).


Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trong phần tổng quan tình hình nghiên cứu, tác giả chỉ rõ vấn đề cải cách nền hành chính quốc gia và đổi mới, hoàn thiện tổ chức bộ máy chính quyền địa phương nói chung, chính quyền đô thị nói riêng đã được Đảng và Nhà nước ban hành nhiều văn kiện quan trọng, đồng thời thu hút sự quan tâm tại nhiều hội nghị khoa học. Những năm trước thời điểm luận án hoàn thành, đã có một số đề tài khoa học và sách báo công bố về cải cách nền hành chính quốc gia và đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước của chính quyền các cấp. Tuy nhiên, các công trình này tiếp cận dưới những góc độ khác nhau và chưa có công trình nào nghiên cứu sâu sắc, toàn diện và có hệ thống dưới dạng một luận án khoa học chuyên khảo về đổi mới tổ chức bộ máy hành chính đô thị trong bối cảnh cải cách hành chính quốc gia.

Vị trí của luận án được xác lập thông qua việc kế thừa có chọn lọc các kết quả nghiên cứu lý luận trong và ngoài nước, kết hợp khảo sát thực tiễn lập pháp và quản lý đô thị qua các thời kỳ lịch sử của Việt Nam. Luận án tập trung giải quyết khoảng trống về cơ sở lý luận và căn cứ pháp lý xác định mô hình tổ chức bộ máy hành chính đô thị phù hợp với đặc thù quản lý không gian tập trung và yêu cầu của nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần có sự quản lý của Nhà nước.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án vận dụng các khái niệm và cơ sở lý thuyết nền tảng sau:

  • Quan niệm về "Đô thị": Đô thị là điểm dân cư tập trung tách rời khỏi nông thôn của những người hoạt động trong các ngành nghề phi nông nghiệp. Đô thị phát triển ở thời kỳ mà thế lực của giai cấp phong kiến suy giảm và đất nước bước vào thời kỳ sản xuất công nghiệp. Luận án viện dẫn quan điểm của C. Mác về sự khác biệt giữa đô thị phương Tây cổ điển (thành phố dựa trên sở hữu ruộng đất và nông nghiệp) và đô thị châu Á cổ - trung đại (thể thống nhất không phân biệt ranh giới rạch ròi giữa thành thị và nông thôn, đô thị như "cục bướu mọc trên chế độ kinh tế"). Luận án cũng đối chiếu với tiêu chuẩn đô thị quốc tế được thảo luận tại Hội nghị Prague (Tiệp Khắc) với hai tiêu chí: số dân cư từ 2.000 người trở lên và tỷ lệ dân số nông nghiệp không quá 25% (lao động phi nông nghiệp đạt từ 75% trở lên), từ đó chỉ ra nét đặc thù của mạng lưới dân cư Việt Nam.
  • Quan niệm về "Hành chính", "Nền hành chính" và "Hành chính đô thị": Thuật ngữ hành chính được phân tích theo 4 nghĩa: (1) Hoạt động quản lý của cơ quan Nhà nước; (2) Các cơ quan chấp hành của quyền lực Nhà nước, bộ máy Chính phủ; (3) Những người có chức vụ, ban giám đốc, ban lãnh đạo cơ quan, xí nghiệp; (4) Người điều hành, người chịu trách nhiệm chính tổ chức hoạt động cơ quan, xí nghiệp. Hành chính đô thị được tác giả định nghĩa là cơ cấu tổ chức và hoạt động của bộ máy quản lý hành chính đô thị, bao hàm luật pháp quốc gia nói chung và luật pháp quản lý đô thị nói riêng, tổ chức bộ máy quản lý hành chính và đội ngũ cán bộ, công chức quản lý đô thị.

Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu:

  • Phương pháp luận: Dưới góc độ lý luận Nhà nước pháp quyền, luận án quán triệt các nguyên tắc phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng các quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về đổi mới hệ thống chính trị và cải cách nền hành chính quốc gia.
  • Khoa học liên ngành: Vận dụng tri thức của khoa học chính trị, khoa học quản lý, khoa học pháp lý và khoa học lịch sử.
  • Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Phương pháp tiếp cận hệ thống, phương pháp so sánh pháp lý, kết hợp giữa lôgíc và lịch sử, phương pháp phân tích và tổng hợp số liệu, sự kiện lịch sử.

Nguồn tư liệu, dữ liệu:

  • Văn bản pháp luật qua các thời kỳ: Quốc triều hình luật (Luật Hồng Đức), Sắc lệnh số 77 ngày 21/12/1945, Hiến pháp năm 1946 và 1959, Thông tư số 634/TTg ngày 28/12/1957, Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 1958, Luật tổ chức HĐND và UBHC các cấp năm 1962, Luật tổ chức HĐND và UBND các năm 1983, 1989, 1994.
  • Nguồn sử liệu và thư tịch cổ: Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú, An Nam chí nguyên của Cao Hùng Trưng.
  • Ghi chép của các thương nhân, học giả nước ngoài: G. Marini, X. Dampier, S. Baron, Bourdes.
  • Tài liệu lưu trữ thời kỳ Pháp thuộc: Các Sắc lệnh Tổng thống Pháp, Nghị định của Toàn quyền Đông Dương và Thống đốc Nam Kỳ, tài liệu thống kê địa danh Nomenclature des villages du Tonkin (1923), số liệu tổ chức cảnh sát và hội đồng thành phố các năm 1905, 1928, 1937, 1941.

Nội dung chính theo từng chương

Luận án có kết cấu gồm phần Mở đầu, 3 chương nội dung, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục.

Chương 1: Hành chính đô thị Việt Nam - Quá trình hình thành và phát triển

Chương 1 tập trung phân tích tiến trình hình thành các đô thị cổ truyền và cận đại tại Việt Nam, làm rõ các quy luật cấu trúc và phương thức quản lý hành chính qua hai giai đoạn lịch sử lớn.

1. Đặc điểm của đô thị Việt Nam trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945

Sự hình thành đô thị cổ truyền Việt Nam là sự kết hợp giữa ba yếu tố cơ bản: "Đô", "Thành" và "Thị":

  • Giai đoạn Cổ Loa, Hoa Lư: Đô thị thiên về chức năng quân sự và chính trị, lấy "Đô" và "Thành" làm trọng tâm.
  • Giai đoạn Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội (từ năm Canh Tuất 1010): Đô thị kết hợp đầy đủ cả ba yếu tố "Đô", "Thành" và "Thị", trở thành trung tâm chính trị, văn hóa và kinh tế của cả nước.
  • Tính độc lập của yếu tố "Thị": Có những trung tâm thương mại xuất hiện độc lập như Vân Đồn, Phố Hiến, Hội An. Tuy nhiên, Phố Hiến sau đó giải thể và sáp nhập vào ảnh hưởng của Thăng Long, còn Hội An suy giảm khi trung tâm chính trị chuyển về Đà Nẵng. Yếu tố "Đô" luôn giữ vị trí chi phối.
  • Tính chất "nửa nông thôn, nửa thành thị": Đô thị không tách rời nông thôn. Tại Thăng Long, khu vực "Thập tam trại" ở phía Tây kinh thành bao gồm đất đai của 9 làng nông nghiệp (Liễu Giai, Giảng Võ, Vĩnh Phúc, Đại Yên, Thủ Lệ, Cống Vị, Vạn Bảo, Ngọc Hà, Hữu Tiệp) tồn tại từ thời Lý qua thời Nguyễn. Đình làng tại 160 Hàng Mã vốn thuộc thôn Tân Khai, Tân Lập; các phường nghề nông nghiệp như Toái viên phường (phường trồng tỏi) nằm xen kẽ trong phố thị. Điều 226 Quốc triều hình luật quy định cấp đất trang điền cho quan lại trong kinh thành:

$$\text{Quan nhất phẩm: 3 mẫu; Nhị phẩm: 2 mẫu; Tam phẩm: 1 mẫu; Tứ phẩm: 5 sào; Ngũ phẩm: 3 sào; Lục, thất phẩm: 2 sào}$$

Thợ thủ công các làng nghề (nhuộm Đan Loan - Hải Dương, tiện gỗ Nhị Khê - Hà Đông, da giày Trúc Lâm, Phong Lâm, Văn Lâm - Hải Dương, đúc đồng Đại Bái - Bắc Ninh, vàng bạc Đồng Xâm - Thái Bình) chỉ ra kinh đô làm ăn theo thời vụ rồi trở về quê. Đến thế kỷ XIX, nhà Nguyễn dời kinh đô vào Huế, thành lập tỉnh Hà Nội (gồm huyện Từ Liêm thuộc phủ Hoài Đức sáp nhập với 3 phủ Ứng Hòa, Lý Nhân, Thường Tín thuộc trấn Sơn Nam cũ) và đặt chức Tổng đốc Hà - Ninh cai quản cả Hà Nội và Ninh Bình.

2. Quản lý hành chính đô thị thời kỳ phong kiến

  • Quy hoạch không gian: Thăng Long xây dựng theo mô hình ba vòng thành: vòng trong cùng là Đại Nội (Tử Cấm Thành hay Long Thành, xây dựng trên dấu tích Tử Cấm Thành do Khâu Hòa xây năm Tân Tỵ 621 có chu vi 900 bộ, tức 1.800 thước); vòng thứ hai là Hoàng Thành; vòng ngoài cùng là thành Đại La (dựa trên dấu tích thành do Cao Biền quy hoạch năm 865 - 866). Khu vực giữa Hoàng Thành và Đại La Thành trở thành 36 phố phường.
  • Phân cấp và cơ cấu bộ máy: Đô thị lớn được phân cấp tương đương cấp tỉnh; dưới tỉnh là huyện; dưới huyện là phường (ở khu thương nghiệp) và thôn (ở khu nông nghiệp). Nhà Trần năm Canh Dần 1230 chia Thăng Long thành 61 phường. Cấp đô thị có chức Phủ doãn (thời Trần ban đầu gọi là Kinh thành hành giác ty, thời Thánh Tông đổi thành Kinh sư đại an phủ sứ, thời Hiển Tông đổi thành Trung đô doãn; thời Lê Thánh Tông đặt Phụng thiên phủ doãn và Thiếu doãn, phẩm trật chánh ngũ phẩm). Chức Đề lĩnh (từ thời Lê Tương Dực đặt Tứ thành vệ Đề lĩnh gồm Chưởng Đề lĩnh, Phó Đề lĩnh, Đồng Đề lĩnh - hàm tòng nhất, tòng nhị phẩm). Ở cấp cơ sở phường có ba chức quan quản lý: Phường chính, Phường sử và Phường giám (tương đương Xã chính, Xã sử, Xã giám ở nông thôn).
  • Quản lý kinh tế, thuế khóa và ngoại thương: Nhà nước phong kiến thực hiện chế độ công tượng tại các Cục bách tác và thu thuế thổ sản (thời Nguyễn gọi là thuế biệt nạp). Thợ thủ công tổ chức thành các "Tượng cục" do Tượng mục đứng đầu (được ban chức Tòng cửu phẩm). Phố Hàng Bạc có Trương Đình (số 50) và Kim Ngân Đình (số 42) là nơi giao nộp sản phẩm bạc cho Ty quan. Biểu thuế sát sinh trâu bò năm Đinh Mùi 1727 tại 8 chợ Thăng Long được quy định cụ thể:
Tên chợ tại kinh thành Thăng Long Mức thuế đóng niên Hiện vật đi kèm
Chợ Cửa Đông 318 quan 8 tiền 300 tấm da trâu (1 quan 5 tiền/tấm)
Chợ Cửa Nam 318 quan 8 tiền 100 tấm da trâu
Chợ Huyện 318 quan 8 tiền 100 tấm da trâu
Chợ Đình Ngang 318 quan 8 tiền 100 tấm da trâu
Chợ Bà Đá 318 quan 8 tiền 100 tấm da trâu
Chợ Văn Cử 19 quan 2 tiền quý Không thu hiện vật da
Chợ Bắc Cử Mới lập, chưa đánh thuế Không thu hiện vật da
Chợ Ông Nước 48 quan 8 tiền Không thu hiện vật da

Về ngoại thương, triều đình áp dụng chính sách hạn chế: Năm Canh Dần 1650 (Lê Thần Tông - Trịnh Tráng) cấm tàu buôn Hoa Lang (Pháp), Ô Lan (Hà Lan), Nhật Bản, Phúc Kiến trực tiếp vào Thăng Long, chỉ cho lưu trú tại Thanh Trì, Khuyến Lương hoặc Án Thượng; năm Mậu Ngọ 1678 quy định trạm tập kết tại Cao Đào (Gia Lâm) và Vạn Lai Triều (Phố Hiến). Về sau mới cho mở thương điếm (Pháp năm 1669, Anh năm 1672, Hà Lan năm 1700 tại Phố Hiến và Kẻ Chợ; tại Hội An năm Tân Mão 1771 có 16 tàu buôn nước ngoài nộp 30.000 quan tiền thuế).

  • Trật tự, trị an và tư pháp: Quốc triều hình luật dành riêng chương Vệ cấm gồm 47 điều bảo vệ kinh thành. Điều 68 xử phạt đi đêm không cầm đèn (phạt tiền 5 quan với quan lục phẩm trở lên; phạt xuy 50 roi với quan thất phẩm trở xuống; phạt 60 trượng với thường dân; mang dao gậy đày làm lính Chủng điền); Điều 69 phạt tội đánh trống gõ phách ban đêm; Điều 158 quy định trách nhiệm ứng cứu khi xảy ra cướp giáp hạt trong phố phường; Điều 587 và 588 khống chế lãi suất vay nợ (1 quan tiền lấy lãi không quá 15 đồng kẽm/tháng).

3. Quản lý hành chính đô thị thời kỳ cận đại (Pháp thuộc)

Chính quyền thuộc địa phân loại hệ thống đô thị thành ba cấp:

  • Thành phố cấp I: Hà Nội, Hải Phòng (thành lập theo Sắc lệnh của Tổng thống Pháp ngày 19/7/1888) và Sài Gòn (thành lập theo Sắc lệnh ngày 8/1/1877). Đứng đầu là Đốc lý (Maire) kiêm Chủ tịch Hội đồng thành phố.
  • Thành phố cấp II: Chợ Lớn (Nghị định Thống đốc Nam Kỳ ngày 20/10/1879) và Đà Nẵng (Nghị định Toàn quyền Đông Dương ngày 24/5/1889). Đứng đầu là Đốc lý cùng Ủy ban thành phố tư vấn.
  • Thành phố cấp III: Được nâng cấp từ các thị xã, gồm Nam Định (1921), Hải Dương (1923), Đà Lạt (1920), Vinh - Bến Thủy (1927), Thanh Hóa (1929), Huế (1929), Quy Nhơn (1930), Phan Thiết (1933), Bạc Liêu, Cần Thơ, Rạch Giá (1928), Long Xuyên (1935), Mỹ Tho (1938). Đứng đầu là Công sứ kiêm Đốc lý (Résident Maire), có một quan chức người Việt làm Phó Chủ tịch Ủy ban thành phố.

Tổ chức Hội đồng thành phố Hà Nội thể hiện sự phân biệt quyền lợi đại diện sâu sắc:

Thời điểm quy định Tổng số đại biểu HĐTP Đại biểu người Pháp Đại biểu người Việt Tỷ lệ đại diện dân số (Năm 1937)
Giai đoạn đầu 16 người 14 người 2 người Không ghi nhận
Năm 1928 18 người 12 người 6 người 2.000 dân Pháp có 12 đại biểu; 180.000 dân Việt có 6 đại biểu (30.000 dân/đại biểu)
Năm 1941 22 người 12 người 10 người Không ghi nhận

Bộ máy cảnh sát làm công cụ quản lý trật tự và thu phạt: Năm 1905, cảnh sát Hà Nội gồm 65 người Pháp (2 thư ký, 2 thanh tra, 2 đội trưởng, 6 đội phó, 53 nhân viên) và 101 người Việt (2 thông ngôn, 1 đội trưởng, 6 đội phó, 92 nhân viên). Đến năm 1937 tăng lên 314 người và giai đoạn 1941 - 1945 đạt 3.500 người. Dưới thành phố duy trì cấp huyện, hộ (quartier), làng và phường (theo sách Nomenclature des villages du Tonkin năm 1923, Hà Nội có 8 hộ, 18 làng và các phố).


Chương 2: Thực trạng pháp lý và việc tổ chức bộ máy hành chính đô thị hiện nay

Chương 2 phân tích các giai đoạn phát triển pháp luật về tổ chức bộ máy hành chính đô thị tại Việt Nam từ năm 1945 đến thập niên 1990:

1. Pháp luật và quá trình hình thành, phát triển tổ chức bộ máy

  • Sắc lệnh số 77 ngày 21/12/1945: Thiết lập mô hình chính quyền đô thị gồm: Hội đồng nhân dân thành phố, Ủy ban hành chính thành phố và Ủy ban hành chính khu phố (riêng thành phố Đà Lạt không lập HĐND và UBHC thành phố mà chỉ lập UBHC khu phố theo Điều 3). HĐND thành phố là cơ quan thay mặt cho nhân dân thành phố, có quyền quyết nghị các vấn đề của thành phố nhưng chịu sự giám sát, phê chuẩn chặt chẽ của cấp trên (thời gian có hiệu lực nghị quyết sau 15 ngày). UBHC thành phố vừa thay mặt nhân dân địa phương vừa thay mặt Chính phủ, nắm giữ 10 quyền hạn lớn (bao gồm quyền điều khiển đội canh binh và điều động quân đội đóng trong thành phố theo Điều 39).
  • Luật tổ chức chính quyền địa phương ngày 31/5/1958 và Thông tư số 634/TTg ngày 28/12/1957: HĐND được định vị lại là "cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương", có thẩm quyền bầu, bãi miễn thành viên UBHC và phê chuẩn dự toán ngân sách. UBHC được bổ sung các chức năng quản lý kinh tế, văn hóa - xã hội và kiến thiết đô thị.
  • Luật tổ chức HĐND và UBHC các cấp năm 1962 (dưới Hiến pháp năm 1959): Lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp, các điều khoản phân định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND thành phố trực thuộc tỉnh, HĐND thị xã (Điều 17) và HĐND khu phố (Điều 18); đồng thời quy định thành lập các ban của HĐND (Điều 28, 29) và xác lập nguyên tắc các cơ quan chuyên môn trực thuộc UBHC chịu sự lãnh đạo song trùng (vừa trực thuộc UBHC cùng cấp, vừa chịu chỉ đạo chuyên môn của cơ quan cấp trên theo Điều 56).
  • Giai đoạn Luật năm 1983, Luật năm 1989 và Luật năm 1994: Luận án điểm lại quá trình thể chế hóa các nguyên tắc tổ chức HĐND và UBND qua các thời kỳ sửa đổi, khẳng định sự cần thiết phải phân định ranh giới quản lý giữa địa bàn nông thôn và địa bàn đô thị.

2. Thực tiễn tổ chức, hoạt động và nguyên nhân tồn tại

  • Thực trạng hoạt động: Sự vận hành của bộ máy hành chính đô thị đứng trước yêu cầu thích ứng với cơ chế kinh tế hàng hóa nhiều thành phần có sự quản lý của Nhà nước. Tình trạng chia cắt theo cấp hành chính lãnh thổ dẫn tới hiện tượng "cắt khúc", chồng chéo giữa quản lý ngành và quản lý lãnh thổ, làm suy giảm tính liên thông của hạ tầng đô thị.
  • Nguyên nhân của các hạn chế:
    • Về thể chế: Hệ thống văn bản pháp lý về quản lý đô thị thiếu tính đồng bộ; cơ chế phân cấp giữa trung ương và chính quyền đô thị chưa tương xứng với quy mô phát triển.
    • Về bộ máy: Cấu trúc tổ chức còn cồng kềnh, phân định thẩm quyền giữa HĐND và UBND chưa rành mạch; phương thức chỉ đạo còn nặng tính mệnh lệnh hành chính quan liêu.
    • Về cán bộ, công chức: Đội ngũ công chức hành chính đô thị thiếu hụt kiến thức quản trị đô thị hiện đại, kỹ năng hành chính và pháp lý chưa đáp ứng yêu cầu công tác trong nền kinh tế thị trường.

Chương 3: Đổi mới tổ chức bộ máy hành chính đô thị - Phương hướng và giải pháp

Chương 3 xây dựng hệ thống các yêu cầu và giải pháp cải cách bộ máy hành chính đô thị:

1. Yêu cầu khách quan và đặc thù quản lý đô thị

  • Xác định vị trí, vai trò của hành chính đô thị hiện đại là trung tâm động lực phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của từng vùng và cả nước trong nền hành chính quốc gia thống nhất.
  • Nhận diện các đặc thù của đô thị: Tính thống nhất cao về không gian địa lý, mật độ dân cư tập trung, sự liên hoàn của hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật (giao thông, cấp thoát nước, năng lượng, vệ sinh môi trường) đòi hỏi phương thức quản lý tập trung, nhanh chóng và thông suốt, tránh tình trạng bị phân mảnh bởi ranh giới hành chính cục bộ.

2. Phương hướng đổi mới tổ chức bộ máy

  • Đổi mới tổ chức bộ máy hành chính đô thị phải đặt trong tổng thể tiến trình cải cách nền hành chính quốc gia, gắn liền với việc xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam.
  • Bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ, kết hợp hài hòa giữa quản lý theo ngành và quản lý theo lãnh thổ; tinh giản đầu mối, phân định rõ thẩm quyền và trách nhiệm của từng cấp chính quyền đô thị.

3. Các nhóm giải pháp cụ thể

  • Đổi mới thể chế hành chính đô thị: Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về quản lý đô thị; sửa đổi, bổ sung Luật tổ chức HĐND và UBND theo hướng phân định rõ chế độ chính quyền đô thị khác biệt với chính quyền nông thôn; ban hành các quy chế quản lý quy hoạch, trật tự xây dựng, đất đai và tài chính - ngân sách đô thị.
  • Đổi mới tổ chức bộ máy hành chính đô thị: Tái cơ cấu các cơ quan chuyên môn theo hướng đa ngành, đa lĩnh vực; xác định rõ thẩm quyền quyết định và trách nhiệm cá nhân của Chủ tịch UBND đô thị; bảo đảm sự chỉ đạo tập trung, thông suốt của UBND cấp trên đối với UBND cấp dưới trên cùng địa bàn đô thị.
  • Đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ, công chức quản lý đô thị: Đổi mới quy chế tuyển dụng, bố trí, sắp xếp công chức theo tiêu chuẩn ngạch bậc chuyên nghiệp; xây dựng chương trình đào tạo, bồi dưỡng kiến thức pháp lý, kỹ năng hành chính công và quản trị đô thị hiện đại cho đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền địa phương.

Kết quả và những đóng góp mới

  1. Về mặt khoa học và lý luận: Luận án là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống về đổi mới bộ máy hành chính đô thị Việt Nam trong bối cảnh cải cách nền hành chính quốc gia. Luận án góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò, địa vị pháp lý của chính quyền đô thị trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần có sự quản lý của Nhà nước; phân tích mối quan hệ giữa các cơ quan hành chính nhà nước tại địa phương và yêu cầu thống nhất quản lý không gian đô thị.
  2. Về mặt thực tiễn và lập pháp: Luận án luận giải phương án đổi mới tổ chức bộ máy chính quyền đô thị nhằm bảo đảm dân chủ hóa đời sống xã hội đi đôi với nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước. Công trình cung cấp các luận cứ khoa học trực tiếp phục vụ việc bổ sung, hoàn thiện Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân; đồng thời đề xuất các định hướng cụ thể về đổi mới quy chế thể chế, tinh gọn bộ máy và cải cách công tác đào tạo cán bộ, công chức hành chính đô thị.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án tiếp cận chủ yếu dưới giác độ khoa học pháp lý chuyên ngành Lý luận Nhà nước và Pháp quyền, do đó các vấn đề về quản trị kỹ thuật chuyên ngành đô thị (như kinh tế học đô thị, kỹ thuật quy hoạch hạ tầng vi mô) chỉ được xem xét ở mức độ làm cơ sở xác định thẩm quyền và cơ chế pháp lý. Ngoài ra, nguồn dữ liệu khảo sát thực chứng phản ánh các quy định pháp luật và hiện trạng tổ chức bộ máy tính đến thời điểm bảo vệ năm 1996.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần tiếp tục nghiên cứu sâu việc hoàn thiện cơ chế phân cấp tài chính - ngân sách đô thị, xây dựng mô hình tòa thị chính hoặc chính quyền đô thị tự quản phù hợp với tiến trình đô thị hóa nhanh và hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng hơn trong các giai đoạn tiếp theo.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo cho:

  • Nghiên cứu sinh, học viên, giảng viên: Thuộc các chuyên ngành Luật học (Lý luận Nhà nước và Pháp quyền, Luật Hành chính), Khoa học Quản lý, Quản lý công và Xây dựng chính quyền nhà nước.
  • Cơ quan hoạch định chính sách, lập pháp: Cung cấp tư liệu lịch sử - pháp lý có hệ thống về các mô hình tổ chức bộ máy hành chính đô thị Việt Nam (từ các triều đại Lý, Trần, Lê, Nguyễn đến thời kỳ Pháp thuộc và giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1994) nhằm phục vụ việc sửa đổi, bổ sung các đạo luật về tổ chức chính quyền địa phương.
  • Nội dung giá trị nhất: Phần tổng kết lịch sử quy hoạch và quản lý đô thị thời phong kiến (các sắc lệnh, ngạch thuế chợ, cơ chế Tượng cục, điều khoản Quốc triều hình luật) và phân tích tiến trình lập pháp giai đoạn 1945 - 1962 (Sắc lệnh 77/1945, Luật năm 1958, Luật năm 1962).

Câu hỏi thường gặp

1. Theo luận án, yếu tố nào chi phối chủ yếu sự hình thành và diện mạo của đô thị Việt Nam thời kỳ phong kiến?
Yếu tố "Đô" (trung tâm chính trị, quân sự, nơi đặt triều đình) giữ vị trí chi phối chủ yếu. Sự hình thành đô thị cổ truyền là sự kết hợp giữa ba yếu tố "Đô", "Thành" và "Thị", trong đó "Đô" và "Thành" đóng vai trò hạt nhân bảo vệ, còn "Thị" phát triển phụ thuộc và thường mang tính chất "nửa nông thôn, nửa thành thị".

2. Tỷ lệ đại diện của người Việt và người Pháp trong Hội đồng thành phố Hà Nội năm 1937 được văn bản ghi nhận như thế nào?
Năm 1937, dân số Hà Nội có 180.000 người Việt và 2.000 người Pháp. Trong Hội đồng thành phố, 2.000 người Pháp chiếm 12 ghế đại biểu, trong khi 180.000 người Việt chỉ có 6 ghế đại biểu (tương ứng tỷ lệ 30.000 người dân Việt Nam mới có 1 đại biểu đại diện).

3. Sắc lệnh số 77 ngày 21/12/1945 quy định cơ cấu tổ chức bộ máy thành phố gồm những cơ quan nào?
Sắc lệnh 77 quy định ở mỗi thành phố đặt ba cơ quan: Hội đồng nhân dân thành phố, Ủy ban hành chính thành phố và Ủy ban hành chính khu phố (riêng thành phố Đà Lạt không tổ chức HĐND và UBHC thành phố mà chỉ có UBHC khu phố theo Điều 3).

4. Điểm mới quan trọng của Luật tổ chức HĐND và UBHC các cấp năm 1962 đối với chính quyền đô thị là gì?
Đây là đạo luật đầu tiên quy định riêng biệt nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND thành phố thuộc tỉnh, HĐND thị xã (Điều 17) và HĐND khu phố (Điều 18), đánh dấu bước tiến trong kỹ thuật lập pháp phân định thẩm quyền chính quyền đô thị khác biệt với các vùng lãnh thổ khác.

5. Luận án đề xuất những trụ cột giải pháp nào để đổi mới bộ máy hành chính đô thị?
Luận án đề xuất ba trụ cột giải pháp chính: (1) Đổi mới thể chế hành chính đô thị; (2) Đổi mới cơ cấu tổ chức bộ máy hành chính đô thị bảo đảm tính chỉ đạo tập trung, thông suốt; (3) Đổi mới công tác đào tạo, đào tạo lại và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức quản lý đô thị.


Kết luận

Luận án "Đổi mới tổ chức bộ máy hành chính đô thị trong cải cách nền hành chính quốc gia ở nước ta hiện nay" của tác giả Đỗ Xuân Đông là công trình nghiên cứu hệ thống dưới giác độ Lý luận Nhà nước và Pháp quyền về quản lý hành chính đô thị tại Việt Nam. Bằng việc kết hợp phương pháp luận lịch sử - cụ thể với phân tích thực trạng pháp lý từ năm 1945 đến năm 1994, công trình đã làm sáng tỏ các quy luật phát triển đặc thù của đô thị Việt Nam qua các thời kỳ. Luận án cung cấp hệ thống luận cứ khoa học phục vụ hoàn thiện thể chế, tổ chức bộ máy và nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, đáp ứng yêu cầu của công cuộc cải cách nền hành chính quốc gia trong thời kỳ đổi mới.