Luận án tiến sĩ về nhiệm vụ kinh tế gắn với quốc phòng an ninh ở Tây Nguyên giai đoạn 1985-2013

Luận án phân tích nhiệm vụ kinh tế gắn với quốc phòng an ninh tại Tây Nguyên giai đoạn 1985-2013, cung cấp cái nhìn sâu sắc về phát triển khu vực.

Trường đại học

Đại học Huế

Chuyên ngành

Lịch sử Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2020

167
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1.1. Lý do chọn đề tài

1.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

1.4. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

1.5. Đóng góp của luận án

1.6. Bố cục của luận án

1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1.1. Nhóm các công trình nghiên cứu về quân đội tham gia xây dựng kinh tế nói chung

1.1.2. Nhóm các công trình nghiên cứu về các đơn vị Kinh tế - Quốc phòng của quân đội

1.1.3. Nhóm các công trình nghiên cứu về các đơn vị quân đội thực hiện kết hợp kinh tế với quốc phòng ở Tây Nguyên

1.2. NHẬN XÉT VỀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

1.2.1. Những nội dung đã được các công trình nghiên cứu, giải quyết mà luận án kế thừa

1.2.2. Những vấn đề luận án tiếp tục giải quyết

2. QUÂN ĐỘI THỰC HIỆN PHÁT TRIỂN KINH TẾ GẮN VỚI CỦNG CỐ QUỐC PHÒNG - AN NINH Ở TÂY NGUYÊN (1985 - 1998)

2.1. NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUÁ TRÌNH QUÂN ĐỘI THỰC HIỆN PHÁT TRIỂN KINH TẾ GẮN VỚI CỦNG CỐ QUỐC PHÒNG - AN NINH Ở TÂY NGUYÊN

2.1.1. Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội Tây Nguyên

2.1.1.1. Điều kiện tự nhiên
2.1.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội. Tình hình an ninh - chính trị

2.1.2. Chủ trương của Đảng về quân đội xây dựng kinh tế gắn với củng cố quốc phòng - an ninh

2.1.2.1. Giai đoạn trước năm 1985
2.1.2.2. Kết quả bước đầu của các đơn vị quân đội xây dựng kinh tế kết hợp quốc phòng ở Tây Nguyên (1973 - 1985)
2.1.2.2.1. Tiếp quản vùng giải phóng; vừa sản xuất, vừa chiến đấu
2.1.2.2.2. Bước đầu xây dựng kinh tế kết hợp với củng cố, giữ vững quốc phòng - an ninh

2.1.3. BINH ĐOÀN 15 RA ĐỜI, BƯỚC ĐỘT PHÁ TRONG XÂY DỰNG KINH TẾ KẾT HỢP QUỐC PHÒNG - AN NINH (1985 - 1998)

2.1.3.1. Sự thành lập Binh đoàn 15
2.1.3.2. Khắc phục khó khăn, ổn định bộ máy tổ chức, nhanh chóng đi vào sản xuất kết hợp củng cố quốc phòng - an ninh

3. QUÂN ĐỘI ĐẨY MẠNH THỰC HIỆN NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN KINH TẾ GẮN VỚI QUỐC PHÒNG - AN NINH Ở TÂY NGUYÊN (1998 - 2013)

3.1. CÁC ĐƠN VỊ KINH TẾ - QUỐC PHÒNG PHÁT TRIỂN TỔ CHỨC, MỞ RỘNG ĐỊA BÀN THỰC HIỆN NHIỆM VỤ (1998 - 2005)

3.1.1. Các khu Kinh tế - Quốc phòng hình thành

3.1.2. Các đơn vị tăng cường phát triển kinh tế, ổn định địa bàn trong các khu Kinh tế - Quốc phòng

3.2. CÁC ĐƠN VỊ KINH TẾ - QUỐC PHÒNG ĐẨY MẠNH CÔNG TÁC DÂN VẬN, ỔN ĐỊNH VÀ PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT (2005 - 2013)

3.2.1. Sự thay đổi về cơ chế quản lý và tổ chức của các đơn vị quân đội kết hợp kinh tế với quốc phòng ở Tây Nguyên

3.2.2. Tháo gỡ những vướng mắc để phát triển kinh tế, tiếp tục giữ vững quốc phòng - an ninh trên địa bàn

4. MỘT SỐ MÔ HÌNH TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG KINH TẾ GẮN VỚI QUỐC PHÒNG - AN NINH Ở TÂY NGUYÊN

4.1. Mô hình Binh đoàn - Tổng Công ty

4.2. Mô hình khu Kinh tế - Quốc phòng Tây Nguyên

4.3. Mô hình “Gắn kết”

4.3.1. “Gắn kết đơn vị và chính quyền địa phương”

4.3.2. “Gắn kết tổ, đội sản xuất với thôn, buôn”

4.3.3. “Gắn kết hộ gia đình”

5. NHẬN XÉT VÀ MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM

5.1. MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM

5.1.1. Nhận thức đúng đắn về nhiệm vụ phát triển kinh tế gắn với củng cố quốc phòng của Quân đội Nhân dân Việt Nam trong thời kì mới

5.1.2. Tăng cường công tác dân vận, gắn bó với cấp ủy, chính quyền và nhân dân địa phương; phát huy vai trò của già làng, trưởng bản trong phát triển kinh tế gắn với củng cố hệ thống chính trị trên địa bàn

5.1.3. Phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức quần chúng trên địa bàn để cùng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ được giao

5.1.4. Chủ động, linh hoạt trong sản xuất, kinh doanh để nâng cao hiệu quả tổng hợp kinh tế - chính trị - văn hóa - xã hội và quốc phòng an ninh

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan tình hình nghiên cứu

Vấn đề nhiệm vụ kinh tế gắn với quốc phòng an ninh đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu. Đặc biệt, trong bối cảnh hiện tại, khi có nhiều ý kiến cho rằng chức năng của quân đội chỉ là chiến đấu, việc nghiên cứu này càng trở nên cần thiết. Các công trình nghiên cứu đã chỉ ra rằng quân đội không chỉ có nhiệm vụ bảo vệ mà còn tham gia tích cực vào phát triển kinh tế. Một số công trình tiêu biểu đã khẳng định vai trò của quân đội trong việc xây dựng kinh tế, củng cố quốc phòng, như cuốn "Học thuyết Mác - Lênin về chiến tranh và quân đội". Công trình này nhấn mạnh rằng quân đội có trách nhiệm tham gia phát triển kinh tế, xây dựng đất nước. Các nghiên cứu từ các quốc gia khác cũng cho thấy quân đội có thể đóng góp vào phát triển kinh tế, như ở Trung Quốc và Lào. Những nghiên cứu này đã tạo nền tảng cho việc hiểu rõ hơn về tình hình kinh tếan ninh quốc gia ở Tây Nguyên.

1.1. Nhóm các công trình nghiên cứu về quân đội tham gia xây dựng kinh tế

Nhiều công trình đã chỉ ra rằng quân đội có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng quân đội không chỉ tham gia vào các hoạt động chiến đấu mà còn có trách nhiệm trong việc xây dựng và phát triển kinh tế. Một số công trình nghiên cứu đã phân tích vai trò của quân đội trong việc phát triển kinh tế ở các quốc gia khác, như Trung Quốc và Lào. Những nghiên cứu này đã chỉ ra rằng quân đội có thể đóng góp vào sự phát triển kinh tế thông qua việc tham gia vào các hoạt động sản xuất và xây dựng cơ sở hạ tầng. Điều này cho thấy rằng việc kết hợp giữa nhiệm vụ kinh tếquốc phòng là một chiến lược quan trọng trong việc đảm bảo an ninh quốc gia.

II. Quân đội thực hiện phát triển kinh tế gắn với củng cố quốc phòng an ninh ở Tây Nguyên 1985 1998

Giai đoạn này chứng kiến sự hình thành và phát triển của Binh đoàn 15, một đơn vị quân đội chuyên trách nhiệm vụ phát triển kinh tế gắn với quốc phòng an ninh. Binh đoàn 15 đã đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng các khu kinh tế - quốc phòng tại Tây Nguyên. Sự thành lập của Binh đoàn 15 không chỉ giúp ổn định tình hình an ninh khu vực mà còn thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương. Các đơn vị quân đội đã thực hiện nhiều chương trình phát triển kinh tế, từ sản xuất nông nghiệp đến xây dựng cơ sở hạ tầng. Những nỗ lực này đã góp phần cải thiện đời sống của người dân, đồng thời củng cố thế trận quốc phòng tại các địa bàn chiến lược. Việc kết hợp giữa nhiệm vụ kinh tếquốc phòng đã chứng minh tính hiệu quả trong việc đảm bảo an ninh quốc gia.

2.1. Những yếu tố tác động đến quá trình quân đội thực hiện phát triển kinh tế

Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội Tây Nguyên đã ảnh hưởng lớn đến quá trình phát triển kinh tế của quân đội. Vùng đất này có nhiều tiềm năng phát triển nhưng cũng đối mặt với nhiều thách thức. Tình hình an ninh chính trị tại Tây Nguyên cũng là một yếu tố quan trọng, ảnh hưởng đến các hoạt động kinh tế của quân đội. Chủ trương của Đảng về việc quân đội tham gia phát triển kinh tế gắn với củng cố quốc phòng - an ninh đã tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị quân đội thực hiện nhiệm vụ này. Những yếu tố này đã tạo ra một môi trường thuận lợi cho việc phát triển kinh tế, đồng thời đảm bảo an ninh khu vực.

III. Quân đội đẩy mạnh thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế gắn với quốc phòng an ninh ở Tây Nguyên 1998 2013

Trong giai đoạn này, các đơn vị quân đội đã đẩy mạnh việc thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế gắn với quốc phòng - an ninh. Các khu kinh tế - quốc phòng đã được hình thành và mở rộng, tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho người dân địa phương. Các đơn vị quân đội đã tích cực tham gia vào công tác dân vận, giúp ổn định và phát triển sản xuất. Sự thay đổi về cơ chế quản lý và tổ chức của các đơn vị quân đội đã giúp nâng cao hiệu quả trong việc kết hợp giữa nhiệm vụ kinh tếquốc phòng. Những mô hình tổ chức và hoạt động kinh tế gắn với quốc phòng - an ninh đã được áp dụng thành công, tạo ra những bài học kinh nghiệm quý giá cho các địa bàn khác trong cả nước.

3.1. Các đơn vị kinh tế quốc phòng phát triển tổ chức mở rộng địa bàn thực hiện nhiệm vụ

Các đơn vị kinh tế - quốc phòng đã không ngừng mở rộng địa bàn hoạt động, từ đó nâng cao hiệu quả trong việc thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế. Sự kết hợp giữa nhiệm vụ kinh tếquốc phòng đã giúp các đơn vị này phát huy tối đa tiềm năng của mình. Các khu kinh tế - quốc phòng đã trở thành những điểm sáng trong việc phát triển kinh tế, đồng thời củng cố an ninh quốc gia. Những mô hình tổ chức và hoạt động kinh tế gắn với quốc phòng - an ninh đã được áp dụng thành công, tạo ra những bài học kinh nghiệm quý giá cho các địa bàn khác trong cả nước.

IV. Nhận xét và một số bài học kinh nghiệm

Quá trình quân đội thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế gắn với quốc phòng - an ninh ở Tây Nguyên đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý giá. Việc nhận thức đúng đắn về nhiệm vụ phát triển kinh tế gắn với củng cố quốc phòng là rất quan trọng. Tăng cường công tác dân vận, gắn bó với cấp ủy, chính quyền và nhân dân địa phương là một trong những yếu tố quyết định đến thành công. Sự chủ động, linh hoạt trong sản xuất, kinh doanh đã giúp nâng cao hiệu quả tổng hợp kinh tế - chính trị - văn hóa - xã hội và quốc phòng an ninh. Những bài học này không chỉ có giá trị cho Tây Nguyên mà còn có thể áp dụng cho các địa bàn chiến lược khác trong cả nước.

4.1. Một số bài học kinh nghiệm

Một số bài học kinh nghiệm từ quá trình quân đội thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế gắn với quốc phòng - an ninh bao gồm: Nhận thức đúng đắn về nhiệm vụ phát triển kinh tế gắn với củng cố quốc phòng; Tăng cường công tác dân vận, gắn bó với cấp ủy, chính quyền và nhân dân địa phương; Phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức quần chúng trên địa bàn. Những bài học này sẽ giúp nâng cao hiệu quả trong việc thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế gắn với quốc phòng - an ninh trong thời gian tới.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI Vấn đề quân đội tham gia xây dựng, phát triển kinh tế gắn với quốc phòng - an ninh lâu nay đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu. Đặc biệt là trong bối cảnh hiện tại, khi mà có không ít ý kiến cho rằng chức năng của quân đội là chiến đấu và huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, quân đội không nên làm kinh tế… thì vấn đề này càng được các nhà nghiên cứu tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau. Ngay cả khi Binh đoàn 15 - đơn vị quân đội chuyên trách nhiệm vụ xây dựng kinh tế gắn với củng cố quốc phòng - an ninh ở Tây Nguyên ra đời, đạt được những thành tựu nhất định thì mô hình này cũng chưa phải đã tạo được sự đồng thuận ngay trong nhận thức của nhiều người.

Chính vì vậy mà liên quan đến chủ đề này đã có khá nhiều công trình, bài viết được công bố; có thể khu trú vào một số nhóm cơ bản sau đây: 1. Nhóm các công trình nghiên cứu về quân đội tham gia xây dựng kinh tế nói chung Đặt nền tảng cho việc nghiên cứu vấn đề kết hợp kinh tế với quốc phòng cũng như vai trò của quân đội trong hoạt động tham gia xây dựng kinh tế, đã có nhiều công trình mang tính hệ thống về mặt lý luận, đáng chú ý nhất là cuốn Học thuyết Mác - Lênin về chiến tranh và quân đội (Nxb Quân đội Nhân dân, 1975). Công trình khẳng định: Quân đội là tổ chức quân sự của nhà nước xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản lãnh đạo, mang bản chất giai cấp công nhân, gắn bó máu thịt với nhân dân. Do bản chất của chế độ và chức năng quy định nên quân đội không chỉ chiến đấu bảo vệ thành quả cách mạng mà còn có nhiệm vụ tham gia phát triển kinh tế, xây dựng đất nước.

Tại nhiều quốc gia phụ cận, có điều kiện và đặc thù chiến tranh nhân dân tương đồng với Việt Nam, vấn đề quân đội tham gia vào xây dựng kinh tế, củng cố quốc phòng trong thời bình cũng đã sớm được quan tâm, nghiên cứu. Từ đầu thập niên 50 của thế kỉ XX, khi tình hình đất nước đi vào ổn định, chính quyền Trung Quốc đã thành lập Binh đoàn sản xuất và xây dựng Tân Cương với nhiệm vụ thúc đẩy, phát triển kinh tế, đảm bảo ổn định xã hội và hòa hợp dân 6 luan an tộc, cũng như củng cố phòng thủ vùng biên giới. Năm 1985, Trung Quốc cho phép quân đội tham gia các hoạt động thương mại trong lĩnh vực dân dụng dưới hình thức các doanh nghiệp nhà nước. Những nội dung này đã được thể hiện trong các công trình: Vai trò của Quân giải phóng nhân dân trong nền kinh tế và đối ngoại của Trung Quốc của Bondan O.Szuprowicz (Nxb Quân đội Nhân dân, 1977); Hoạt động kinh tế của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc của A.Abadop (Nxb Quân đội Nhân dân, 1998),… Bondan cho rằng: Quân đội Trung Quốc là tổ chức duy nhất trong các tổ chức quân sự trên thế giới, tham gia rộng khắp vào công cuộc phát triển kinh tế và có vai trò đảm bảo sức mạnh kinh tế cho đất nước.

Các công trình trên cũng cho biết quân đội Trung Quốc đã và đang tham gia phát triển kinh tế có hiệu quả ở nhiều ngành khác nhau như: giao thông vận tải, công nghiệp dược, kinh doanh khách sạn, xây dựng nhà ở, công nghiệp nhẹ, viễn thông,… lợi nhuận đóng góp lớn vào ngân quỹ của quân đội Trung Quốc. Cũng nghiên cứu về quân đội xây dựng kinh tế, luận án Phát triển các doanh nghiệp quân đội nhân dân Lào trong quá trình xây dựng kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế của Vongack Phanthavong (Đại học Kinh tế quốc dân, 2010) tập trung phân tích, làm rõ đặc điểm của các doanh nghiệp quân đội tại Lào. Vongack Phanthavong phân tích cụ thể sự giống nhau về bản chất của doanh nghiệp quân đội Lào và Việt Nam: đều hoạt động theo Luật doanh nghiệp của Nhà nước và những quy định của Bộ Quốc phòng; kinh doanh phải đạt hiệu quả, nhiệm vụ quốc phòng phải đảm bảo; có loại hình doanh nghiệp sản xuất kinh doanh và doanh nghiệp sản xuất quốc phòng. Tuy nhiên, ở Lào còn có loại hình doanh nghiệp cho thuê và giao khoán chỉ tiêu ngân sách, không có loại hình doanh nghiệp Kinh tế - Quốc phòng như Việt Nam; một số doanh nghiệp quân đội Lào có vốn hoặc liên doanh hợp tác với Việt Nam, Trung Quốc, Thái Lan,… Công trình cũng so sánh: Các doanh nghiệp quân đội ở Lào ra đời từ năm 1984, quá trình phát triển mặc dù đã đạt được một số thành tựu song với số lượng ít, quy mô, cơ cấu nhỏ, mô hình này chưa có nhiều đóng góp cho sự phát triển và hội nhập của đất nước; trong khi đó, các doanh nghiệp quân đội ở Việt Nam đã thực sự trở thành một lực lượng đáng kể và đóng vai trò nhất định trong nền kinh tế quốc dân.

Tác giả rút ra kết luận:“Quân đội Nhân dân Việt Nam luôn luôn nhấn mạnh và tập trung vào vấn đề gắn liền nhiệm vụ kinh tế với nhiệm vụ quốc phòng - an ninh 7 luan an và đã tìm ra được giải pháp rất hiệu quả để thực hiện xuất sắc hai nhiệm vụ đó. Hai giải pháp cơ bản là: Thứ nhất, giao cho một số đơn vị triển khai mô hình quân đội làm nhiệm vụ kinh tế kết hợp với nhiệm vụ quốc phòng trên những địa bàn chiến lược; Thứ hai, tập trung các nguồn lực của Nhà nước, quân đội và những lực lượng tại chỗ để xây dựng những khu Kinh tế - Quốc phòng” [180; tr. Một số doanh nghiệp quân đội Lào có vốn đầu tư từ Việt Nam như Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Liên doanh 20 - 1, Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Liên doanh dệt nhuộm Lào - Việt Nam,… Đặc biệt, Tổng Công ty phát triển nông lâm - công nghiệp toàn diện (miền Nam) đứng chân trên các tỉnh biên giới Chămpasac, Attapư, Xêkong, Xalavan, Savanakhet đã mở ra mối quan hệ hợp tác trong việc thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế gắn với củng cố quốc phòng - an ninh với Việt Nam. Hiện tượng quân đội tham gia phát triển kinh tế dưới các hình thức khác nhau khá phổ biến ở trên thế giới như tại Đức, Nhật Bản, Malaixia, Inđônêxia, Thái Lan, Đài Loan,.

Với những đóng góp đã được ghi nhận, quân đội không chỉ là lực lượng tích cực trong xây dựng kinh tế mà còn được xem là phương thức thực hiện chiến lược kinh tế kết hợp quốc phòng tại nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Nhiều công trình nghiên cứu về kết hợp kinh tế với quốc phòng đã đề cập đến vai trò của Quân đội Nhân dân Việt Nam trong việc thực hiện nhiệm vụ chiến lược này, có thể kể đến: Vấn đề kết hợp kinh tế với quốc phòng ở Việt Nam (Nxb Quân đội Nhân dân, 1980) của Trần Xuân Trường và Nguyễn Anh Bắc; Mấy vấn đề về bảo đảm kinh tế cho quốc phòng ở nước ta hiện nay (Nxb Quân đội Nhân dân, 1986) của Nguyễn Đường và Nguyễn Anh Bắc; Kết hợp kinh tế với quốc phòng ở nước ta hiện nay (Nxb Quân đội Nhân dân, 2008) của Trần Trung Tín. Nội dung cơ bản của những công trình trên chủ yếu tập trung phân tích, luận giải tính khách quan của việc kết hợp kinh tế với quốc phòng; mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với củng cố quốc phòng - an ninh; tiến trình kết hợp kinh tế với quốc phòng trong lịch sử dân tộc cũng như các cách thức, đặc điểm của chiến lược kinh tế kết hợp quốc phòng ở Việt Nam. Các công trình đều khẳng định tính tất yếu và đánh giá cao vai trò tích cực của Quân đội Nhân dân Việt Nam trong tham gia phát triển kinh tế gắn với quốc phòng, xây dựng tiềm lực đất nước.

Trong đó, công trình Kết hợp kinh tế với quốc phòng ở nước ta hiện nay (Nxb Quân đội Nhân dân, 2008) của Trần Trung Tín đã làm rõ một số nội dung cụ 8 luan an thể về vai trò, vị trí của quân đội tham gia xây dựng kinh tế đất nước. Dưới sự trực tiếp chỉ đạo cụ thể và chỉ đạo ngày càng quyết liệt của Đảng Cộng sản Việt Nam, hoạt động tham gia sản xuất của quân đội, trong suốt thời kì Cách mạng giải phóng dân tộc đến giai đoạn cả nước đi lên xã hội chủ nghĩa, không chỉ là phương thức thể hiện đúng đắn của chiến lược kết hợp kinh tế với quốc phòng, mà còn phải trở thành lực lượng nòng cốt thực hiện chiến lược này. Vì vậy, tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế là một nhiệm vụ quan trọng có ý nghĩa chiến lược lâu dài của quân đội. Để tiếp tục thực hiện tốt nhiệm vụ này, quân đội “phải tìm đúng thế mạnh, xây dựng những lực lượng kinh tế - quốc phòng như là “những quả đấm chiến lược” ở những ngành kinh tế mũi nhọn, ở những vùng lãnh thổ chiến lược.

Nói chung, quân đội làm kinh tế là phải chọn việc, chọn nơi, có phương hướng và quy chế rõ ràng, mang lại hiệu quả thiết thực” [154; tr. Tác giả khái quát những kết quả mà lực lượng quân đội xây dựng kinh tế đã làm được qua 3 loại hình: doanh nghiệp quân đội, đoàn Kinh tế - Quốc phòng, đơn vị thường trực tham gia sản xuất. Những thành tựu ấy đã góp phần khắc phục hậu quả chiến tranh; giữ gìn năng lực sản xuất quốc phòng, nâng cao năng lực chiến đấu cho quân đội; tăng nguồn thu cho ngân sách, cải thiện đời sống bộ đội. Quân đội đã trở thành cầu nối giữa Đảng với đồng bào các dân tộc, củng cố lòng tin của nhân dân vùng sâu, vùng xa vào đường lối chính sách của Đảng, tạo thế trận quốc phòng - an ninh trên địa bàn chiến lược và biên giới.

Tác giả đề cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp quân đội: “trong điều kiện cạnh tranh khốc liệt của kinh tế thị trường, vẫn vững vàng bám trụ trên các địa bàn chiến lược, sản xuất ngày càng nhiều sản phẩm cung cấp cho xã hội” [154; tr. Doanh nghiệp quân đội tham gia xây dựng nhiều lĩnh vực, ngành và các vùng kinh tế trọng điểm của đất nước, tác động sâu sắc đến mọi mặt phát triển của đất nước, góp phần đưa Việt Nam nhanh chóng hội nhập kinh tế thế giới. Đối với đoàn Kinh tế - Quốc phòng, Trần Trung Tín cho rằng: “về thực chất đây là những đơn vị quân đội đứng chân trên các địa bàn chiến lược như vùng núi phía Bắc, Tây Nam Bộ, Tây Nguyên,.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ mang tên "Luận án tiến sĩ về nhiệm vụ kinh tế gắn với quốc phòng an ninh ở Tây Nguyên giai đoạn 1985-2013" của tác giả Nguyễn Thùy Trang, dưới sự hướng dẫn của PGS. Trần Ngọc Long và TS. Nguyễn Văn Hoa, tập trung vào việc phân tích mối liên hệ giữa nhiệm vụ kinh tế và quốc phòng an ninh tại khu vực Tây Nguyên trong khoảng thời gian từ 1985 đến 2013. Bài viết không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự phát triển kinh tế trong bối cảnh an ninh quốc gia mà còn nêu bật những thách thức và cơ hội mà khu vực này đã trải qua. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin quý giá về cách thức mà các chính sách kinh tế đã được áp dụng để hỗ trợ cho nhiệm vụ quốc phòng, từ đó mở rộng hiểu biết về mối quan hệ giữa kinh tế và an ninh trong bối cảnh Việt Nam.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan, bạn có thể tham khảo các tài liệu sau: Giải pháp nâng cao hiệu quả xây dựng nông thôn mới tại huyện Thanh Chương, Nghệ An, nơi đề cập đến các giải pháp phát triển kinh tế nông thôn, hay Luận văn cải tiến quy trình phục vụ bàn tại nhà hàng Garden Brasserie, Khách sạn Parkroyal Sài Gòn, liên quan đến quản lý và cải tiến quy trình phục vụ trong lĩnh vực dịch vụ, và cuối cùng là Nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc khách hàng của Mobifone tại Hà Nội, một nghiên cứu về quản lý chất lượng dịch vụ trong ngành viễn thông. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn đa chiều hơn về các khía cạnh kinh tế và quản lý trong bối cảnh hiện đại.