Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI Vấn đề quân đội tham gia xây dựng, phát triển kinh tế gắn với quốc phòng - an ninh lâu nay đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu. Đặc biệt là trong bối cảnh hiện tại, khi mà có không ít ý kiến cho rằng chức năng của quân đội là chiến đấu và huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, quân đội không nên làm kinh tế… thì vấn đề này càng được các nhà nghiên cứu tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau. Ngay cả khi Binh đoàn 15 - đơn vị quân đội chuyên trách nhiệm vụ xây dựng kinh tế gắn với củng cố quốc phòng - an ninh ở Tây Nguyên ra đời, đạt được những thành tựu nhất định thì mô hình này cũng chưa phải đã tạo được sự đồng thuận ngay trong nhận thức của nhiều người.
Chính vì vậy mà liên quan đến chủ đề này đã có khá nhiều công trình, bài viết được công bố; có thể khu trú vào một số nhóm cơ bản sau đây: 1. Nhóm các công trình nghiên cứu về quân đội tham gia xây dựng kinh tế nói chung Đặt nền tảng cho việc nghiên cứu vấn đề kết hợp kinh tế với quốc phòng cũng như vai trò của quân đội trong hoạt động tham gia xây dựng kinh tế, đã có nhiều công trình mang tính hệ thống về mặt lý luận, đáng chú ý nhất là cuốn Học thuyết Mác - Lênin về chiến tranh và quân đội (Nxb Quân đội Nhân dân, 1975). Công trình khẳng định: Quân đội là tổ chức quân sự của nhà nước xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản lãnh đạo, mang bản chất giai cấp công nhân, gắn bó máu thịt với nhân dân. Do bản chất của chế độ và chức năng quy định nên quân đội không chỉ chiến đấu bảo vệ thành quả cách mạng mà còn có nhiệm vụ tham gia phát triển kinh tế, xây dựng đất nước.
Tại nhiều quốc gia phụ cận, có điều kiện và đặc thù chiến tranh nhân dân tương đồng với Việt Nam, vấn đề quân đội tham gia vào xây dựng kinh tế, củng cố quốc phòng trong thời bình cũng đã sớm được quan tâm, nghiên cứu. Từ đầu thập niên 50 của thế kỉ XX, khi tình hình đất nước đi vào ổn định, chính quyền Trung Quốc đã thành lập Binh đoàn sản xuất và xây dựng Tân Cương với nhiệm vụ thúc đẩy, phát triển kinh tế, đảm bảo ổn định xã hội và hòa hợp dân 6 luan an tộc, cũng như củng cố phòng thủ vùng biên giới. Năm 1985, Trung Quốc cho phép quân đội tham gia các hoạt động thương mại trong lĩnh vực dân dụng dưới hình thức các doanh nghiệp nhà nước. Những nội dung này đã được thể hiện trong các công trình: Vai trò của Quân giải phóng nhân dân trong nền kinh tế và đối ngoại của Trung Quốc của Bondan O.Szuprowicz (Nxb Quân đội Nhân dân, 1977); Hoạt động kinh tế của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc của A.Abadop (Nxb Quân đội Nhân dân, 1998),… Bondan cho rằng: Quân đội Trung Quốc là tổ chức duy nhất trong các tổ chức quân sự trên thế giới, tham gia rộng khắp vào công cuộc phát triển kinh tế và có vai trò đảm bảo sức mạnh kinh tế cho đất nước.
Các công trình trên cũng cho biết quân đội Trung Quốc đã và đang tham gia phát triển kinh tế có hiệu quả ở nhiều ngành khác nhau như: giao thông vận tải, công nghiệp dược, kinh doanh khách sạn, xây dựng nhà ở, công nghiệp nhẹ, viễn thông,… lợi nhuận đóng góp lớn vào ngân quỹ của quân đội Trung Quốc. Cũng nghiên cứu về quân đội xây dựng kinh tế, luận án Phát triển các doanh nghiệp quân đội nhân dân Lào trong quá trình xây dựng kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế của Vongack Phanthavong (Đại học Kinh tế quốc dân, 2010) tập trung phân tích, làm rõ đặc điểm của các doanh nghiệp quân đội tại Lào. Vongack Phanthavong phân tích cụ thể sự giống nhau về bản chất của doanh nghiệp quân đội Lào và Việt Nam: đều hoạt động theo Luật doanh nghiệp của Nhà nước và những quy định của Bộ Quốc phòng; kinh doanh phải đạt hiệu quả, nhiệm vụ quốc phòng phải đảm bảo; có loại hình doanh nghiệp sản xuất kinh doanh và doanh nghiệp sản xuất quốc phòng. Tuy nhiên, ở Lào còn có loại hình doanh nghiệp cho thuê và giao khoán chỉ tiêu ngân sách, không có loại hình doanh nghiệp Kinh tế - Quốc phòng như Việt Nam; một số doanh nghiệp quân đội Lào có vốn hoặc liên doanh hợp tác với Việt Nam, Trung Quốc, Thái Lan,… Công trình cũng so sánh: Các doanh nghiệp quân đội ở Lào ra đời từ năm 1984, quá trình phát triển mặc dù đã đạt được một số thành tựu song với số lượng ít, quy mô, cơ cấu nhỏ, mô hình này chưa có nhiều đóng góp cho sự phát triển và hội nhập của đất nước; trong khi đó, các doanh nghiệp quân đội ở Việt Nam đã thực sự trở thành một lực lượng đáng kể và đóng vai trò nhất định trong nền kinh tế quốc dân.
Tác giả rút ra kết luận:“Quân đội Nhân dân Việt Nam luôn luôn nhấn mạnh và tập trung vào vấn đề gắn liền nhiệm vụ kinh tế với nhiệm vụ quốc phòng - an ninh 7 luan an và đã tìm ra được giải pháp rất hiệu quả để thực hiện xuất sắc hai nhiệm vụ đó. Hai giải pháp cơ bản là: Thứ nhất, giao cho một số đơn vị triển khai mô hình quân đội làm nhiệm vụ kinh tế kết hợp với nhiệm vụ quốc phòng trên những địa bàn chiến lược; Thứ hai, tập trung các nguồn lực của Nhà nước, quân đội và những lực lượng tại chỗ để xây dựng những khu Kinh tế - Quốc phòng” [180; tr. Một số doanh nghiệp quân đội Lào có vốn đầu tư từ Việt Nam như Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Liên doanh 20 - 1, Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Liên doanh dệt nhuộm Lào - Việt Nam,… Đặc biệt, Tổng Công ty phát triển nông lâm - công nghiệp toàn diện (miền Nam) đứng chân trên các tỉnh biên giới Chămpasac, Attapư, Xêkong, Xalavan, Savanakhet đã mở ra mối quan hệ hợp tác trong việc thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế gắn với củng cố quốc phòng - an ninh với Việt Nam. Hiện tượng quân đội tham gia phát triển kinh tế dưới các hình thức khác nhau khá phổ biến ở trên thế giới như tại Đức, Nhật Bản, Malaixia, Inđônêxia, Thái Lan, Đài Loan,.
Với những đóng góp đã được ghi nhận, quân đội không chỉ là lực lượng tích cực trong xây dựng kinh tế mà còn được xem là phương thức thực hiện chiến lược kinh tế kết hợp quốc phòng tại nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Nhiều công trình nghiên cứu về kết hợp kinh tế với quốc phòng đã đề cập đến vai trò của Quân đội Nhân dân Việt Nam trong việc thực hiện nhiệm vụ chiến lược này, có thể kể đến: Vấn đề kết hợp kinh tế với quốc phòng ở Việt Nam (Nxb Quân đội Nhân dân, 1980) của Trần Xuân Trường và Nguyễn Anh Bắc; Mấy vấn đề về bảo đảm kinh tế cho quốc phòng ở nước ta hiện nay (Nxb Quân đội Nhân dân, 1986) của Nguyễn Đường và Nguyễn Anh Bắc; Kết hợp kinh tế với quốc phòng ở nước ta hiện nay (Nxb Quân đội Nhân dân, 2008) của Trần Trung Tín. Nội dung cơ bản của những công trình trên chủ yếu tập trung phân tích, luận giải tính khách quan của việc kết hợp kinh tế với quốc phòng; mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với củng cố quốc phòng - an ninh; tiến trình kết hợp kinh tế với quốc phòng trong lịch sử dân tộc cũng như các cách thức, đặc điểm của chiến lược kinh tế kết hợp quốc phòng ở Việt Nam. Các công trình đều khẳng định tính tất yếu và đánh giá cao vai trò tích cực của Quân đội Nhân dân Việt Nam trong tham gia phát triển kinh tế gắn với quốc phòng, xây dựng tiềm lực đất nước.
Trong đó, công trình Kết hợp kinh tế với quốc phòng ở nước ta hiện nay (Nxb Quân đội Nhân dân, 2008) của Trần Trung Tín đã làm rõ một số nội dung cụ 8 luan an thể về vai trò, vị trí của quân đội tham gia xây dựng kinh tế đất nước. Dưới sự trực tiếp chỉ đạo cụ thể và chỉ đạo ngày càng quyết liệt của Đảng Cộng sản Việt Nam, hoạt động tham gia sản xuất của quân đội, trong suốt thời kì Cách mạng giải phóng dân tộc đến giai đoạn cả nước đi lên xã hội chủ nghĩa, không chỉ là phương thức thể hiện đúng đắn của chiến lược kết hợp kinh tế với quốc phòng, mà còn phải trở thành lực lượng nòng cốt thực hiện chiến lược này. Vì vậy, tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế là một nhiệm vụ quan trọng có ý nghĩa chiến lược lâu dài của quân đội. Để tiếp tục thực hiện tốt nhiệm vụ này, quân đội “phải tìm đúng thế mạnh, xây dựng những lực lượng kinh tế - quốc phòng như là “những quả đấm chiến lược” ở những ngành kinh tế mũi nhọn, ở những vùng lãnh thổ chiến lược.
Nói chung, quân đội làm kinh tế là phải chọn việc, chọn nơi, có phương hướng và quy chế rõ ràng, mang lại hiệu quả thiết thực” [154; tr. Tác giả khái quát những kết quả mà lực lượng quân đội xây dựng kinh tế đã làm được qua 3 loại hình: doanh nghiệp quân đội, đoàn Kinh tế - Quốc phòng, đơn vị thường trực tham gia sản xuất. Những thành tựu ấy đã góp phần khắc phục hậu quả chiến tranh; giữ gìn năng lực sản xuất quốc phòng, nâng cao năng lực chiến đấu cho quân đội; tăng nguồn thu cho ngân sách, cải thiện đời sống bộ đội. Quân đội đã trở thành cầu nối giữa Đảng với đồng bào các dân tộc, củng cố lòng tin của nhân dân vùng sâu, vùng xa vào đường lối chính sách của Đảng, tạo thế trận quốc phòng - an ninh trên địa bàn chiến lược và biên giới.
Tác giả đề cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp quân đội: “trong điều kiện cạnh tranh khốc liệt của kinh tế thị trường, vẫn vững vàng bám trụ trên các địa bàn chiến lược, sản xuất ngày càng nhiều sản phẩm cung cấp cho xã hội” [154; tr. Doanh nghiệp quân đội tham gia xây dựng nhiều lĩnh vực, ngành và các vùng kinh tế trọng điểm của đất nước, tác động sâu sắc đến mọi mặt phát triển của đất nước, góp phần đưa Việt Nam nhanh chóng hội nhập kinh tế thế giới. Đối với đoàn Kinh tế - Quốc phòng, Trần Trung Tín cho rằng: “về thực chất đây là những đơn vị quân đội đứng chân trên các địa bàn chiến lược như vùng núi phía Bắc, Tây Nam Bộ, Tây Nguyên,.