Tổng quan về luận án

Công cuộc Đổi mới toàn diện đất nước khởi xướng từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (1986) và tiếp tục được khẳng định qua các kỳ Đại hội VII, VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã mở ra giai đoạn phát triển mới về kinh tế - xã hội, đồng thời đặt ra những thách thức chưa từng có đối với sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia (ANQG). Trong bối cảnh chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), mở rộng giao lưu quốc tế và đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, các nguy cơ xâm hại an ninh từ chiến lược "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch đòi hỏi phải có sự chuyển biến căn bản trong phương thức quản lý của Nhà nước. Luận án Phó Tiến sĩ Khoa học Luật học của tác giả Trần Đại Quang với tiêu đề "Tăng cường quản lý nhà nước về an ninh quốc gia ở nước ta hiện nay" (chuyên ngành Lý luận Nhà nước và Pháp quyền, Mã số: 5.01.01, bảo vệ năm 1996 tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. PTS. Trần Ngọc Đường) là công trình chuyên khảo đầu tiên nghiên cứu toàn diện, có hệ thống vấn đề quản lý nhà nước về ANQG dưới góc độ khoa học pháp lý và hành chính công.

Khoảng trống nghiên cứu (research gap) cốt lõi được luận án định vị là sự thiếu hụt một hệ thống lý luận khoa học hoàn chỉnh và chuẩn mực pháp lý đồng bộ về quản lý nhà nước trên lĩnh vực ANQG trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN. Trước thời điểm công trình công bố, các nghiên cứu trong nước chỉ tiếp cận ANQG một cách phân mảnh: hoặc thuần túy dưới góc độ quân sự - tác chiến chỉ huy như Đề tài "Cơ chế lãnh đạo, quản lý nhà nước, chỉ đạo, chỉ huy của Bộ Tổng tư lệnh trong chiến lược quốc phòng - an ninh" (Mã số KX-09-14); hoặc tập trung vào nghiệp vụ trinh sát nội bộ như giáo trình của Trường Đại học An ninh nhân dân; hoặc tiếp cận hạn hẹp ở góc độ tăng cường pháp chế của lực lượng Công an nhân dân (Nguyễn Phùng Hồng, 1995) và đấu tranh tư pháp hình sự (Dương Thanh Biểu, 1995). Luận án giải quyết trực tiếp khoảng trống này thông qua việc xác lập 3 câu hỏi nghiên cứu (Research Questions) và 3 giả thuyết khoa học (Hypotheses):

  • Câu hỏi nghiên cứu 1 (RQ1): Bản chất pháp lý, cơ cấu tĩnh - động và các đặc trưng đặc thù của quản lý nhà nước về ANQG trong nền hành chính nhà nước XHCN là gì?
    • Giả thuyết 1 (H1): Quản lý nhà nước về ANQG là sự tác động điều chỉnh mang quyền lực nhà nước của nhánh hành pháp lên các quan hệ xã hội an ninh, trong đó an ninh chính trị giữ vai trò cốt lõi xuyên suốt và an ninh kinh tế đóng vai trò nền tảng.
  • Câu hỏi nghiên cứu 2 (RQ2): Thực trạng hệ thống thể chế, thiết chế và phương thức quản lý nhà nước về ANQG ở Việt Nam từ năm 1945 đến giai đoạn đầu Đổi mới bộc lộ những thành tựu và rào cản mang tính quy luật nào?
    • Giả thuyết 2 (H2): Hiệu lực quản lý bị suy giảm do tình trạng chậm thể chế hóa quan điểm của Đảng thành luật thực định, cơ chế phối hợp liên ngành lỏng lẻo và tổ chức bộ máy tham mưu chuyên trách chưa tương xứng với yêu cầu tình hình mới.
  • Câu hỏi nghiên cứu 3 (RQ3): Những định hướng chiến lược và hệ giải pháp đột phá nào có khả năng nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về ANQG trong tiến trình cải cách hành chính quốc gia?
    • Giả thuyết 3 (H3): Việc hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật an ninh kết hợp với kiện toàn mô hình tổ chức 4 cấp của Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) sẽ tạo ra bước chuyển căn bản về năng lực dự báo và kiểm soát rủi ro an ninh.

Khung lý thuyết của công trình được kiến tạo trên nền tảng phép duy vật biện chứng Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ chính quyền nhân dân, kết hợp với các nguyên lý điều khiển học (Cybernetics) và khoa học hành chính hiện đại. Với quy mô 173 trang, kết cấu 3 chương, 7 mục chuyên sâu và danh mục 168 tài liệu tham khảo, luận án đã lượng hóa và làm rõ phạm vi nghiên cứu theo nghĩa hẹp của quản lý nhà nước: tập trung vào hoạt động chấp hành - điều hành của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước từ Trung ương đến cơ sở, lấy Bộ Nội vụ làm chủ thể hạt nhân chuyên trách thống nhất quản lý trên phạm vi toàn quốc.

Literature Review và Positioning

Tổng quan tài liệu quốc tế và trong nước cho thấy tiến trình nhận thức về an ninh và quản lý an ninh trải qua 3 luồng quan điểm học thuật chính:

Luồng quan điểm thứ nhất tiếp cận an ninh thuần túy từ góc độ ổn định chính trị - thể chế. Các học giả thuộc trường phái này [trích dẫn tài liệu tham khảo số 65] lập luận rằng ANQG đồng nghĩa với sự bất biến và vững vàng của nền độc lập dân tộc, chế độ chính trị và sự thuần khiết nội bộ của hệ thống cầm quyền. Cách tiếp cận này nhấn mạnh chức năng bạo lực trấn áp để đè bẹp mọi mầm mống chống đối thể chế.

Luồng quan điểm thứ hai tiếp cận từ địa - chính trị và không gian lãnh thổ [tài liệu tham khảo số 45], định nghĩa ANQG cấu thành từ 3 trụ cột: an ninh lãnh thổ (biên giới, vùng trời, vùng biển), an ninh chế độ chính trị và an ninh dân cư. Hạn chế của luồng quan điểm này là nhìn nhận an ninh dưới trạng thái tĩnh, chưa phản ánh được sự đan xen phức tạp của các mối quan hệ xã hội trong thời kỳ mở cửa kinh tế.

Luồng quan điểm thứ ba tiếp cận theo hướng cấu trúc - chức năng xã hội đa diện [tài liệu tham khảo số 232; Nguyễn Phùng Hồng, 1995; Dương Thanh Biểu, 1995]. Các tác giả trong nhóm này đã phân định ANQG thành các phân hệ: an ninh chính trị, an ninh kinh tế, an ninh văn hóa - tư tưởng và an ninh đối ngoại. Nguyễn Phùng Hồng nhấn mạnh việc bảo vệ quá trình hoạch định đường lối kinh tế và ngăn chặn sự chuyển hóa tư tưởng qua các kênh xuất nhập bản phẩm, trong khi Dương Thanh Biểu tập trung vào khía cạnh đấu tranh pháp lý chống tội phạm đặc biệt nguy hiểm xâm phạm an ninh quốc gia.

Trong bức tranh học thuật đó, các cuộc tranh luận diễn ra gay gắt giữa hai khuynh hướng: (1) Khuynh hướng truyền thống đồng nhất quản lý an ninh với hoạt động trấn áp bí mật của lực lượng chuyên chính vô sản; (2) Khuynh hướng hiện đại hóa hành chính đòi hỏi phải công khai hóa, quy phạm hóa và tích hợp quản lý an ninh vào mọi quy trình phát triển kinh tế - xã hội. Luận án của tác giả Trần Đại Quang định vị chính xác ở điểm giao thoa giữa hai khuynh hướng này: khẳng định an ninh quốc gia phải được bảo vệ bằng sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị dưới sự quản lý thống nhất bằng pháp luật của Nhà nước.

So sánh với các nghiên cứu quốc tế, công trình này có sự tương đồng sâu sắc với lý thuyết "Bảo an hóa" (Securitization) của Barry Buzan và Trường phái Copenhagen (1983, 1998) khi mở rộng khái niệm an ninh ra 5 chiều kích (chính trị, quân sự, kinh tế, xã hội, môi trường), nhưng vượt trội ở chỗ đặt các chiều kích này trong khung khổ quyền lực nhà nước tập trung của thể chế XHCN. Đồng thời, khi đặt cạnh các nghiên cứu về khủng hoảng thể chế an ninh tại Liên Xô và Đông Âu sau năm 1991, luận án đã rút ra bài học kinh nghiệm mang tính quy luật: sự lơi lỏng quản lý nhà nước và đánh mất cảnh giác cách mạng trong quá trình cải tổ sẽ dẫn tới sụp đổ toàn bộ chế độ chính trị.

Đóng góp lý thuyết và khung phân tích

Đóng góp cho lý thuyết

Luận án đã mở rộng và làm sâu sắc thêm học thuyết Mác - Lênin về chức năng của Nhà nước XHCN trong thời kỳ quá độ. Tác giả vận dụng sáng tạo luận điểm kinh điển của Karl Marx trong bộ Tư bản về tính tất yếu khách quan của quản lý xã hội: "Bất kỳ lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào đó mà được tiến hành trên một quy mô tương đối lớn đều cần có sự quản lý ở mức độ nhiều hay ít nhằm phối hợp những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất, sự vận động này khác với sự vận động của những cơ quan độc lập của cơ thể đó. Một nhạc công tự điều khiển mình, nhưng một dàn nhạc cần phải có nhạc trưởng". Quản lý nhà nước về ANQG chính là vai trò "nhạc trưởng" tối cao nhằm điều phối toàn bộ các nguồn lực xã hội bảo vệ thể chế.

Bên cạnh đó, luận án phát triển luận điểm của Friedrich Engels trong tác phẩm Bàn về quyền uy: "Muốn tiêu diệt quyền uy trong đại công nghiệp, chính là muốn tiêu diệt ngay cả bản thân công nghiệp, chính là tiêu diệt nhà máy sợi để đưa về với cái xa kéo sợi". Quyền lực nhà nước trong quản lý an ninh là điều kiện tiên quyết bảo đảm kỷ cương, trật tự cho nền sản xuất công nghiệp hiện đại và kinh tế thị trường phát triển. Tác giả đã hệ thống hóa và đề xuất mô hình 6 yếu tố cấu thành khách thể bảo vệ của ANQG:

  1. Vai trò, địa vị lãnh đạo xã hội của Đảng cầm quyền (thuộc tính bản chất, điều kiện tiên quyết).
  2. Hiệu lực điều hành, quản lý kinh tế - xã hội của bộ máy Nhà nước.
  3. Sự bảo đảm khả năng quốc phòng và an ninh.
  4. Chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và độc lập tự chủ.
  5. Khối đại đoàn kết dân tộc và an toàn công cộng.
  6. Tài nguyên thiên nhiên, môi trường sinh thái, cơ sở vật chất - kỹ thuật và tài sản quốc gia.

Công trình xác lập luận đề mang tính nguyên lý: "An ninh quốc gia bao gồm: an ninh chính trị, an ninh kinh tế, an ninh văn hóa - tư tưởng và an ninh xã hội; trong đó an ninh chính trị là cốt lõi xuyên suốt và an ninh kinh tế là nền tảng".

Khung phân tích độc đáo

Khung phân tích của luận án tích hợp đa tầng giữa Lý luận Nhà nước và Pháp quyền, Khoa học Hành chính công và Điều khiển học hệ thống.

Khung phân tích này vận hành dựa trên hai chiều quản lý tương hỗ:

  • Chiều dọc: Quản lý chuyên ngành thống nhất do Bộ Nội vụ đảm nhiệm, tổ chức lực lượng chuyên trách từ Trung ương tới Tỉnh, Huyện, Xã.
  • Chiều ngang: Quản lý hành chính - lãnh thổ do Ủy ban nhân dân các cấp và các Bộ, ngành chủ quản thực hiện, phát huy sức mạnh phòng ngừa "tại chỗ".

Chu trình quản lý được khép kín qua 5 giai đoạn kế tiếp: Đánh giá dự báo $\rightarrow$ Chuẩn bị và thông qua quyết định $\rightarrow$ Thể chế hóa văn bản quy phạm $\rightarrow$ Tổ chức chỉ đạo điều hành $\rightarrow$ Kiểm tra, kiểm kê và xử lý vi phạm.

Phương pháp nghiên cứu tiên tiến

Thiết kế nghiên cứu

Luận án áp dụng lập trường triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử (Marxist-Leninist Epistemology). Thiết kế nghiên cứu là sự kết hợp chặt chẽ giữa phân tích quy phạm thể chế (normative-institutional analysis) và phân tích thực tiễn lịch sử - pháp lý (historical-legal analysis). Thiết kế đa cấp độ (multi-level design) được xác lập rõ ràng:

  • Cấp độ vĩ mô (Macro-level): Phân tích các nguyên tắc Hiến định trong Hiến pháp năm 1992 và các Cương lĩnh, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc.
  • Cấp độ trung mô (Meso-level): Phân tích hệ thống văn bản dưới luật, thẩm quyền lập quy của Chính phủ, Nghị định số 250-CP ngày 12/6/1981 của Hội đồng Chính phủ và cơ cấu tổ chức bộ máy Bộ Nội vụ.
  • Cấp độ vi mô (Micro-level): Phân tích các hoạt động tác nghiệp hành chính - an ninh tại Công an các đơn vị, địa phương và cơ sở xã, phường.

Quy trình nghiên cứu rigorous

Quy trình thu thập và xử lý dữ liệu được thiết kế nghiêm ngặt theo phương pháp tam giác hóa (Triangulation):

  1. Tam giác hóa nguồn dữ liệu: Đối chiếu toàn văn 8 điều khoản Hiến pháp năm 1992 (Điều 11, 45, 47, 84, 91, 103, 104, 109, 112), các Pháp lệnh về lực lượng An ninh nhân dân và Cảnh sát nhân dân, cùng hệ thống Nghị quyết Trung ương (Nghị quyết số 31-NQ/TW ngày 2/12/1980, số 21-NQ/TW ngày 26/11/1984, số 07-NQ/TW ngày 30/11/1987 và Chỉ thị số 60-CT/TW ngày 26/5/1990 của Bộ Chính trị).
  2. Tam giác hóa phương pháp: Kết hợp phương pháp xã hội học pháp luật (khảo sát hành vi tuân thủ pháp luật an ninh), tâm lý học pháp luật (phân tích động cơ vi phạm an ninh) và phương pháp tổng kết kinh nghiệm thực tiễn 51 năm bảo vệ an ninh cách mạng (1945–1996).
  3. Độ tin cậy và giá trị: Hệ thống khái niệm được chuẩn hóa theo chuẩn mực của ngành Khoa học Pháp lý, bảo đảm tính giá trị nội tại (internal validity) qua chuỗi lập luận logic hình thức và tính giá trị bên ngoài (external validity) thông qua khả năng khái quát hóa thành chính sách.

Data và phân tích

Toàn bộ dữ liệu thực tiễn và văn bản quy phạm được phân loại theo cấu trúc khách thể nhị nguyên:

Dữ liệu tổ chức bộ máy được phân tích chi tiết qua việc phân định thẩm quyền của Tổng cục An ninh nhân dân, Cục Tham mưu và các Cục nghiệp vụ chuyên ngành thuộc Bộ Nội vụ, kết nối trực tiếp với các Phòng nghiệp vụ Công an cấp tỉnh và Đội an ninh Công an cấp huyện.

Phát hiện đột phá và implications

Những phát hiện then chốt

  • Phát hiện 1 (Tính thống nhất và phân công quyền lực): Quản lý nhà nước về ANQG ở nước ta được tổ chức trên nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, không phân chia tam quyền phân lập theo kiểu tư bản, nhưng có sự phân công, phân nhiệm rạch ròi giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp. Nhánh hành pháp (Chính phủ, đứng đầu là Bộ Nội vụ tham mưu) giữ vai trò trung tâm trong điều hành thực tế.
  • Phát hiện 2 (Bản chất lưỡng tính công khai - bí mật): Hoạt động quản lý an ninh mang tính đặc thù cao độ, đòi hỏi sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa phương thức hành chính công khai (ban hành văn bản pháp quy, thanh tra, tuyên truyền) và biện pháp nghiệp vụ bí mật (sử dụng lực lượng cộng tác bí mật, phương tiện kỹ thuật đặc biệt). Luận án kế thừa chỉ dẫn sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Muốn góp phần vào việc tiến lên CNXH, Công an phải chuyên chính thực sự và dân chủ thực sự, dân chủ và chuyên chính phải đi đôi với nhau".
  • Phát hiện 3 (Nhận diện các điểm nghẽn thể chế): Đánh giá thẳng thắn các hạn chế của thực trạng quản lý giai đoạn 1986–1996: chưa xây dựng được kế hoạch tổng thể mang tầm chiến lược; đường lối của Đảng chậm được luật hóa; hệ thống pháp luật an ninh còn phân tán; sự phối hợp giữa cơ quan an ninh và các ban ngành kinh tế còn rời rạc, mất cảnh giác trước sự xâm nhập của tư bản nước ngoài.
  • Phát hiện 4 (Quy luật phát huy sức mạnh tại chỗ): Khách thể an ninh nằm ngay bên trong các quá trình kinh tế - xã hội. Do đó, quản lý an ninh hiệu quả nhất là xây dựng thế trận an ninh nhân dân "tại chỗ" ngay tại các doanh nghiệp, cơ quan nghiên cứu khoa học, cửa khẩu và địa bàn dân cư trọng điểm.

Implications đa chiều

  • Đóng góp cho lý thuyết: Đặt viên đá tảng đầu tiên cho phân ngành "Lý luận Quản lý nhà nước về An ninh trật tự" trong hệ thống khoa học pháp lý Việt Nam, làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc.
  • Đổi mới phương pháp luận: Cung cấp phương pháp tiếp cận an ninh đa ngành (interdisciplinary security approach), gắn kết luật học, kinh tế học chính trị và khoa học hành chính.
  • Ứng dụng thực tiễn: Cung cấp mô hình tổ chức bộ máy và quy trình ra quyết định an ninh trong tình trạng khẩn cấp, giúp các cơ quan hành chính phân định rõ giữa "đổi mới" và "lợi dụng đổi mới để phá hoại".
  • Khuyến nghị chính sách: Đề xuất lộ trình pháp điển hóa toàn diện pháp luật an ninh, trực tiếp tạo tiền đề cho sự ra đời của Pháp lệnh Tình trạng khẩn cấp (2000) và Luật An ninh quốc gia (2004).

Limitations và Future Research

  • Hạn chế nghiên cứu:
    1. Công trình chủ yếu tập trung vào nhánh hành pháp theo nghĩa hẹp, chưa khảo sát sâu sắc vai trò giám sát của Quốc hội và hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân trong chu trình bảo vệ an ninh.
    2. Dữ liệu thực nghiệm bị hạn chế tiếp cận do tính chất bí mật nhà nước đặc thù của ngành Công an trong giai đoạn 1996.
    3. Chưa dự báo hết mức độ bùng nổ của mạng Internet toàn cầu và tác động của không gian mạng đến an ninh phi truyền thống.
  • Chương trình nghiên cứu tương lai:
    1. Xây dựng khung lý thuyết quản lý nhà nước về an ninh mạng (Cybersecurity Governance) và chiến tranh thông tin.
    2. Nghiên cứu an ninh kinh tế trong điều kiện hội nhập các định chế thương mại đa phương (WTO, FTAs).
    3. Hoàn thiện cơ chế phối hợp dân gian - quân sự - an ninh trong phòng ngừa rủi ro an ninh phi truyền thống (khủng hoảng sinh thái, dịch bệnh, an ninh năng lượng).

Tác động và ảnh hưởng

Luận án đã tạo ra tiếng vang học thuật lớn, trở thành tài liệu nền tảng phục vụ công tác giảng dạy sau đại học tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Học viện An ninh nhân dân, Học viện Cảnh sát nhân dân và Đại học Luật Hà Nội. Về mặt chính sách, công trình trực tiếp đóng góp luận cứ khoa học cho Dự thảo Chiến lược An ninh quốc gia đến năm 2000 và tầm nhìn thế kỷ XXI của Bộ Chính trị. Hệ thống giải pháp của luận án đã định hình mô hình cải cách hành chính trong lực lượng Công an nhân dân, tối ưu hóa bộ máy chuyên trách theo hướng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.

Đối tượng hưởng lợi

  • Nghiên cứu sinh và Giới học thuật: Tiếp cận một khung phân tích kinh điển về mối quan hệ giữa thể chế Nhà nước pháp quyền và an ninh quốc gia.
  • Các nhà hoạch định chính sách: Cung cấp cơ sở khoa học để xây dựng các đạo luật chuyên ngành, văn bản quy phạm pháp luật về quản lý xuất nhập cảnh, quản lý người nước ngoài và bảo vệ bí mật nhà nước.
  • Lực lượng thực thi pháp luật (Công an, Quân đội): Nhận thức rõ thẩm quyền, trách nhiệm pháp lý và phương pháp vận động quần chúng tham gia phong trào Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc.

Câu hỏi chuyên sâu

1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì? Đó là việc định vị và luận giải khoa học luận đề: "An ninh chính trị là cốt lõi xuyên suốt, an ninh kinh tế là nền tảng", tích hợp 6 yếu tố bảo vệ của ANQG vào khung khổ quản lý hành pháp của Nhà nước pháp quyền XHCN.

2. Đổi mới phương pháp luận so với các nghiên cứu trước đó? Khác với đề tài KX-09-14 (thuần túy quân sự) hay nghiên cứu của Nguyễn Phùng Hồng (thuần túy pháp chế ngành), luận án đã kết hợp lý luận hành chính công với điều khiển học hệ thống, thiết lập chu trình quản lý 5 giai đoạn trên cả 2 chiều dọc (ngành) và ngang (lãnh thổ).

3. Phát hiện bất ngờ và có ý nghĩa thực tiễn nhất từ dữ liệu? Khẳng định quản lý an ninh không thể chỉ trông cậy vào biện pháp nghiệp vụ trinh sát bí mật, mà phải được thực hiện thông qua công tác quản lý hành chính kinh tế - xã hội công khai, lấy việc phòng ngừa và phát huy sức mạnh "tại chỗ" làm nền tảng cốt lõi.

4. Khả năng tái lập quy trình nghiên cứu (Replication)? Khung phân tích 6 yếu tố khách thể và mô hình quản lý 2 chiều của luận án có khả năng tái lập và áp dụng hiệu quả cho việc nghiên cứu quản lý nhà nước trên các lĩnh vực an ninh phi truyền thống hiện đại.

5. Tầm nhìn chương trình nghiên cứu mở rộng trong 10 năm tiếp theo? Luận án đã vạch ra định hướng nghiên cứu chuyển dịch từ kiểm soát an ninh truyền thống sang chủ động phòng ngừa, hội nhập quốc tế và xây dựng hệ thống luật pháp an ninh đồng bộ trước thềm thế kỷ XXI.

Kết luận

Luận án Phó Tiến sĩ Khoa học Luật học của tác giả Trần Đại Quang là công trình khoa học có đóng góp đột phá đối với nền khoa học pháp lý Việt Nam, thể hiện qua 6 cống hiến cốt lõi:

  1. Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với ANQG từ chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
  2. Xác lập nội hàm khoa học của ANQG gồm 4 phân hệ (chính trị, kinh tế, văn hóa - tư tưởng, xã hội) với cấu trúc "chính trị cốt lõi, kinh tế nền tảng".
  3. Định hình cấu trúc 6 yếu tố của khách thể quản lý nhà nước về ANQG trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN.
  4. Làm rõ cơ chế phân công và phối hợp quyền lực nhà nước, xác định vị trí hạt nhân thống nhất quản lý của Bộ Nội vụ (Bộ Công an).
  5. Luận giải tính tất yếu của việc kết hợp biện pháp quản lý hành chính công khai với biện pháp nghiệp vụ bí mật trên nền tảng dân chủ XHCN.
  6. Đề xuất hệ thống giải pháp thể chế và tổ chức bộ máy có tính khả thi cao, mở đường cho việc xây dựng Luật An ninh quốc gia năm 2004.