CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ỔN ĐỊNH CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 1. Vai trò của ổn định chính trị - xã hội đối với sự phát triển của đất nước 1. Quan niệm về ổn định chính trị - xã hội 1. Quan niệm về ổn định Ổn định chính trị - xã hội được dùng khá phổ biến trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
Ổn định được xem là một mặt nhất thời của trạng thái vận động, phát triển. Trạng thái ổn định nhất thời của sự vật có hai mặt: khẳng định và phủ định. Hai mặt này có sự tác động qua lại biện chứng với nhau, đảm bảo cho sự vật vận động, phát triển trong trạng thái “vừa là nó” lại “vừa không phải là nó”. Trạng thái ổn định tương đối biểu hiện của một trạng thái vận động, trạng thái cân bằng tạm thời của sự vật trong quá trình vận động của nó.
Nhờ trạng thái ổn định tương đối mà sự vật mới thực hiện được sự biến đổi tiếp theo. Không ổn định thì không có phát triển nhưng không phát triển thì cũng khó duy trì được ổn định lâu dài và vững chắc. Nói đến ổn định là nói đến trạng thái đối lập với rối loạn, khủng hoảng. Đồng thời trạng thái ổn định này cũng xa lại với sự tĩnh lặng hoàn toàn hay bất biến, cố định tuyệt đối.
ổn định không làm triệt tiêu hay kìm hãm sự vận động, phát triển mà có quan hệ mật thiết với vận động, phát triển. Mặt ổn định của sự vật là điều kiện để sự vật tự khẳng định, tự định hình, đồng thời là môi trường tốt để cho các thuộc tính, các mặt bên trong sự vật tiến hành quá trình chuyển hóa biến đổi. Nhờ có trạng thái ổn định, sự vật trong quá trình vận động sẽ biến đổi từ trình độ thấp đến trình độ cao, từ mức độ bấp bênh, không chắc chắn đến mức độ bền vững. Như vậy, ổn định và biến đổi vừa là tiền đề, là điều kiện cho nhau, vừa là nhân và quả cho nhau, là thể hiện mối quan hệ giữa vận động và đứng im.
10 Như vậy, ổn định chỉ một trạng thái của tự nhiên, xã hội, tư duy trong quá trình vận động và phát triển của sự vật. Xét cả về thực tiễn và lý luận thì ổn định mang tính tương đối vì nó chính là sự vận động trong những mâu thuẫn, trong sự thống nhất của các mặt đối lập và cũng là sự thống nhất tương đối. Ổn định chính trị - xã hội, cũng vậy, không phải là trạng thái đứng yên, trì trệ mà là trạng thái động, phát triển. Đó là trạng thái của quá trình thường xuyên giải quyết những mâu thuẫn nảy sinh về chính trị - xã hội, về kinh tế, văn hóa trong nội bộ nhân dân và trong hệ thống chính trị.
Trong xã hội, quy luật lực lượng sản xuất luôn quy định quan hệ sản xuất. Nói cách khác, quan hệ sản xuất phụ thuộc vào tính chất và tr ình độ của lực lượng sản xuất. Tuy nhiên, sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất vào tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, giữa cơ sở hạ tầng với kiến trúc thượng tầng chính trị, giữa kinh tế với văn hóa trong sự phát triển đều mang ý nghĩa tương đối. Nó luôn có xu hướng bị phá vỡ bởi sự phát triển của lực lượng sản xuất.
Chính sự phát triển khách quan, liên tục của lực l ượng sản xuất đã làm cho mọi sự phù hợp của các nhân tố xã hội sẽ phá vỡ sự cân bằng, sự phù hợp trước đó để tạo ra sự cân bằng mới, tức là sự ổn định ở mức độ cao hơn. Với từng lát cắt ở bình diện ổn định tư tưởng, ổn định các quan hệ chính trị xã hội, ổn định hệ thống chính trị của xã hội chúng ta sẽ thấy điều này rõ hơn. Trong xã hội có các giai cấp, các tầng lớp khác nhau, nhưng chịu sự chi phối của hệ tư tưởng của giai cấp thống trị. Nếu tư tưởng của giai cấp thống trị phù hợp với xu thế khách quan, phù hợp với lợi ích xã hội.
sẽ tạo ra sự ổn định chính trị - xã hội. Nhưng sự ổn định về chính trị của xã hội chỉ là trạng thái tạm thời, tương đối. Sự ổn định này có thể bị phá vỡ nếu như có sự mâu thuẫn về lợi ích của các giai cấp. Trong xã hội có giai cấp, hệ thống chính trị do giai cấp thống trị lập ra để bảo vệ lợi ích cho giai cấp ấy.
Nếu như giai cấp thống trị bảo đảm lợi ích cho toàn xã hội thì hệ thống chính trị sẽ hoạt động bình thường, ổn định. Ngược lại, nếu nó xem nhẹ, chà đạp lên lợi ích xã hội thì sẽ xuất hiện 11 những mâu thuẫn, làm cho hệ thống chính trị, chế độ chính trị - xã hội không còn hoạt động trong trạng thái ổn định. Chính trị- xã hội có thể bị rối loạn 1. Khái niệm và nội dung cơ bản về ổn định chính trị - xã hội Trong các văn kiện chính trị của Đảng như Nghị quyết đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, X, XI Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết Hội nghị lần thứ VII Ban chấp hành trung ương Đảng khóa IX, … thuật ngữ "ổn định chính trị - xã hội" được sử dụng phổ biến.
Tuy nhiên, chưa có một định nghĩa đầy đủ thuật ngữ này. Trạng thái vừa giữ được ổn định chính trị, vừa giữ được ổn định xã hội sẽ tạo ra trạng thái giữ vững "ổn định chính trị - xã hội". Giai cấp công nhân giữ được ổn định chính trị ở việc giai cấp công dân duy trì và tăng cường vai trò lãnh đạo của mình đối với xã hội bằng việc tăng cường chuyên chính vô sản thực hiện sức mạnh lịch sử của giai cấp công nhân. Giai cấp công nhân giữ vững được ổn định xã hội ở việc: Do lợi ích của giai cấp công nhân thống nhất với lợi ích của dân tộc, thống nhất với lợi ích với đại đa số nhân dân lao động nên xã hội không còn đối kháng lợi ích.
Xung đột xã hội không phải là xung đột của lợi ích đối kháng. Xã hội về cơ bản là thống nhất lợi ích nên có thể giữ vững ổn định xã hội. Tất nhiên những sự khác biệt giai cấp vẫn còn, những cuộc đấu tranh xung đột trong xã hội vẫn còn nhưng những xung đột này không gây ra mất ổn định xã hội. Ta có thể khẳng định: Ổn định chính trị - xã hội là một trạng thái của xã hội xã hội chủ nghĩa, trong đó, sự lãnh đạo của giai cấp công nhân thông qua vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản được duy trì và tăng cường trên tất cả các mặt hoạt động cơ bản của xã hội, đảm bảo cho xã hội luôn luôn có sự thống nhất về lợi ích, đảm bảo cho xã hội giữ được nền nếp, kỷ cương và phát triển trong sự cân đối, hài hòa.
Nếu theo định nghĩa này thì ở xã hội có áp bức bóc lột, khi giai cấp thống trị đang lên, đang là giai cấp tiên tiến thì có thể tạo ra và giữ vững ổn định chính 12 trị - xã hội trong một khoảng thời gian nào đó. Thí dụ như giai cấp tư sản trong những ngày tiến hành cách mạng tư sản và ở những ngày đầu tiên xây dựng chủ nghĩa tư bản. Lúc này lợi ích của giai cấp tư sản thống nhất với lợi ích của nông dân và những người lao động. Nhà nước tư sản bảo vệ cho tù do cạnh tranh, tù do làm giàu.
Nhưng người nào thắng trong cạnh tranh, là người giàu - chính là giai cấp tư sản. Vì vậy trạng thái ổn định chính trị - xã hội bị phá vỡ bởi vì lợi ích tư sản dần dần trở thành đối lập với lợi ích của toàn thể công dân. Cho nên nếu xét trong điều kiện giai cấp tư sản đang là giai cấp cách mạng thì ổn định chính trị - xã hội do giai cấp tư sản tạo ra rất ngắn ngủi. Nhìn suốt các giai đoạn phát triển tiếp theo của chủ nghĩa tư bản thì phổ biến là: Giai cấp tư sản chỉ giữ vững ổn định chính trị, không giữ được ổn định chính trị - xã hội.
Giai cấp tư sản ở NIES Đông Á trong khi tiến hành công nghiệp hóa chủ nghĩa tư bản cũng có thời gian tạo ra sự thống nhất lợi ích (lợi ích dân tộc) nên cũng có lúc tạo ra sự ổn định chính trị - xã hội nhưng sự ổn định này nhanh chóng bị phá vỡ cũng do lợi Ých của giai cấp tư sản Đông Á đối lập với lợi ích của toàn thể nhân dân. Nói cho chính xác thì NIES Đông Á chỉ mới tạo ra điều kiện thuận lợi cho việc ổn định chính trị - xã hội chứ chưa phải là sự ổn định chính trị - xã hội. Còn ở các nước xã hội chủ nghĩa, sự thống nhất lợi ích của giai cấp công nhân với lợi ích của dân tộc, lợi ích của các giai cấp xuất hiện ngay trong cuộc đấu tranh giành chính quyền và được củng cố duy trì trong suốt quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Giai cấp công nhân là giai cấp luôn luôn là giai cấp tiên tiến, cách mạng.
Vì vậy ổn định chính trị - xã hội trong xã hội xã hội chủ nghĩa được thiết lập ngay từ những ngày đầu giai cấp công nhân và nhân dân lao động giành được chính quyền và không ngừng được củng cố phát triển trong tiến trình xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa. Ổn định chính trị - xã hội trong điều kiện xã hội chủ nghĩa mang tính phổ biến nhưng do mỗi nước có hoàn cảnh lịch sử khác nhau nên ổn định chính trị - xã hội ở mỗi nước cũng có nét đặc thù riêng. Ổn định chính trị - xã hội ở nước ta 13 cũng có những nét riêng. Ổn định chính trị - xã hội ở nước ta tiếp thu những tư tưởng chính trị - xã hội quý báu của dân tộc.
Đó là tính cộng đồng "bầu ơi thương lấy bí cùng. Tuy rằng khác dậu nhưng chung một giàn", "Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau", "Trong ấm ngoài êm", "Nước mất nhà tan". Đó là đường lối trị nước của các anh hùng dân tộc: Lấy dân làm gốc, coi trọng chữ "Hòa", "Lấy nhân nghĩa thắng hung tàn", đặt quyền lợi của Tổ quốc lên trên hết. Đó là sự chịu đựng trong khó khăn, lòng bao dung trong xử thế của người Việt Nam, đó là khát vọng về sự yên ổn để làm ăn sinh sống, khát vọng hòa bình bởi đất nước luôn luôn phải tự vệ để tồn tại.