Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Xây dựng Đảng và Chính quyền nhà nước (mã số: 9 31 02 02) với đề tài "Thực hiện nguyên tắc tự phê bình và phê bình trong các chi bộ ở Bộ An ninh nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào hiện nay" được nghiên cứu sinh Samakchay Phuypaseuth thực hiện tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS, TS. Cao Thanh Vân, bảo vệ năm 2023.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Tự phê bình và phê bình (TPB và PB) là một trong năm nguyên tắc cơ bản trong công tác xây dựng Đảng, đồng thời là quy luật tồn tại và phát triển của Đảng Nhân dân Cách mạng (NDCM) Lào được quy định tại Điều lệ Đảng. Trong bối cảnh nước Cộng hòa dân chủ nhân dân (CHDCND) Lào triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI (năm 2021) của Đảng và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm lần thứ IX (giai đoạn 2020 - 2025), sự tác động từ mặt trái của kinh tế thị trường (quan liêu, tham nhũng, suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên) cùng âm mưu chống phá của các thế lực thù địch đặt ra yêu cầu chỉnh đốn Đảng nghiêm ngặt.
Lực lượng an ninh nhân dân Lào là lực lượng vũ trang trọng yếu bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội. Các chi bộ trực thuộc Đảng bộ Bộ An ninh giữ vị trí hạt nhân chính trị ở cơ sở, trực tiếp quản lý, rèn luyện cán bộ, đảng viên, chiến sĩ. Thực tế giai đoạn qua cho thấy, bên cạnh các kết quả đạt được, việc thực hiện nguyên tắc TPB và PB tại các chi bộ thuộc Bộ An ninh Lào vẫn bộc lộ nhiều hạn chế: công tác tuyên truyền giáo dục có nơi chưa sâu sát; việc xây dựng kế hoạch và quy chế thực hiện chưa đồng bộ; còn tình trạng nể nang, né tránh va chạm, e ngại đóng góp ý kiến phê bình cấp ủy và cán bộ chỉ huy; vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ trong sinh hoạt; chế độ báo cáo lên cấp trên chưa kịp thời. Do đó, việc nghiên cứu cơ sở lý luận, khảo sát thực trạng và xác lập các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện nguyên tắc này là yêu cầu cấp thiết của thực tiễn.
Khoảng trống nghiên cứu được xác định: Chưa có công trình khoa học độc lập nào đi sâu luận giải toàn diện, có hệ thống về cơ sở lý luận, đặc thù tổ chức và đánh giá thực trạng thực hiện nguyên tắc TPB và PB tại hệ thống các chi bộ thuộc Bộ An ninh nước CHDCND Lào từ năm 2010 đến nay để đề xuất giải pháp đến năm 2030.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về thực hiện nguyên tắc TPB và PB trong các chi bộ ở Bộ An ninh nước CHDCND Lào, đánh giá thực trạng giai đoạn hiện nay, từ đó đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện tốt nguyên tắc này trong những năm tiếp theo đến năm 2030.
Luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Tổng quan các công trình khoa học đã công bố liên quan đến đề tài; đánh giá khái quát kết quả nghiên cứu đã đạt được và nêu những vấn đề đặt ra luận án tiếp tục nghiên cứu.
- Làm rõ những vấn đề lý luận về thực hiện nguyên tắc TPB và PB trong các chi bộ ở Bộ An ninh, nước CHDCND Lào giai đoạn hiện nay.
- Khảo sát, đánh giá đúng thực trạng thực hiện nguyên tắc TPB và PB trong các chi bộ ở Bộ An ninh, nước CHDCND Lào giai đoạn hiện nay, chỉ ra những ưu điểm, khuyết điểm, nguyên nhân của những ưu, khuyết điểm đó và một số vấn đề đặt ra từ thực tiễn.
- Đề xuất những phương hướng và những giải pháp chủ yếu để thực hiện tốt nguyên tắc TPB và PB trong các chi bộ ở Bộ An ninh, nước CHDCND Lào trong những năm tiếp theo đến năm 2030.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Thực hiện nguyên tắc TPB và PB trong các chi bộ ở Bộ An ninh nước CHDCND Lào.
- Phạm vi không gian: Các chi bộ (chi bộ cơ sở và chi bộ trực thuộc đảng bộ cơ sở) trong Đảng bộ Bộ An ninh nước CHDCND Lào.
- Phạm vi thời gian: Khảo sát, đánh giá thực trạng từ năm 2010 đến thời điểm nghiên cứu; xác định phương hướng và giải pháp ứng dụng đến năm 2030.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu tại nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào
Tác giả đã tổng thuật các công trình nghiên cứu trong nước Lào theo các nhóm:
- Về luận án và đề tài khoa học: Luận án tiến sĩ của Kham Phouy Chan Tha vady (2019) về "Chất lượng tổ chức cơ sở Đảng nông thôn ở các tỉnh phía Bắc CHDCND Lào giai đoạn hiện nay"; Đề tài khoa học cấp Bộ của Tổng cục Chính trị Bộ An ninh Lào (2011) với chủ đề "Xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh kết hợp với xây dựng đơn vị cơ sở vững mạnh, toàn diện trong giai đoạn hiện nay"; Luận án tiến sĩ của Bun Pheeng Sỉ Pa sợt (2010) về "Chất lượng tổ chức cơ sở đảng ở các sư đoàn bộ binh Quân đội nhân dân Lào".
- Về sách chuyên khảo và giáo trình: Tác phẩm của Khăm Mi Nao Tua Dang (2010) về "Chủ tịch Cay Xỏn Phôm Vi Hản mãi mãi trường tồn trong sự nghiệp cách mạng to lớn của nhân dân các dân tộc Lào"; "Giáo trình Xây dựng Đảng" của Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Lào (2017) do Ban Chuyên môn Xây dựng Đảng và Lịch sử Đảng biên soạn.
- Về bài báo khoa học: Bài viết của Onkẹo Phômmạcòn (2011) về tư tưởng chỉ đạo của Chủ tịch Cay Xỏn Phôm Vị Hản về công tác xây dựng Đảng trong thời kỳ mới; bài viết của Khămkeo Malayphone (2015) "Để Đảng luôn vững mạnh" trên Tạp chí Xây dựng Đảng; bài viết của Bualapha Vichitta (2016) "Nâng cao chất lượng sinh hoạt ở các chi bộ Bộ An ninh hiện nay" trên Tạp chí An ninh số 76; bài viết của Bunthavy Silychan (2018) "Nâng cao chất lượng trong sinh hoạt đảng" trên Tạp chí An ninh nhân dân; bài viết của Bunchit Sengsavang (2018) "Tiếp tục xây dựng Đảng trong lực lượng an ninh có chất lượng cao" trên Tạp chí An ninh số 110.
Các hướng nghiên cứu tại nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tại Việt Nam, các công trình được tác giả phân tích và kế thừa bao gồm:
- Về đề tài khoa học và luận án: Đề tài khoa học cấp Bộ do Nguyễn Văn Biều chủ nhiệm (2005) về "Chất lượng tự phê bình và phê bình của đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp quận Thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay"; Đề tài khoa học cấp cơ sở do Nguyễn Thị Phương Thủy chủ nhiệm (2019) tại Học viện Chính trị Công an nhân dân về "Tự phê bình và phê bình trong thực hiện Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII của Đảng bộ các học viện, trường công an nhân dân"; Luận án tiến sĩ của Trần Văn Bộ (2000) tại Học viện Chính trị quân sự về "Nâng cao chất lượng tự phê bình và phê bình ở tổ chức cơ sở đảng trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay".
- Về sách tham khảo: Tài liệu "Đảng, Bác Hồ về tự phê bình và phê bình" của Ban Chỉ đạo Trung ương 6 (2) (2005); sách của Phạm Tất Thắng (2010) về "Tư tưởng của C.Lênin về công tác tổ chức và vấn đề vận dụng của Đảng ta hiện nay"; cuốn sách do Đỗ Ngọc Ninh và Đinh Ngọc Giang (2014) về đổi mới sinh hoạt chi bộ dân cư nông thôn; sách của Đức Lượng (2008) về nâng cao chất lượng sinh hoạt Đảng; sách của Đinh Ngọc Giang (2013) về sinh hoạt chi bộ tổ dân phố; tài liệu của Ban Tuyên giáo Trung ương (2017) bồi dưỡng lý luận chính trị cho đảng viên mới; tác phẩm "Sửa đổi lối làm việc" của Chủ tịch Hồ Chí Minh (2017); sách sưu tầm của Tăng Bình, Thu Huyền và Ái Phương (2012).
- Về các bài viết trên tạp chí chuyên ngành: Các nghiên cứu của Hoàng Minh Thảo (2011), Nguyễn Minh Đức (2011), Phạm Xuân Mát (2012), Vũ Ngọc Lân (2012), Nguyễn Tùng Lâm (2012), Dương Trung Ý (2012), Nguyễn Huy Hùng (2013), Phan Hữu Tích (2013), Đinh Ngọc Giang (2014), Trần Nam Chuân (2014), Lưu Thành Luông (2014), Trần Thị Anh Đào (2015), Văn Thị Thanh Mai (2017), Nguyễn Hoàng Việt (2019), Trần Thị Kim Ninh (2019) tập trung phân tích tư tưởng Hồ Chí Minh, việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI và khóa XII về TPB và PB.
Khoảng trống luận án giải quyết
Các công trình đã công bố nêu trên chủ yếu tập trung vào lý luận chung về xây dựng Đảng, chất lượng tổ chức cơ sở đảng ở địa phương hoặc trong quân đội, công an Việt Nam, hoặc phản ánh khái quát công tác đảng tại Lào. Chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu chuyên biệt, có hệ thống về việc thực hiện nguyên tắc tự phê bình và phê bình trong các chi bộ thuộc lực lượng an ninh nhân dân Lào trong bối cảnh từ năm 2010 đến nay. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng việc khảo sát trực tiếp đặc thù của 5 loại hình chi bộ thuộc Đảng bộ Bộ An ninh nước CHDCND Lào.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Luận án được xây dựng trên nền tảng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng của C.Ăngghen và V.I. Lênin về nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt của chính đảng vô sản kiểu mới, cùng hệ thống quan điểm, đường lối của Đảng NDCM Lào, tư tưởng Cay Xỏn Phôm Vi Hản. Ngoài ra, luận án tham khảo tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và thực hiện nguyên tắc TPB và PB.
Khung lý thuyết của luận án làm rõ các khái niệm:
- Khái niệm chi bộ Đảng Cộng sản, tổ chức cơ sở đảng trong lực lượng an ninh.
- Bản chất, nội dung, vai trò và tiêu chí đánh giá việc thực hiện nguyên tắc TPB và PB.
- Quy trình tổ chức sinh hoạt chi bộ thường kỳ và sinh hoạt chuyên đề theo Điều lệ Đảng NDCM Lào.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành của khoa học Xây dựng Đảng:
- Phương pháp phân tích tài liệu và lịch sử - lôgic: Sử dụng tại Chương 1 và Chương 2 nhằm hệ thống hóa tài liệu đã công bố, phân tích các văn kiện Đại hội Đảng, các chỉ thị, quy định của Trung ương Đảng NDCM Lào và Đảng ủy Bộ An ninh để làm rõ tiến trình phát triển của tổ chức đảng trong ngành an ninh Lào.
- Phương pháp thống kê mô tả và tổng kết thực tiễn: Sử dụng tại Chương 3 để thu thập, phân loại và phân tích số liệu thực tế qua các kỳ đại hội đảng bộ, các báo cáo đánh giá chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên.
- Phương pháp điều tra xã hội học và khảo sát thực tiễn: Khảo sát hoạt động sinh hoạt chính trị, lấy ý kiến nhận xét đánh giá của cấp ủy, cán bộ, đảng viên ở các chi bộ thuộc Đảng bộ Bộ An ninh nước CHDCND Lào.
- Phương pháp quy nạp, diễn dịch và khái quát hóa: Sử dụng tại Chương 4 để tổng hợp kết quả, dự báo tình hình và xây dựng hệ thống giải pháp khả thi đến năm 2030.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
- Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, X, XI của Đảng NDCM Lào; Điều lệ Đảng NDCM Lào khóa X (2016) và khóa XI (2021).
- Các nghị quyết, quy định, chỉ thị của Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng NDCM Lào: Quy định số 11-QĐ/TW (ngày 17/08/1996), Quyết định số 02-BBT/TW (ngày 20/04/2004), Quy định số 02-QĐ/TW (ngày 20/04/2004), Quy định số 03-QĐ/TW (ngày 13/08/2004), Hướng dẫn số 374-HD/BTC-TW (ngày 06/07/2004), Quy định số 01-QĐ/BCT (ngày 05/01/2012), Chỉ thị số 01/BCTTƯĐ.
- Các văn bản, số liệu thống kê, báo cáo tổng kết của Đảng ủy Bộ An ninh Lào (ĐUBAN): Quyết định số 25/ĐU-BAN (ngày 15/03/2001), Chỉ thị số 450-CT/ĐBAN (ngày 04/12/2007), Báo cáo tổng kết các kỳ Đại hội đại biểu Đảng bộ Bộ An ninh lần thứ I (năm 2000), lần thứ II (năm 2005) và lần thứ III (năm 2010).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án và những vấn đề luận án tiếp tục nghiên cứu
Chương này tổng kết toàn diện các công trình nghiên cứu tại Lào và Việt Nam liên quan đến công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nguyên tắc TPB và PB. Tác giả chỉ ra rằng các công trình trước đây đã làm sáng tỏ khái niệm, vai trò của TPB và PB theo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng các lãnh tụ cách mạng. Tuy nhiên, các nghiên cứu chưa đi sâu vào thực tiễn các chi bộ trực thuộc Đảng bộ Bộ An ninh Lào trong giai đoạn hiện nay. Từ đó, luận án xác định 4 nhóm nội dung trọng tâm cần tập trung giải quyết gồm: lý luận về nguyên tắc TPB và PB trong lực lượng an ninh; đánh giá thực trạng ưu điểm và hạn chế; xác định nguyên nhân và bài học kinh nghiệm; đề xuất hệ thống giải pháp khoa học, khả thi đến năm 2030.
Chương 2: Cơ sở lý luận, thực tiễn thực hiện nguyên tắc tự phê bình và phê bình trong các chi bộ ở Bộ An ninh nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào
Chương 2 trình bày cơ sở lý luận về chi bộ và tiến trình hình thành, phát triển của Đảng bộ Bộ An ninh Lào từ năm 1954 đến nay. Lực lượng An ninh Lào lấy ngày 05/04/1961 làm ngày truyền thống (thành lập Phòng Bảo vệ Trung ương). Cơ cấu tổ chức của Đảng ủy Bộ An ninh gồm 15 ủy viên do Bộ Chính trị chỉ định; Ban Thường vụ không quá 1/3 tổng số cấp ủy viên. Đảng ủy các tổng cục gồm từ 9 đến 11 ủy viên; cấp ủy cơ sở có từ 5 đến 7 ủy viên; chi ủy chi bộ cơ sở có từ 3 đến 5 ủy viên.
Luận án phân loại 5 loại hình tổ chức cơ sở đảng trong Bộ An ninh Lào gồm:
- Tổ chức cơ sở đảng trong đơn vị chiến đấu.
- Tổ chức cơ sở đảng ở các cơ quan.
- Tổ chức cơ sở đảng ở đơn vị quản lý cơ sở vật chất, kỹ thuật.
- Tổ chức cơ sở đảng ở học viện, nhà trường.
- Tổ chức cơ sở đảng ở cơ sở sản xuất và doanh nghiệp.
Luận án xác lập hai chức năng chung của các tổ chức cơ sở đảng: (1) Là hạt nhân chính trị lãnh đạo toàn diện các hoạt động của đơn vị; (2) Tiến hành các hoạt động xây dựng nội bộ Đảng trong sạch, vững mạnh toàn diện. Đồng thời, chương này chuẩn hóa quy trình, chế độ sinh hoạt chi bộ: sinh hoạt thường kỳ (1 tháng/lần) và sinh hoạt chuyên đề, bao gồm các bước chuẩn bị của chi ủy, điều hành thảo luận, tiến hành TPB và PB, và kết luận buổi sinh hoạt.
Dưới đây là bảng tổng hợp số liệu phát triển tổ chức đảng và phân loại chất lượng đảng viên qua các kỳ Đại hội đại biểu Đảng bộ Bộ An ninh Lào được luận án trích xuất:
| Kỳ Đại hội |
Thời gian tổ chức |
Số lượng Đảng bộ cơ sở |
Số lượng Chi bộ |
Tổng số Đảng viên |
Đảng viên Nữ |
Kết quả phân loại chất lượng Đảng viên / Tổ chức |
| Đại hội I |
25 - 27/01/2000 |
09 |
31 |
1.805 |
227 |
- Khá: 30% - Trung bình: 20% - Không đạt tiêu chuẩn: 4% (so với năm 1990) |
| Đại hội II |
08/07/2005 |
11 |
103 |
2.045 |
328 |
- Khá: 29,62% - Trung bình khá: 52,83% - Trung bình: 14,78% - Yếu: 2,21% - Không đạt tiêu chuẩn: 0,53% |
| Đại hội III |
22 - 23/09/2010 |
13 |
189 |
3.485 |
624 |
- Khá: 58,27% - Trung bình: 35,40% - Không đạt tiêu chuẩn: 0,03% |
Chương 3: Thực hiện nguyên tắc tự phê bình và phê bình trong các chi bộ ở Bộ An ninh nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào - Thực trạng, nguyên nhân và kinh nghiệm
Chương 3 khảo sát thực tế việc thực hiện nguyên tắc TPB và PB từ năm 2010 đến nay.
- Về ưu điểm: Các cấp ủy đã làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị tư tưởng; chủ động ban hành kế hoạch và quy chế làm việc; duy trì nền nếp sinh hoạt thường kỳ và sinh hoạt chuyên đề; đánh giá phân loại cán bộ, đảng viên định kỳ 6 tháng và 1 năm; xử lý các tình huống phát sinh và thực hiện chế độ báo cáo cấp trên.
- Về hạn chế, khuyết điểm: Nhận thức của một bộ phận đảng viên và cấp ủy viên chưa sâu sắc; việc xây dựng kế hoạch thực hiện TPB và PB có nơi còn hình thức; trong sinh hoạt còn biểu hiện nể nang, né tránh va chạm, e ngại đóng góp ý kiến cho lãnh đạo, chỉ huy; còn biểu hiện vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ; công tác theo dõi, đôn đốc sửa chữa khuyết điểm sau tự phê bình chưa triệt để.
- Về nguyên nhân và kinh nghiệm: Luận án phân tích nguyên nhân khách quan (tác động mặt trái kinh tế thị trường, tính chất bí mật và chuyên biệt của ngành an ninh) và nguyên nhân chủ quan (trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu, trình độ lý luận của cấp ủy viên cơ sở). Từ đó, rút ra các bài học kinh nghiệm về phát huy dân chủ nội bộ, tăng cường kiểm tra giám sát và gắn TPB và PB với nhiệm vụ chính trị chuyên môn.
Chương 4: Phương hướng và những giải pháp chủ yếu để thực hiện tốt nguyên tắc tự phê bình và phê bình trong các chi bộ của Bộ An ninh nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào đến năm 2030
Chương 4 dự báo những yếu tố tác động của tình hình khu vực và quốc tế, yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ an ninh trật tự trong thời kỳ mới và xác định phương hướng thực hiện nguyên tắc TPB và PB đến năm 2030. Luận án đề xuất hệ thống 5 nhóm giải pháp trọng tâm:
- Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy và đảng viên: Tăng cường giáo dục chính trị tư tưởng về vị trí, quy luật và ý nghĩa của nguyên tắc TPB và PB trong xây dựng lực lượng an ninh trong sạch, vững mạnh.
- Đổi mới nội dung, hình thức và quy trình thực hiện: Thực hiện đúng quy chế sinh hoạt chi bộ thường kỳ và sinh hoạt chuyên đề; chuẩn bị kỹ lưỡng nội dung gợi ý kiểm điểm; kết hợp chặt chẽ giữa tự phê bình cá nhân với phê bình tập thể.
- Đề cao trách nhiệm nêu gương của cán bộ chủ chốt: Bí thư chi bộ, thủ trưởng đơn vị, cấp ủy viên phải đi đầu, gương mẫu tự phê bình và chân thành tiếp thu ý kiến phê bình của cấp dưới và quần chúng.
- Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật Đảng: Phối hợp chặt chẽ giữa cấp ủy với cơ quan kiểm tra các cấp; kịp thời phát hiện, chấn chỉnh các chi bộ buông lỏng nguyên tắc; kiên quyết xử lý nghiêm minh các vi phạm.
- Phát huy vai trò của các tổ chức quần chúng và cán bộ, chiến sĩ: Tạo điều kiện thuận lợi để các đoàn thể và quần chúng trong đơn vị tham gia đóng góp ý kiến xây dựng chi bộ và giám sát đảng viên.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Hệ thống hóa và làm sâu sắc thêm cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Cay Xỏn Phôm Vi Hản và quan điểm của Đảng NDCM Lào về nguyên tắc TPB và PB trong tổ chức đảng thuộc lực lượng vũ trang.
- Xác định rõ khái niệm, vị trí, vai trò, chức năng và đặc thù của chi bộ cơ sở và chi bộ trực thuộc tại 5 loại hình đơn vị trong Bộ An ninh nước CHDCND Lào.
- Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá chất lượng thực hiện nguyên tắc TPB và PB phù hợp với tính chất đặc thù của lực lượng An ninh nhân dân Lào.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Khái quát toàn diện tiến trình lịch sử xây dựng Đảng bộ Bộ An ninh Lào từ khi thành lập Đội An ninh Trung ương (10/10/1954) đến giai đoạn hiện nay.
- Cung cấp bức tranh thực trạng chân thực về việc chấp hành nguyên tắc TPB và PB tại các chi bộ thuộc Bộ An ninh Lào giai đoạn 2010 - 2023 thông qua các số liệu thống kê cụ thể qua các kỳ Đại hội Đảng bộ.
- Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ, có cơ sở khoa học và tính khả thi cao nhằm nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ và hiệu quả thực hiện nguyên tắc TPB và PB trong Đảng bộ Bộ An ninh Lào đến năm 2030.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án tập trung khảo sát trong phạm vi các chi bộ trực thuộc Đảng bộ Bộ An ninh nước CHDCND Lào giai đoạn từ năm 2010 đến nay; chưa mở rộng phạm vi khảo sát so sánh chuyên sâu với toàn bộ các tổ chức cơ sở đảng thuộc lực lượng an ninh địa phương tại tất cả các tỉnh, thành phố của Lào.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng nghiên cứu việc thực hiện nguyên tắc TPB và PB tại các Đảng bộ Công an tỉnh, thành phố trên phạm vi toàn quốc của nước CHDCND Lào.
- Nghiên cứu chuyên sâu cơ chế giám sát của quần chúng nhân dân đối với việc sửa chữa khuyết điểm sau tự phê bình và phê bình của đội ngũ cán bộ, chiến sĩ an ninh nhân dân.
Giá trị tham khảo
- Đối với cơ quan lãnh đạo, chỉ đạo: Công trình là tài liệu tham khảo trực tiếp cho Đảng ủy, Ban Thường vụ Đảng ủy Bộ An ninh Lào, cấp ủy các tổng cục, cục, viện, trường trong việc chỉ đạo, kiểm tra và hoàn thiện quy chế sinh hoạt chi bộ, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng.
- Đối với công tác đào tạo và nghiên cứu: Luận án là nguồn tư liệu học thuật phục vụ trực tiếp công tác giảng dạy, nghiên cứu bộ môn Xây dựng Đảng tại Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Lào, Học viện An ninh nhân dân Lào, các Trường Trung cấp An ninh nhân dân Lào và các cơ sở đào tạo lý luận chính trị.
Câu hỏi thường gặp
1. Ngày truyền thống của lực lượng An ninh Lào được xác định là ngày nào và gắn với sự kiện lịch sử gì?
Ngày truyền thống của lực lượng An ninh Lào là ngày 05/04/1961. Sự kiện này gắn liền với quyết định của Ban Tổ chức Trung ương Đảng NDCM Lào về việc củng cố, phát triển lực lượng an ninh trên cả nước và đổi tên Ban Bảo vệ nội bộ thành Phòng Bảo vệ Trung ương.
2. Đảng bộ Bộ An ninh Lào phân chia các tổ chức cơ sở đảng thành những loại hình nào?
Căn cứ vào tính chất, đặc điểm và nhiệm vụ, Đảng bộ Bộ An ninh Lào phân chia thành 5 loại hình tổ chức cơ sở đảng: (1) Tổ chức cơ sở đảng trong đơn vị chiến đấu; (2) Tổ chức cơ sở đảng ở các cơ quan; (3) Tổ chức cơ sở đảng ở đơn vị quản lý cơ sở vật chất, kỹ thuật; (4) Tổ chức cơ sở đảng ở học viện, nhà trường; (5) Tổ chức cơ sở đảng ở cơ sở sản xuất và doanh nghiệp.
3. Điều lệ Đảng NDCM Lào quy định số lượng đảng viên để thành lập chi bộ cơ sở và đảng bộ cơ sở như thế nào?
Theo Điều lệ Đảng, đơn vị có từ 3 đảng viên chính thức trở lên được thành lập tổ chức cơ sở đảng. Nơi có dưới 30 đảng viên chính thức thì thành lập chi bộ cơ sở (hoặc phân chia thành các tổ đảng trực thuộc). Nơi có từ 30 đảng viên chính thức trở lên thì tổ chức thành nhiều chi bộ trực thuộc và lập thành đảng bộ cơ sở do cấp ủy cấp trên quyết định.
4. Quy định về số lượng cấp ủy viên tại các cấp trong Đảng bộ Bộ An ninh Lào như thế nào?
Đảng ủy Bộ An ninh do Bộ Chính trị chỉ định gồm 15 ủy viên (Ban Thường vụ không quá 1/3 tổng số ủy viên). Đảng ủy các tổng cục gồm từ 9 đến 11 ủy viên. Đảng ủy cơ sở gồm từ 5 đến 7 ủy viên. Chi ủy chi bộ cơ sở gồm từ 3 đến 5 ủy viên.
5. Chế độ và quy trình sinh hoạt chi bộ định kỳ được quy định ra sao?
Ban chi ủy họp thường kỳ 1 tháng/lần. Chi bộ cơ sở và chi bộ trực thuộc tiến hành sinh hoạt chi bộ định kỳ 1 tháng/lần (có thể họp bất thường khi cần thiết). Quy trình sinh hoạt gồm: công tác chuẩn bị của chi ủy/bí thư chi bộ; tiến hành sinh hoạt (thông báo tình hình đảng viên, thông qua chương trình, báo cáo công tác, thảo luận, tiến hành TPB và PB); bí thư kết luận, biểu quyết thông qua nghị quyết và thư ký lập biên bản. Sinh hoạt chuyên đề được tổ chức theo kế hoạch năm và không thay thế sinh hoạt thường kỳ.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Samakchay Phuypaseuth là công trình nghiên cứu chuyên khảo về thực hiện nguyên tắc tự phê bình và phê bình trong các chi bộ thuộc Bộ An ninh nước CHDCND Lào. Tác giả đã làm rõ cơ sở lý luận, hệ thống hóa lịch sử hình thành Đảng bộ Bộ An ninh và đánh giá đúng thực trạng thực hiện nguyên tắc này giai đoạn từ năm 2010 đến nay. Hệ thống 5 nhóm giải pháp được đề xuất trong luận án có giá trị khoa học và thực tiễn, đóng góp trực tiếp vào công tác xây dựng lực lượng An ninh nhân dân Lào vững mạnh toàn diện đến năm 2030.