CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. TỔNG QUAN VỀ CÂY ỔI (Psidium guajava L. Vị trí phân loại: Theo hệ thống phân loại Armen Takhtajan, cây Psidium guajava L. có vị trí phân loại được tóm tắt như sau:[71] Giới: Plantae (thực vật) Ngành: Magnoliophyta (Ngọc lan) Lớp: Magnoliophyta (Ngọc lan) Phân lớp: Rosidae (Hoa hồng) Bộ: Myrtaceae (Sim) Họ: Myrtaceae (Sim) Chi: Psidium L.
Loài: Psidium guajava L. Đặc điểm thực vật cây ổi: Tùy vào điều kiện thời tiết và môi trường phát triển mà mỗi cây sẽ có đặc điểm khác nhau nhưng đa số cây ổi là những cây gỗ nhỏ với chiều cao trung bình là 3 - 6 m. Thân cây ổi thường có một lớp vỏ mỏng cảm giác trơn nhẵn, thân cây sẽ bong ra thành từng mảng khi cây già đi. Có nhiều lông mịn ở cành non, lá và các bộ phận của hoa.
Những cành non của cây có hình tứ giác và tại những cành này có những lông tơ mịn [3], [50]. Lá cây thường mọc đối, cuống lá ngắn, nhẵn. Lá ổi có mùi thơm khi vò nát, đây là mùi đặc trưng của tinh dầu. Phiến lá có hình bầu dục hoặc hình elip, thuôn dài; dài 7 - 16 cm, rộng 3 - 5 cm.
Lá thường có màu xanh nhạt đến xanh đậm. Gân lá thường có hình lông chim và ở mặt dưới lá có lông tơ mịn [6], [50]. Hoa ổi màu trắng, mọc đơn độc hoặc tập trung 2 - 3 cái ở kẽ lá, lưỡng tính. Cuống hoa có lông mịn, màu xanh.
Tràng hoa có 5 cánh, có lông mềm, gần đều, màu trắng mỏng thường nhanh chóng rụng. Một búi thường gồm 250 nhị hoa màu trắng có đầu màu nhạt và có bao phấn màu vàng [3], [50]. Quả ổi là loại quả mọng; hình cầu, hình trứng hoặc tùy theo loài; vỏ quả giữa dày; ở đầu quả có sẹo của đài tồn tại. Khi chín quả thường có màu vàng; ruột màu đỏ, trắng hoặc vàng.
Có chứa nhiều hạt, hình thận, không đều. Phân bố và sinh thái [1], [3]. Ổi có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới Châu Mỹ. Theo Dc Candolle, vùng trồng phổ biến của ổi có thể nằm giữa Mexico và Peru.
Chính những người Tây Ban Nha đã đưa cây đến các đảo ở Thái Bình Dương và Philippin, còn người Bồ Đào Nha du nhập cây vào Ấn Độ. Trong quá trình du nhập, trồng trọt và lai tạo giống, người ta đã tạo nên rất 2 nhiều giống ổi khác nhau. Về sau chúng được trồng phổ biến ở khắp miền nhiệt đới Châu Á, Châu Phi. Đặc biệt ở nước ta, ổi được trồng khá phổ biến ở khắp các địa phương, cả vùng đồng bằng tới miền núi trừ vùng cao trên 1500m.
Chỉ tính riêng quần thể ổi trồng đã có khoảng 7-10 giống khác nhau. Quần thể mọc hoang dại thường chỉ thấy ở vùng trung du và vùng núi thấp. Chúng mọc lẫn với nhiều loại cây bụi khác nhau ở các vùng đất, tại vị trí sau nương rẫy hay dọc theo các đường đi. Quần thể ổi mọc hoang dại có hoa quả nhiều nhưng chất lượng quả kém nên ít được chú ý.
Ổi là cây ưa sáng, sinh trưởng và phát triển trong một giới hạn rộng của vùng khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới. Giới hạn về nhiệt độ từ 15 đến 45oC, nhiệt độ tốt nhất cho cây sinh trưởng và cho ra nhiều quả ở nhiệt độ từ 23 đến 28oC, lượng mưa 1000 - 2000 mm/năm. Cây có thể sống được trong thời tiết khô nóng tuy nhiên trong thời tiết quá ẩm ướt thường xuyên, kèm sương mù thì cây ra hoa kết quả kém. Ổi ra hoa quả nhiều trong một năm.
Cụm hoa thường xuất hiện trên những cành non mới ra cùng năm. Các nước trồng nhiều ổi nhất thế giới là Brasil, Mexico, Thái Lan, Indonesia và một số nước khác Châu Á. Ước tính mỗi năm có khoảng vài trăm ngàn tấn quả được đưa ra thị trường thế giới. Hoa Kỳ, Nhật Bản và Châu Âu là những nước thường xuyên nhập khẩu ổi từ các nước nhiệt đới.
Bộ phận dùng: Ổi không chỉ dùng làm thực phẩm mà còn có tác dụng làm thuốc nhờ vào các bộ phận: búp non, lá, quả, vỏ thân và vỏ rễ nhưng hay dùng nhất là búp và lá non. Dùng tươi hay phơi hoặc sấy khô [1], [2]. Trong đông y ổi cũng đóng góp quan trọng trong một số bài thuốc để phòng và điều trị bệnh. Dưới đây là một số bài thuốc đông y từ ổi:[3] - Chữa tiêu chảy: + Búp ổi 12g, vỏ thân ổi, tô mộc mỗi vị 8g; gừng 2g sắc uống ngày 1 thang.
+ Búp ổi (sao qua) 20g, vỏ quýt khô 10g, gừng nướng chín 10g. Sắc uống ngày 1 thang. + Búp ổi 20g, lá khổ sâm 12g, gừng sống 8g. Băm nhỏ, sắc uống 2 lần trong 1 ngày + Lá ổi, vỏ quả bòng khô, mỗi vị 20g, lá chè tươi 10g, gừng tươi 2 lát.
Sắc uống trong ngày + Búp ổi, củ sả 16g, củ riềng (thái lát) 8g, sao qua, sắc đặc uống trong ngày. + Lá ổi 8g; vỏ rụt 12g; thần khúc, thảo quả, hoắc hương, mỗi vị 8g; can khương 6g. Tán bột, làm viên, ngày uống 8-10g. 3 - Chữa lỵ: vỏ rộp ổi, hạt mã đề, hoa hòe, rễ mơ lông, mỗi vị 8g.
Sao vàng sắc uống ngày 1 thang. - Chữa thổ tả: vỏ rộp ổi sao đen, lá phèn đen mỗi vị 40g; hoài sơn sao đen, liên nhục sao đen mỗi vị 20g; trạch tả sao, trư linh, bạch truật sao vàng, bạch linh, hoắc hương mỗi vị 12g. Tất cả phơi khô tán bột rây mịn. Mỗi lần uống 1 thìa cà phê, ngày 2 lần.
- Chữa khí hư: vỏ rộp ổi, vỏ cây sắn thuyền, rễ cỏ tranh mỗi vị 30g, sắc uống ngày 1 thang. THÀNH PHẦN HÓA HỌC CỦA LÁ CÂY ỔI (PSIDIUM GUAJAVA L.) Lá ổi là nguồn cung cấp nhiều chất dinh dưỡng vi lượng, đa lượng tốt cho sức khỏe và các hợp chất có hoạt tính sinh học. Trong lá ổi thường chứa 0,62% chất béo; 18,53% protein; 12,74% carbohydrat; 103 mg axit ascorbic và 1717 mg axit gallic[8]. Lá ổi có chứa thành phần chính là flavonoid, terpenoid, và 1 số hợp chất khác.
Một số nghiên cứu flavonoid trong lá ổi ❖ Nghiên cứu flavonoid trên thế giới Flavonoid là thành phần chính, chiếm tỷ lệ chủ yếu trong lá ổi. Các flavonoid đã được nghiên cứu là thành phần có hoạt tính sinh học rất quan trọng trong lá ổi. Hiện tại trên thế giới đã phân lập được flavonoid từ lá ổi thuộc các nhóm flavan, flavanon, flavon, isoflavon, flavonol,. - Flavan: năm 1994 Matsuo Tomoaki và các cộng sự đã phân lập được gallocatechin từ lá ổi [46]; sau đó Qa’dan Fadi và các cộng sự năm 2005 đã phân lập được catechin từ lá ổi [55];.
- Flavanon: trong báo cáo của Jiang Lirong và các cộng sự phát hiện trong lá ổi có chứa naringenin, demthoxymatteucinol thuộc nhóm flavanon [31];. - Flavon: trong báo cáo của Jiang Lirong và các cộng sự đã phát hiện các flavon khác từ lá ổi là apigenin, ononin [31];. - Isoflavon: Jiang Lirong và các cộng sự phát hiện trong lá ổi có chứa các isoflavon: genistein, glycitin, daidzein, formononetin, biochanin, prunetin [31];. và các cộng sự đã phân lập được 4 chất thuộc nhóm flavonol gồm quercetin, kaempferol, guaijaverin, guavinosid A [65]; năm 1994, Lozoya X cùng các cộng sự đã phân lập được isoquercetin nhóm flavonol từ lá ổi [45]; trong nghiên cứu của Arima & Danno năm 2002, đã phân lập được 3 hoạt chất từ lá ổi đó là morin-3-O-α-L-lyxopyranosid, morin-3-O-α-L-arabopyranosid [7]; năm 2010, từ lá ổi Metwally A.
và các cộng sự đã phân lập được 4 hợp chất thuộc nhóm flavonol là quercetin-3-O-α-L-arabinofuranosid, quercetin-3-O-β-D- galactosid, quercetin-3-O-β-D-glucosid và quercetin-3-O-β-D-arabinopyranosid [48]; Shu Ji-Cheng và các cộng sự năm 2011 đã phân lập ra chất mới từ lá ổi đó là 4 reynoutrin [67]; trong báo cáo của Jiang Lirong và cộng sự phát hiện các flavonol dịch chiết lá ổi là quercetin-3-O-β-D-glucuronid,quercetin-3-O-(6”-feruloyl)-β-D- galactopyranosid,quercetin-3-O-β-D-xylopyranosid,quercetin-3-O-gentiotis,.1: Một số Flavonoid phân lập được từ lá ổi trên thế giới Tài STT liệu Tên hợp chất Công thức hóa học tham khảo Flavan 1 Catechin [55] 2 Gallocatechin [46] Flavanon 3 Naringenin [31] 4 Demthoxymatteucinol [31] Flavon 5 Apigenin [31] 5 Isoflavon 6 Prunetin [31] 7 Genistein [31] 8 Biochanin [31] 9 Daidzein [31] 10 Formononetin [31] Flavonol 11 Rutin [31] 12 Quercetin [31] 13 Kaempferol [31] 6 14 Reynoutrin [67] Morin-3-O-a-L- 15 [7] lyxopyranosid Isorhamnetin-3-O- 16 [73] galactosid 17 Guaijaverin [31] 18 Myricetin [31] 7 19 Isoquercetin [45] Quercetin-3-O-β-D- 20 [73] xylopyranosid Quercetin-3-O-α-L- 21 [48] arabinofuranosid Quercetin-3-O-β-D- 22 [48] arabinopyranosid ❖ Một số nghiên cứu flavonoid lá ổi ở Việt Nam Năm 2021, Lê Thị Bạch và các cộng sự phân lập được hai hợp chất flavonoid (avicularin, kaempferol) từ lá ổi bằng cách sử dụng kỹ thuật sắc ký cột silical gel và kỹ thuật sắc ký lớp mỏng. Tác giả sử dụng hệ dung môi n-hexan: ethyl acetat với tỷ lệ (100:0 - 0:100 tt/tt) thu được 15 phân đoạn (EE1-15). Avicularin được phân lập tại phân đoạn EE5 có khối lượng là 50 mg. Tại phân đoạn EE6, tác giả đã phân lập được kaempferol với khối lượng thu được là 20 mg [39].
Sau đó đến năm 2023, Nguyễn Phúc Đàm và các cộng sự đã lần đầu tiên phân lập được quercetin-3-O-sulfat. Nhóm tác giả bằng hệ dung môi diclomethan: ethyl acetat: methanol (100: 0: 0 – 0: 0: 100 tt/tt/tt) thu được 10 phân đoạn. Từ phân đoạn 7 bằng các hệ dung môi thích hợp đã phân lập được 7 mg quercetin-3-O-sulfat [51].Đến hiện tại các nghiên cứu phân lập flavonoid từ lá ổi tại Việt Nam vẫn còn hạn chế vì vậy cần phải tiến hành nghiên cứu phân lập thêm các flavonoid từ lá ổi.2: Một số flavonoid từ lá ổi phân lập được từ Việt Nam STT Tên hợp chất Công thức hóa học Tài liệu tham khảo 1 Quercetin 3-O-sulfat [51] 2 Avicularin [39] 3 Kaempferol [39] 1. Một số nghiên cứu về các nhóm chất khác của lá ổi - Triterpenoid: + Nhóm ursan: acid ursolic [3], acid 2-hydroxyursolic [13],.
+ Nhóm olean: acid oleanolic, acid arjunolic [26], acid maslinic [3], acid guavanoic, acid guavacoumaric [13],. - Terpernoid khác: acid asiatic, acid jacoumaric, acid isoneriucoumaric,. - Nhóm benzophenon: 2,6-dihydroxy-3,5-dimethyl-4-O-β-D-gluacosyl pyranosyl benzophenon; 2,6-dihydroxy-3,5-dimethyl-4-O-(6”-O-galloyl-β-D-glucopyranosyl) benzophenon; 2,6-dihydroxy-3-methyl-4-O-(6”-O-galloyl-β-D-glucopyranosyl) - benzophenon [29]. - Tanin: lá ổi rất giàu tanin, búp và lá non chứa 8 - 9% tanin loại pyrrogalol như acid galic, acid ellagic.
Bên cạnh đó, lá ổi còn chứa tanin catechol và loại kết hợp giữa tanin thủy phân và tanin ngưng tụ [3]. TÁC DỤNG SINH HỌC CỦA FLAVONOID TỪ LÁ CÂY ỔI (PSIDIUM GUAJAVA L.) Flavonoid là thành phần chính trong dịch chiết lá ổi. Trên thế giới có rất nhiều công trình nghiên cứu chứng minh flavonoid có tác dụng kháng khuẩn, hạ đường huyết, chống ung thư, chống viêm, tác dụng trên hệ tiêu hóa và các hoạt tính sinh học khác. Tác dụng chống ung thư Dịch chiết từ lá ổi đã được chứng minh có khả năng chống được một số bệnh ung thư.
Nghiên cứu của Kaileh M.