Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong lịch sử y dược học, các hợp chất tự nhiên đóng vai trò quan trọng trong việc phòng ngừa và điều trị bệnh, cung cấp nhiều hoạt chất kinh điển như morphin, penicillin hay artemisinin. Việt Nam có hệ thực vật phong phú với nhiều cây thuốc được sử dụng lâu đời trong y học dân gian, tuy nhiên nhiều loài cây chưa được nghiên cứu toàn diện bằng các phương pháp khoa học hiện đại về mặt thành phần hóa học và tác dụng dược lý.
Cây Nhục đậu khấu (Myristica fragrans Houtt), thuộc họ Máu chó (Myristicaceae), là cây thân gỗ phân bố ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Hạt của cây được dùng làm gia vị, hương liệu và dược liệu cổ truyền để chữa đau đầu, sốt, viêm khớp. Các nghiên cứu quốc tế đã chứng minh hạt Nhục đậu khấu chứa hàm lượng phong phú các dẫn xuất phenolic (lignan, neolignan, diphenylalkan...) với nhiều hoạt tính sinh học có giá trị như hạ đường huyết, chống oxy hóa, chống viêm, kháng khuẩn và bảo vệ gan. Tuy nhiên, tại Việt Nam, các công trình nghiên cứu sâu về thành phần hóa học và tác dụng sinh học của loài dược liệu này còn hạn chế.
Trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu sàng lọc do Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia (NAFOSTED) tài trợ (mã số 108.31), dịch chiết hạt Nhục đậu khấu đã ghi nhận tác dụng ức chế màng sinh học (kháng biofilm) tốt trên vi khuẩn tụ cầu vàng Staphylococcus aureus. Do đó, việc nghiên cứu chiết xuất, phân lập và xác định cấu trúc các hợp chất phenolic từ hạt Nhục đậu khấu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn cao.
Khóa luận được thực hiện nhằm giải quyết 2 mục tiêu cụ thể:
- Chiết xuất dịch chiết toàn phần và các dịch chiết phân đoạn từ hạt Nhục đậu khấu.
- Phân lập và xác định cấu trúc hóa học của một số hợp chất phenolic từ dịch chiết phân đoạn.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: 2 kg hạt Nhục đậu khấu (Myristica fragrans Houtt) dạng khô, có nguồn gốc từ Trung Quốc do Công ty TNHH Đông Dược Tân Lợi nhập khẩu, đáp ứng các tiêu chuẩn kiểm nghiệm của Dược điển Trung Quốc 2015 (bộ 1 và bộ 4).
- Phạm vi và địa điểm thực hiện: Đề tài được triển khai thực tế tại Tổ Chiết xuất dược liệu, Bộ môn Kỹ thuật Hóa dược và Chiết xuất, Trường Đại học Dược Hà Nội năm 2024.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và phân loại thực vật
Theo hệ thống phân loại Takhtajan, cây Nhục đậu khấu có vị trí phân loại học: Giới Thực vật (Plantae), Ngành Ngọc Lan (Magnoliophyta), Lớp Ngọc Lan (Magnoliopsida), Phân lớp Ngọc Lan (Magnoliidae), Bộ Máu Chó (Myristicales), Họ Máu Chó (Myristicaceae), Chi Myristica, Loài Myristica fragrans Houtt.
Về mặt hóa học, nhóm hợp chất phenolic trong hạt Nhục đậu khấu gồm nhiều cấu trúc đặc trưng:
- Lignan và Neolignan: Bao gồm diphenylpropanoid neolignan, benzofuranoid neolignan, 2,3-dimethyl-1,4-diaryl-butane lignan, aryltetralin lignan (ví dụ: macelignan, isootobaphenol, grandisin, raphidecursinol B, fragransol B).
- Diphenylalkan: Malaricone B, virolane, tetramethylhexestrol.
- Phenylpropanoid: Safrole, isoelemicin, axit caffeic, hydroxyeugenol.
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm
Nghiên cứu sử dụng các phương pháp chiết xuất, tách chiết và phân tích phổ cấu trúc hóa dược chuẩn hóa:
- Phương pháp chiết xuất: Sử dụng phương pháp ngâm nóng ở nhiệt độ 60°C với dung môi ethanol 96% theo các tỷ lệ dung môi/dược liệu (DM/DL) lần lượt là 10:1, 8:1, 6:1 (thể tích/khối lượng), chiết 3 lần với thời gian 6 giờ mỗi lần. Dịch chiết sau khi gộp và lọc được cô hồi lưu dưới áp suất giảm trên máy cất quay chân không BUCHI Toledo AB204S để thu cao tổng ethanol.
- Phương pháp chiết phân bố lỏng - lỏng: Cao tổng ethanol được phân tán vào nước cất tối thiểu và chiết phân bố lần lượt với các dung môi có độ phân cực tăng dần gồm dicloromethan ($\text{CH}_2\text{Cl}_2$), ethyl acetat ($\text{EtOAc}$) và lớp nước dư để thu nhận các cao phân đoạn tương ứng.
- Phương pháp phân lập: Sắc ký cột cổ điển (Column Chromatography - CC) pha thường sử dụng chất hấp phụ pha tĩnh là silica gel cỡ hạt 60 Mesh (Merck). Kỹ thuật nạp mẫu áp dụng cả nạp mẫu khô (tẩm silica gel theo tỷ lệ 1:1,5 – 1:2 rồi làm khô) và nạp mẫu ướt tùy thuộc vào độ tan và khối lượng mẫu.
- Phương pháp kiểm tra sắc ký: Sắc ký lớp mỏng (Thin-Layer Chromatography - TLC) sử dụng bản mỏng tráng sẵn silica gel $60\text{ F}{254}$ / $\text{GF}{254}$ (Merck) để khảo sát hệ dung môi pha động, theo dõi các phân đoạn rửa giải và gộp phân đoạn. Vết sắc ký được phát hiện dưới đèn bức xạ tử ngoại bước sóng $\lambda = 254\text{ nm}$ và phun hiện màu bằng dung dịch axit sulfuric ($\text{H}_2\text{SO}_4$) kết hợp sấy nhiệt.
- Phương pháp xác định cấu trúc: Kết hợp tính chất cảm quan, đo góc quay cực $[\alpha]_D^{23}$ trên phân cực kế, phổ cộng hưởng từ hạt nhân 1 chiều ($^1\text{H-NMR}$, $^{13}\text{C-NMR}$ ở tần số 500 MHz và 600 MHz), phổ cộng hưởng từ hạt nhân 2 chiều ($\text{HSQC}$, $\text{HMBC}$) và đối chiếu dữ liệu phổ với các tài liệu khoa học quốc tế đã công bố.
Nội dung chính theo từng chương
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
Chương tổng quan hệ thống hóa các tài liệu khoa học về cây Nhục đậu khấu trên thế giới và tại Việt Nam:
- Đặc điểm sinh thái thực vật: Cây gỗ to cao 8–10 m, xanh quanh năm, lá hình mác rộng, hoa khác gốc màu vàng trắng. Quả hạch hình cầu/quả lê, khi chín nứt 2 mảnh để lộ hạt có vỏ dày cứng bao bởi áo hạt màu hồng rách (gọi là nhục ngọc quả; phần nhân hạt phơi khô gọi là nhục đậu khấu). Cây bắt đầu ra hoa sau 9 năm tuổi và cho thu hoạch liên tục trong khoảng 75 năm (2–3 vụ/năm). Hạt cần phơi khô từ 3–6 tuần trước khi sử dụng.
- Dược lý học thực nghiệm quốc tế:
- Chống viêm, giảm đau: Dịch chiết cloroform liều 50, 100, 200 mg/kg ức chế phù chân chuột do carrageenan và giảm đau mạnh hơn axit acetylsalicylic liều 150 mg/kg.
- Chống oxy hóa: Dịch chiết aceton thể hiện hoạt tính bắt giữ gốc tự do DPPH đạt 63,04%, khả năng chelat hóa sắt đạt 64,11%, ức chế peroxy hóa $\beta$-caroten 74,36% ở nồng độ 1 mg/ml (tổng hàm lượng phenolic đạt 93,12 mg GAE/100g).
- Kháng khuẩn, kháng nấm: Dịch chiết hạt thể hiện phổ kháng rộng trên các vi khuẩn Staphylococcus aureus (đường kính vòng vô khuẩn 13,8 ± 0,42 mm), Bacillus subtilis, Pseudomonas aeruginosa, P. putida và các nấm Aspergillus niger, A. fumigatus, A. favus. Dẫn xuất nectandrin-B ức chế nấm gây bệnh thực vật với $\text{IC}_{50} = 24\text{ mg/L}$.
- Hạ đường huyết, chống béo phì: Các lignan nectandrin A, nectandrin B, tetrahydrofuroguaiacin B ở nồng độ 5 $\mu\text{M}$ kích hoạt mạnh enzyme AMPK. Macelignan cải thiện tình trạng kháng insulin và chuyển hóa glucose tương đương troglitazone. Dịch chiết ethanol làm hạ đường huyết ở chuột đái tháo đường do streptozotocin (STZ).
- Độc tế bào ung thư: Hợp chất axit meso-dihydroguaiaretic ức chế các dòng tế bào ung thư phổi H358, H1299, H460, ung thư cổ tử cung Hela, ung thư gan HepG2 với giá trị $\text{IC}{50}$ dao động từ 10,1 đến 27,7 $\mu\text{M}$ (so với taxol có $\text{IC}{50} = 4,9 - 6,6\ \mu\text{M}$). Macelignan gây độc tế bào trên dòng H358 ($\text{IC}{50} = 10,2\ \mu\text{M}$) và Hela ($\text{IC}{50} = 25,1\ \mu\text{M}$).
- Bảo vệ gan, thần kinh, tim mạch: Myristicin ức chế mạnh TNF-$\alpha$ huyết thanh và giảm phân mảnh DNA gan do LPS/D-GalN trên chuột. Malabaricon C ức chế acetylcholinesterase với $\text{IC}_{50} = 2,06\ \mu\text{g/ml}$. Dịch chiết nước (100 mg/kg) bảo vệ chuột chống tổn thương nhồi máu cơ tim do isoproterenol.
- Độc tính: Thành phần myristicin và elemicin là nguyên nhân chính gây ngộ độc thần kinh, tiêu hóa và tim mạch. Liều gây độc tối thiểu ở người được ghi nhận là 5 g bột hạt (chứa 1–2 mg myristicin).
- Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam: Nghiên cứu trong nước còn hạn chế; trước nghiên cứu này mới chỉ có báo cáo xác định được một số hoạt chất như pinoresinol và malabaricon C.
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chương này mô tả chi tiết thông số thực nghiệm, nguồn gốc nguyên liệu và thiết bị:
- Dược liệu hạt Nhục đậu khấu khô (2 kg) được xay nhỏ trước khi đưa vào chiết xuất.
- Hóa chất dung môi hữu cơ đạt tiêu chuẩn sản xuất: n-hexan, dicloromethan, aceton, methanol, ethyl acetat, cồn công nghiệp và nước cất.
- Thiết bị chính: Máy cất quay chân không BUCHI Toledo AB204S (Thụy Sĩ), bản mỏng TLC silica gel $60\text{ F}_{254}$, cột sắc ký thủy tinh các kích thước.
- Thiết lập quy trình chiết ngấm nóng ethanol 96% ở 60°C qua 3 lần chiết, lọc vải lọc, cô cất thu hồi dung môi dưới áp suất giảm.
- Thiết lập quy trình phân tách phân đoạn lỏng - lỏng thu 3 phân đoạn dịch chiết: phân đoạn dicloromethan, phân đoạn ethyl acetat và phân đoạn nước.
- Quy trình sắc ký cột silica gel pha thường cho phân đoạn ethyl acetat: khảo sát hệ dung môi rửa giải bằng sắc ký lớp mỏng, tiến hành giải ly gradient phân cực và đẳng dòng, hứng ống nghiệm, kiểm tra vết bằng đèn tử ngoại 254 nm và thuốc thử $\text{H}_2\text{SO}_4$ sấy nhiệt.
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM
Chương này trình bày toàn bộ số liệu thu hồi cao chiết, quá trình phân lập và giải phổ cấu trúc:
1. Kết quả chiết xuất và phân đoạn cao chiết
Từ 2 kg bột hạt Nhục đậu khấu ban đầu, sau quá trình chiết ngâm nóng và chiết phân bố lỏng - lỏng, khối lượng các cao chiết thu được như sau:
| STT |
Loại cao chiết / Phân đoạn |
Khối lượng thu được (g) |
| 1 |
Cao chiết toàn phần ethanol 96% |
110 |
| 2 |
Cao phân đoạn dicloromethan ($\text{CH}_2\text{Cl}_2$) |
52 |
| 3 |
Cao phân đoạn ethyl acetat ($\text{EtOAc}$) |
15 |
| 4 |
Cao phân đoạn nước |
25 |
2. Kết quả phân lập hợp chất từ phân đoạn ethyl acetat
Từ 15 g cắn chiết ethyl acetat, tiến hành sắc ký cột silica gel pha thường với hệ dung môi $\text{CH}_2\text{Cl}_2:\text{MeOH}$ (tỷ lệ thể tích thay đổi từ 50:1, 20:1, 10:1, 5:1, 2:1 đến 0:1), thu được 6 phân đoạn chính ký hiệu từ N1 đến N6.
- Phân đoạn N1 (850 mg) qua cột silica gel với hệ n-hexan:EtOAc (5:1 v/v) thu được phân đoạn nhỏ N1.3 (250 mg). N1.3 tiếp tục tinh chế bằng hệ $\text{CH}_2\text{Cl}_2:\text{Aceton}:\text{MeOH}$ (6:1:0,1 v/v/v) thu phân đoạn N1.2 (83 mg). Phân đoạn N1.2 được tinh chế lần cuối bằng hệ n-hexan:EtOAc:MeOH (5:1:0,2 v/v/v) thu được hợp chất sạch ký hiệu là NĐK-09.
- Phân đoạn N2 qua cột sắc ký với hệ $\text{CH}_2\text{Cl}_2:\text{Aceton}$ (7:1 v/v) thu được phân đoạn N2.4 (200 mg) và N2.5 (200 mg). Tinh chế phân đoạn N2.4 và N2.5 qua các cột phụ với hệ $\text{CH}_2\text{Cl}_2:\text{EtOAc}:\text{MeOH}$ (3:1:0,1 v/v/v) và n-hexan:Aceton (5:1:0,2 v/v/v) thu được hợp chất sạch ký hiệu là NĐK-02.
3. Kết quả xác định cấu trúc hóa học
| Thông số phổ nghiệm |
Hợp chất NĐK-09 |
Hợp chất NĐK-02 (Licarin A) |
| Trạng thái vật lý |
Chất rắn vô định hình màu trắng |
Chất rắn vô định hình màu trắng |
| Khung cấu trúc |
Diphenylpropanoid neolignan |
Benzofuranoid neolignan (2,3-dihydrobenzofuran) |
| Dung môi đo NMR |
$\text{CDCl}_3$ |
$\text{MeOD}$ |
| Tín hiệu carbon chính |
$\delta_C 80,0\text{ (C-8)}; 42,9\text{ (C-7)}; 19,6\text{ (C-9)}$ |
$\delta_C 94,9\text{ (C-7)}; 46,8\text{ (C-8)}; 18,1\text{ (C-9)}$ |
| Nhóm thế methoxy |
3 nhóm ($\delta_H 3,80; 3,86$) |
2 nhóm ($\delta_H 3,86$) |
| Cấu hình lập thể |
Cấu hình $(8R)$ ($[\alpha]_D^{23} = -11,9$) |
Cấu hình $(7S, 8S)$ |
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN
- Về phương pháp chiết xuất: Việc lựa chọn dung môi ethanol 96% cùng kỹ thuật ngâm nóng ở 60°C là phương pháp kinh tế, dung môi an toàn, thân thiện môi trường và có khả năng hòa tan tốt các hợp chất phân cực trung bình và phân cực yếu trong dược liệu. Quá trình chiết phân bố lỏng - lỏng với dicloromethan, ethyl acetat và nước giúp phân loại hiệu quả các nhóm chất theo độ phân cực, tạo điều kiện thuận lợi cho sắc ký cột.
- Về phương pháp phân lập: Kỹ thuật sắc ký cột silica gel pha thường kết hợp theo dõi bằng sắc ký lớp mỏng là phương pháp phù hợp với quy mô phòng thí nghiệm, cho phép phân tách các hợp chất phenolic neolignan có độ tinh khiết cao từ phân đoạn ethyl acetat.
- Về hợp chất NĐK-09: Được phân lập lần đầu từ hạt Nhục đậu khấu vào năm 1973. Dù trên thế giới chưa có nhiều báo cáo thử nghiệm chuyên sâu về hoạt tính sinh học của riêng phân tử này, nhóm phenolic nói chung có tiềm năng chống oxy hóa rất lớn. Đây là đối tượng triển vọng để tiếp tục đánh giá tác dụng kháng biofilm trong đề tài NAFOSTED.
- Về hợp chất NĐK-02 (Licarin A): Được phát hiện lần đầu năm 1973 trong hạt Nhục đậu khấu và một số loài thực vật khác như Piper betle. Các công trình y sinh học quốc tế gần đây chứng minh Licarin A có tác dụng chống sán máng in vivo đường uống ở chuột (liều 400 mg/kg giảm ~50% lượng giun và 50–60% lượng trứng ký sinh, giảm sưng gan lách). Ngoài ra, Licarin A an toàn cho tế bào ở nồng độ < 12,0 $\mu\text{M}$ và tiêm dịch kính liều 6,0 $\mu\text{M}$ giúp chống viêm mắt hiệu quả thông qua việc làm giảm nồng độ các cytokin gây viêm TNF-$\alpha$ và IL-6. Licarin A là thành phần sáng giá trong việc đóng góp vào hoạt tính kháng biofilm của hạt Nhục đậu khấu.
Kết quả và đóng góp
Kết quả chính
- Đã chiết xuất từ 2 kg bột hạt Nhục đậu khấu thu được 110 g cao tổng ethanol 96%.
- Phân đoạn thành công cao tổng thu được 52 g cao phân đoạn $\text{CH}_2\text{Cl}_2$, 15 g cao phân đoạn $\text{EtOAc}$ và 25 g cao phân đoạn nước.
- Phân lập từ phân đoạn ethyl acetat và giải mã cấu trúc hoàn chỉnh của 2 hợp chất phenolic sạch:
- NĐK-09: (-)-(8R)-2-(4-allyl-2,6-dimethoxyphenoxy)-1-(4-hydroxy-3-methoxyphenyl)propan.
- NĐK-02: (+)-dehydrodiisoeugenol (Licarin A; cấu hình $7S, 8S$).
Giải pháp và kiến nghị
- Cần triển khai các thử nghiệm sinh học (kháng vi sinh vật, kháng biofilm, ức chế enzyme) đối với cao toàn phần, các cao phân đoạn và hai hợp chất NĐK-09, Licarin A đã phân lập.
- Tiếp tục thực hiện phân lập sâu các phân đoạn còn lại của cắn ethyl acetat, phân đoạn dicloromethan và phân đoạn nước để tìm kiếm thêm các dẫn xuất phenolic mới.
Đóng góp học thuật
- Đề tài cung cấp quy trình chiết xuất và hệ dung môi sắc ký cột chi tiết để phân lập các neolignan từ hạt Nhục đậu khấu.
- Bổ sung bộ dữ liệu phổ cộng hưởng từ hạt nhân ($^1\text{H-NMR}$, $^{13}\text{C-NMR}$, HSQC, HMBC) và dữ liệu hóa học thực nghiệm của hai hợp chất neolignan tại Việt Nam, phục vụ trực tiếp cho định hướng nghiên cứu kháng biofilm của đề tài NAFOSTED mã số 108.31.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của đề tài
- Do giới hạn về mặt thời gian của một khóa luận tốt nghiệp cử nhân, nghiên cứu chưa tiến hành đánh giá thực nghiệm hoạt tính sinh học (kháng biofilm trên Staphylococcus aureus, chống oxy hóa) trực tiếp trên hai hợp chất sạch đã phân lập.
- Quá trình phân lập mới chỉ tập trung vào một số tiểu phân đoạn của cắn ethyl acetat, chưa phân lập toàn diện các hợp chất trong phân đoạn dicloromethan (khối lượng lớn nhất: 52 g) và phân đoạn nước.
Hướng nghiên cứu tiếp theo
- Khảo sát hoạt tính kháng biofilm, kháng khuẩn và độc tính tế bào của hợp chất NĐK-09 và Licarin A.
- Tiếp tục phân lập các hợp chất tự nhiên trong các phân đoạn sắc ký chưa khảo sát của cắn ethyl acetat và phân đoạn dicloromethan.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng: Sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu viên thuộc các chuyên ngành Hóa dược, Dược học, Hóa học các hợp chất thiên nhiên và Thực vật dược.
- Nội dung có giá trị ứng dụng:
- Quy trình công nghệ chiết ngâm nóng cồn 96% và sơ đồ chiết phân bố lỏng - lỏng phân đoạn trên quy mô phòng thí nghiệm.
- Các hệ dung môi phân tách sắc ký cột silica gel pha thường cho nhóm neolignan benzofuranoid và diphenylpropanoid.
- Phương pháp phân tích và quy kết độ dịch chuyển hóa học, hằng số tương tác spin ($J$) trên phổ 1D-NMR và các tương tác xuyên không gian/qua liên kết trên phổ 2D-NMR (HSQC, HMBC) để xác định cấu hình lập thể của hợp chất tự nhiên.
Câu hỏi thường gặp
1. Hạt Nhục đậu khấu sử dụng trong nghiên cứu có nguồn gốc từ đâu và đáp ứng tiêu chuẩn kiểm nghiệm nào?
Hạt Nhục đậu khấu khô trong nghiên cứu có xuất xứ từ Trung Quốc, được nhập khẩu chính ngạch bởi Công ty TNHH Đông Dược Tân Lợi và đáp ứng đầy đủ các chỉ tiêu chất lượng quy định trong Dược điển Trung Quốc 2015 (bộ 1 và bộ 4).
2. Hiệu suất thu hồi các cao chiết phân đoạn từ 2 kg dược liệu ban đầu là bao nhiêu?
Từ 2 kg hạt Nhục đậu khấu khô, quy trình chiết ngâm nóng cồn 96% thu được 110 g cao toàn phần ethanol. Quá trình chiết phân bố lỏng - lỏng tiếp theo thu được 52 g cao phân đoạn dicloromethan ($\text{CH}_2\text{Cl}_2$), 15 g cao phân đoạn ethyl acetat ($\text{EtOAc}$) và 25 g cao phân đoạn nước.
3. Tên hóa học và cấu trúc không gian của hai hợp chất phân lập được là gì?
Hai hợp chất phân lập từ phân đoạn ethyl acetat gồm:
- Hợp chất NĐK-09: (-)-(8R)-2-(4-allyl-2,6-dimethoxyphenoxy)-1-(4-hydroxy-3-methoxyphenyl)propan (cấu hình $8R$).
- Hợp chất NĐK-02: Licarin A hay (+)-dehydrodiisoeugenol; tên danh pháp là 2-methoxy-4-((2S,3S)-7-methoxy-3-methyl-5-((E)-prop-1-en-1-yl)-2,3-dihydrobenzofuran-2-yl)phenol (cấu hình $7S, 8S$).
4. Cấu hình lập thể của hợp chất NĐK-09 và Licarin A được xác định dựa trên cơ sở dữ liệu thực nghiệm nào?
Cấu hình $(8R)$ của NĐK-09 được xác định dựa trên giá trị góc quay cực đo được là $[\alpha]_D^{23} = -11,9$ ($c = 0,2, \text{CHCl}_3$). Cấu hình $(7S, 8S)$ của Licarin A được xác định dựa trên độ dịch chuyển hóa học trên phổ $^{13}\text{C-NMR}$ tại hai carbon bất đối C-7 ($\delta_C 94,9\text{ ppm}$) và C-8 ($\delta_C 46,8\text{ ppm}$) khi so sánh đối chiếu với các đồng phân lập thể đã công bố trong y văn.
5. Hoạt chất nào trong hạt Nhục đậu khấu gây ra nguy cơ ngộ độc và liều lượng nguy hiểm là bao nhiêu?
Độc tính của hạt Nhục đậu khấu chủ yếu do hai dẫn xuất phenylpropanoid là myristicin và elemicin gây ra. Mức liều tối thiểu có thể gây ngộ độc ở người là 5 g bột hạt Nhục đậu khấu (chứa khoảng 1–2 mg myristicin), dẫn đến các triệu chứng tổn thương hệ thần kinh, tiêu hóa và tim mạch.
Kết luận
Khóa luận đã hoàn thành việc chiết xuất 2 kg hạt Nhục đậu khấu (Myristica fragrans Houtt), thu hồi thành công 110 g cao toàn phần ethanol và phân tách thành 3 phân đoạn dicloromethan (52 g), ethyl acetat (15 g) và nước (25 g). Từ phân đoạn ethyl acetat, đề tài đã phân lập và xác định cấu trúc hóa học hoàn chỉnh của 2 hợp chất neolignan sạch gồm (-)-(8R)-2-(4-allyl-2,6-dimethoxyphenoxy)-1-(4-hydroxy-3-methoxyphenyl)propan (NĐK-09) và Licarin A (NĐK-02). Các kết quả thực nghiệm cung cấp dữ liệu phổ nghiệm và quy trình phân tách quan trọng, tạo tiền đề vững chắc cho các nghiên cứu tiếp theo về hoạt tính kháng biofilm và ứng dụng dược học của dược liệu Nhục đậu khấu.