CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Tổng quan về cây ổi (Psidium guajava L. Vị trí phân loại Vị trí phân loại của chi Psidium theo hệ thống phân loại của Takhtajan (2009) [44] Giới thực vật: Plantae Ngành Ngọc Lan: Magnoliophyta Lớp Ngọc Lan: Magnoliopsida Phân lớp Hoa Hồng: Rosidae Bộ Sim: Myrtales Họ Sim: Myrtaceae Chi: Psidium Loài: Psidium guajava L. Đặc điểm thực vật của cây ổi Cây nhỡ, cao 3 – 6 m.
Thân có vỏ mỏng, trơn nhẵn, khi già bong ra từng mảng. Cành non vuông, có lông mềm, cành già hình trụ, nhẵn. Lá mọc đối, hình trái xoan hoặc hình trứng, dài 9 – 11 cm, rộng 3 – 6 cm, gốc tròn, đầu lá hơi nhọn, mặt trên màu lục sẫm, mặt dưới nhạt, có gân nổi rõ. Hoa màu trắng, mọc đơn độc hoặc tập trung 2 – 3 cái ở kẽ lá, cuống có lông mịn; đài nhỏ có ống, 4 – 5 răng không đều; tràng 5 cánh dày, có lông mềm; nhị rất nhiều, xếp thành nhiều dãy, chỉ nhị rời, bao phấn có trung đới rộng; bầu hạ, đính vào ống đài, 5 ô.
Quả mọng, hình cầu hoặc hình trứng, khi chín màu vàng, ruột màu đỏ, trắng hoặc vàng, hạt rất nhiều, hình bầu dục. Mùa hoa: tháng 3 – 4; mùa quả: tháng 8 – 9. Sinh học và sinh thái Ổi là cây ưa sáng, sinh trưởng và phát triển tốt trong vùng khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới. Giới hạn về nhiệt độ từ 15 – 45 oC, nhưng nhiệt độ tốt nhất cho cây sinh trưởng và cho nhiều quả là từ 23 – 28 oC; lượng mưa 1000 – 2000 mm/năm.
Cây có thể chịu được hạn, song điều kiện quá ẩm ướt, thường xuyên có sương mù làm cho cây ra hoa, kết quả kém. Vòng đời của cây ổi có thể tồn tại 40 – 60 năm. Ở Việt Nam, ổi được trồng hầu như khắp các địa phương, cả vùng đồng bằng lẫn ở miền núi, trừ vùng cao trên 1500 m. Bộ phận dùng: Búp non, lá, quả, vỏ rộp và đôi khi cả vỏ rễ.
Một số tác dụng sinh học và thành phần hóa học từ lá ổi 1. Một số nghiên cứu trên thế giới 2 1. Nghiên cứu về thành phần hóa học Thành phần hóa học trong lá cây Psidium guajava L. rất phong phú, chủ yếu gồm flavonoid, triterpenoid, sesquiterpenoid, glycosid benzophenon và một số thành phần khác được trình bày trong bảng dưới đây: Bảng 1.1: Một số thành phần hóa học trong lá ổi STT Tên hợp chất Công thức hóa học TLTK Triterpenoid 1 Acid asiatic [24] 2 Acid corosolic [24] 3 Acid guavanoic [24] 4 Acid jacoumaric [24] 3 5 Acid oleanolic [24] Flavonoid 6 Apigenin [24] 7 Daidzein [24] 8 Genistein [24] 9 Hyperin [24] 10 Kaempferol [24] 11 Leucocyanidin [24] 4 12 Myricetin [24] Sesquiterpenoid 13 Guajadial [24] 14 Guadial A [24] 15 Psiguadial A [24] 16 Psiguadial D [24] Glycosid benzophenon 17 Guavinosid A [55] 5 18 Guavinosid B [55] 19 Guavinosid E [55] Lignan (7S ,8R )-5- methoxy 20 dehydrodiconifer- [55] yl alcohol-9- β-D- glucopyranosid 1.
Nghiên cứu về tác dụng sinh học a. Tác dụng chống ung thư Nhiều thành phần trong lá ổi đã được chứng minh rằng có tác dụng chống ung thư. Kawakami và cộng sự đã đánh giá hoạt động chống tăng sinh của dịch chiết lá ổi đối với dòng tế bào ung thư biểu mô ruột kết ở người. Các tác giả này phát hiện ra rằng dịch chiết làm giảm tốc độ tăng sinh do sự hiện diện của quercetin và quercetin glycosid [25].
Một flavonid khác - kaempferol - đã được chứng minh có liên quan đến việc giảm tỷ lệ mắc các loại ung thư khác nhau. Các hoạt động chống ung thư của kaempferol bao gồm apoptosis, ngăn chặn chu kỳ tế bào, ức chế sự di căn và hình thành mạch của các loại tế bào ung thư [17]. Về hoạt tính sinh học của terpenoid từ lá ổi, hỗn hợp giàu guajadial, psidial A, psiguadial A và B đã được chứng minh tác dụng chống tăng sinh đối với 9 dòng ung thư ở người: bệnh bạch cầu (K-562), ung thư vú (MCF-7), bệnh ung thư buồng trứng kháng thuốc (NCI/ADR-RES), phổi (NCI-H460), khối u ác tính (UACC-62), tuyến tiền liệt (PC-3), đại tràng (HT-29), buồng trứng (OVCAR-3) và thận (786-0) [43]. Một loại glycosid triterpen, acid betulinic, chiết xuất từ lá ổi đã được đánh giá về hoạt tính chống lại các tế bào ung thư đường mật ở người (HuCCA).
Acid betulinic từ dịch chiết ethanol 70 % của lá ổi được phát hiện làm giảm đáng kể khả năng sống sót của tế bào HuCCA phụ thuộc vào liều sau 24 giờ với giá trị IC50 là 92,45 µg/mL; tác 6 dụng chống ung thư của nó tương đương với 5-fluorouracil, một chất hóa chất dùng để điều trị ung thư [33]. Theo nghiên cứu của Zhu và các cộng sự đã chỉ ra rằng ba benzophenon, guavinosid B, guavinosid E và 3,5-dihydroxy-2,4-dimethyl-1-O-(6'-O-galloyl-β-D- glucopyranosyl)-benzophenon, được phân lập từ lá ổi đã ức chế sự phát triển của tế bào ung thư đại tràng (HCT116) ở người. Các hợp chất này gây cảm ứng mạnh quá trình chết theo chương trình của tế bào ung thư, điều chỉnh sự biểu hiện của các protein quan trọng như p-ERK1/2, p53, p-JNK và phân cắt caspase 8 và 9, có liên quan đến sự chết tế bào theo chương trình và tăng sinh tế bào [56]. Tác dụng điều trị đái tháo đường Lá ổi đã được sử dụng rộng rãi như một loại thuốc dân gian để điều trị bệnh tiểu đường [35].
Flavonoid và polysaccharid là 2 nhóm hoạt chất của lá ổi đã được báo cáo về khả năng điều trị bệnh đái tháo đường trong một số nghiên cứu. Eidenberger và cộng sự đã chứng minh sự ức chế phụ thuộc vào liều của dịch chiết ethanol lá ổi đối với dipeptidyl-peptidase-IV do các flavonol- glycosid riêng lẻ: peltatosid, hyperosid, methylquercetin hexosid, isoquercitrin, quercetin/morin pentosid, guaijaverin [17]. Flavonoid khác là avicularin đã được chỉ ra rằng có khả năng ức chế sự kết tụ lipid nội bào bằng cách cản trở hấp thu glucose thông qua GLUT-4 trong ống nghiệm [19]. Các polysaccharid được phân lập từ lá ổi bằng cách chiết xuất có sự hỗ trợ của siêu âm đã được chứng minh có tác dụng ức chế mạnh α-glucosidase, với tỷ lệ ức chế 99,54% với nồng độ 100 µg/mL, và ức chế α-amylase ít hơn với tỷ lệ ức chế 14,06% ở nồng độ 1mg/ml [34].
Tác dụng chống oxy hóa Sự hiện diện của các hợp chất phenolic như acid gallic, pyrocatechol, taxifolin, acid ellagic, acid ferulic và một số thành phần khác đã được chứng minh tham gia vào vai trò chống oxy hóa của lá ổi [10, 18]. Nghiên cứu của Chen và cộng sự đã chỉ ra rằng có mối liên hệ tuyến tính giữa hiệu lực của chất chống oxy hóa, khả năng loại bỏ các gốc tự do và hàm lượng phenolic trong chiết xuất lá ổi [10]. Bên cạnh đó, tác dụng chống oxy hóa của polysaccharid từ dịch chiết lá ổi cũng đã được nghiên cứu. Kim và cộng sự đã cho biết rằng polysaccharid lá ổi có tác dụng bảo vệ chống lại oxy hóa gây ra bởi hydrogen peroxid bằng cách ức chế sự hình thành các loại oxy phản ứng, làm giảm peroxid hóa lipid và chết tế bào [26].
Trong nghiên cứu của Lee và cộng sự, tinh dầu chiết xuất từ lá ổi được phát hiện có chức năng như chất chống oxy hóa vừa phải với giá trị IC50 ~ 460,37 ± 1,33 µg/mL, được chứng minh bằng xét nghiệm DPPH [30]. Tác dụng chống tiêu chảy 7 Mazumdar và cộng sự năm 1999 đã báo cáo về khả năng chống tiêu chảy của dịch chiết ethanol từ lá ổi ở chuột Wistar. Liều lượng dịch chiết ở nồng độ 750 mg/kg và 500 mg/kg có khả năng chống tiêu chảy ở chuột được nuôi bằng dầu thầu dầu [36]. Dewi và cộng sự đã chứng minh hiệu quả chống tiêu chảy của dịch chiết nước của lá ổi.
Trong nghiên cứu các tác giả đã sử dụng sự kết hợp giữa dịch chiết nước của lá ổi (G) và dịch chiết lá trà xanh (T). Tỷ lệ của các dịch chiết được sử dụng để nghiên cứu là (G: T) 112,5 : 110,55, (G: T) 75 : 221,1 và (G: T) 37,5 : 331,65 mg/kg trọng lượng cơ thể. Kết quả đã chứng minh rằng tất cả các phối hợp đều có hoạt tính chống tiêu chảy mạnh. Trong đó, sự kết hợp dịch chiết nước lá ổi 75 mg/kg trọng lượng cơ thể và dịch chiết nước lá trà xanh 221,1 mg/kg trọng lượng cơ thể là sự kết hợp tốt nhất, trong khoảng thời gian 180–240 phút, tỷ lệ tiêu chảy đã được quan sát thấy là giảm đáng kể [13].
Tác dụng kháng khuẩn Lá ổi có chứa acid galic, acid chlorogenic, rutin, isoquercitrin, avicularin, quercitrin, kaempferol, morin và quercetin. Những hợp chất này có đặc tính ức chế ergosterol - một thành phần màng tế bào nấm và glucosamin - một chất chỉ thị tăng trưởng tế bào nấm. Tác dụng kháng khuẩn cũng liên quan đến nồng độ tanin trong lá [12]. Ngoài ra, hoạt động chống lại mầm bệnh vi khuẩn và nấm còn có sự tham gia của triterpenoid như acid betulinic và lupeol [17].
Trong nghiên cứu của Dhiman và cộng sự năm 2014 đã chứng minh rằng dịch chiết methanol của lá ổi có khả năng kháng khuẩn mạnh mẽ, chống lại E. coli với nồng độ ức chế tối thiểu là 0,79 µg/mL, nồng độ diệt khuẩn tối thiểu là 51 µg/mL và hoạt tính kháng nấm hợp lý với nồng độ ức chế tối thiểu là 12,6 µg/mL [14]. Bezerra và cộng sự năm 2016 đã đánh giá tác dụng của lá ổi đối với các chủng vi khuẩn khác nhau và kết luận được rằng tác dụng hiệp đồng giữa lá ổi và các loại kháng sinh đã làm gia tăng tác dụng diệt khuẩn của nó [9]. Tác dụng bảo vệ gan Chuyển hóa lipid ở gan cần có hoạt động của hai chất kích hoạt adenosin monophosphat protein kinase và PPARα.
Chuột được điều trị bằng dịch chiết lá ổi đã được chứng minh rằng có sự tăng cường hoạt động của cả hai thông số. Ngoài ra, dịch chiết lá ổi có thể cải thiện tình trạng gan nhiễm mỡ thông qua việc làm giảm Alanin transaminase và aspartat aminotransferase [55]. Một số nghiên cứu tại Việt Nam Các nghiên cứu tại Việt Nam về thành phần hóa học và tác dụng sinh học của lá ổi vẫn còn tương đối hạn chế. Thành phần hóa học Nghiên cứu về thành phần hóa học của lá ổi ở Việt Nam cho thấy sự có mặt của triterpenoid, steroid, flavonoid, lignan và được thể hiện trong bảng 2.2: Các hoạt chất hóa học trong lá ổi đã được xác định ở Việt Nam STT Tên hợp chất Công thức hóa học TLTK 1 Lupeol [2] 3-(4-hydroxybenzyl)- 4- [(3-ethylcyclohexyl) 2 [1] methyl]-dihydrofuran- 2(3H)-on 3 Stigmast-5-en-3β-ol [1] 4 Quercetin-3-O-sulfat [40] 1.
Tác dụng sinh học a. Tác dụng chống oxy hóa Trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Bích Thuyền và cộng sự, hiệu quả chống oxy hóa của cao chiết từ lá ổi được xác định dựa vào khả năng trung hòa gốc tự do DPPH.