CHƯƠNG I: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về chi Physalis 1. Đặc điểm thực vật chi Physalis Chi Physalis thuộc họ Cà (Solanaceae), bộ Cà (Solanales), lớp thực vật hai lá mầm (Magnoliopsida), ngành thực vật có hoa (Magnoliophyta). Hiện nay, trên thế giới đã tìm thấy khoảng 120 loài thuộc chi Physalis, chúng phân bố khắp nơi chủ yếu ở vùng nhiệt đới và các vùng cận nhiệt đới [1], Các loài thuộc chi Physalis là cây thân thảo, bán cây bụi, thẳng đứng, cao 0,4 m đến 3 m, có nhiều nhánh, hầu hết sống ở nơi có đủ ánh sáng, khí hậu ấm áp và một số loài có thể chịu được ở nhiệt độ cao.
Lá mọc so le nhau, có hình bầu dục, hình thuỳ hoặc không thuỳ, chiều dài khoảng 30 - 35 mm, rộng từ 20 - 40 mm, cuống lá dài 15 - 30 mm. Hoa lưỡng tính, mọc đơn lẻ, có cuống hoa mỏng, dài tầm khoảng 1 cm. Đài hoa hình chiếc chuông, có lông, được chia làm 5 thùy từ ở phía chính giữa. Tràng hoa có màu vàng tươi hoặc trắng nhạt, đôi khi có những chấm tím ở gốc, cũng được chia thành 5 thùy như đài hoa.
Quả căng mọng, tròn, vỏ trơn nhẵn, có đài hoa lớn cùng với quả bao phủ bên ngoài như chiếc đèn lồng, dài 3 - 4 cm, rộng 2 cm. Khi chín, quả có màu cam và có nhiều ngăn rỗng bên trong, một số loài thì quả lại đặc ruột và là loại quả ăn được. Ở Việt Nam, phần lớn các loài thuộc chi Physalis được coi là cỏ dại mọc ở ven ruộng, bãi cỏ, bìa rừng, vùng đất thấp như Physalis angulata L.1: Hình ảnh lá, thân, rễ, đài hoa và quả của loài Physalis angulata L.2: Một số hình ảnh về loài Physalis alkekengi L.3: Hoa (A), Quả (B), Lá (C), đài quả (D) của loài Physalis minima L. Thành phần hoá học và hoạt tính sinh học của chi Physalis Các nhà khoa học trên thế giới đã quan tâm nghiên cứu các loài thuộc chi Physalis từ lâu và có rất nhiều công trình nghiên cứu đã công bố thành phần hoá học và tác dụng sinh học của các hợp chất đã được phân lập từ loài dược liệu này.
Các nghiên cứu về các thành phần hoá học các loài thuộc chi Physalis đã cho thấy khung withanolide là thành phần xuất hiện nhiều nhất [1]. Các lớp chất chính của chi Physalis được xác định là các chất chứa khung withanolide, tiếp đến labdane diterpene, sucrose ester, flavonoid, ceramide và một số chất khác [1]. Trong đó, các chất chứa khung withanolide, các physalin được xem là thành phần chính quyết định hoạt tính của các loài thực vật chi Physalis. Hầu hết các loài thuộc chi Physalis đã được dùng từ lâu trong y học dân gian để dùng điều trị cho các loại bệnh khác nhau, như sốt rét, hen suyễn, viêm gan, viêm da, rối loạn gan và như một loại thuốc chống vi khuẩn, chống ung thư, chống bệnh bạch cầu, thuốc hạ sốt và điều hòa miễn dịch [3].
Withanolide Withanolide được định nghĩa là một nhóm C28 ergostane steroid với nhóm 26,22-δ-lactone. Withanolide được xem là thành phần chính và phổ biến nhất từ chi Physalis bao gồm các 5β,6β-epoxide withanolide, withanolide 5- ene, và withanolide trung gian [1]. Tính đến năm 2019, đã có khoảng 351 hợp chất withanolide được phân lập từ chi Physalis, chủ yếu từ các loài như Physalis angulata và Physalis peruviana [4].4: Một số hợp chất chứa khung Withanolide phân lập từ chi Physalis Theo công trình nghiên cứu của Sun và cộng sự (2016), chiết xuất EtOH của thân và lá khô loài Physalis anglulata L. đã phân lập được 16 hợp chất withanolide mới (trong đó có 14 loại withanolide mới chưa biến đổi được đặt tên là physangulatin A-N (5 – 18); hai loại withaphysalin hiếm được đặt tên là withaphysalin Y-Z (19 và 20) và 12 hợp chất đã biết khác (21 – 32).[5] 6 Các hợp chất phân lập được thử nghiệm về hoạt tính chống tăng sinh chống lại tế bào ung thư tuyến tiền liệt ở người (C4-2B và 22Rvl), tế bào ung thư biểu mô thận ở người (786-O, A-498, và ACHN), và tế bào u hắc tố ở người (A375-S2), cũng như tác dụng ức chế sản xuất NO do lipopolysaccharide (LPS) gây ra trong đại thực bào.
Kết quả nghiên cứu cho thấy các hợp chất physangulatin I (13), physagulide I-J (31 và 21), physagulin A-B (24 – 25) và 7 physagulin I (29) đã thể hiện tốt hoạt tính trên tất cả các dòng tế bào tế bào ung thư tuyến tiền liệt của con người (C4-2B và 22Rvl), tế bào ung thư biểu mô thận ở người (786-O, A-498 và ACHN) và tế bào u ác tính ở người (A375-S2) với giá trị IC50 trong khoảng 0. Ngoài ra các hợp chất physangulatin C-E (7 – 9), physangulatin I-K (13 – 15), physagulide I-J (31 và 21), physagulin A-B (24 – 25), physagulin H-I (28 – 29) và physagulin N (26) còn có khả năng ức chế sự sản sinh NO do lipopolysaccharide (LPS) gây ra trong các đại thực bào với giá trị IC50 trong khoảng 1,36-11,59 μM. [5] Theo báo cáo kết quả do Ma cùng cộng sự (2016), đã tiến hành nghiên cứu, từ dịch chiết tổng EtOH của toàn bộ cây Physalis angulata var. villosa đã phân lập được và xác định được tám loại withanolide mới, physagulide A–H (33 – 40), cùng với mười hợp chất tương tự đã biết (41 – 50).
Tất cả các hợp chất sau khi phân lập được đánh giá về khả năng gây độc tế bào đối với ba dòng tế bào ung thư ở người, ung thư gan (HepG2), ung thư biểu mô vú (MCF-7) và tế bào ung thư xương ở người (MG-63). [6] 8 Kết quả cho thấy các hợp chất withanolide physagulide I (41), J (42), withangulatin A (46), (20S,22R)-15α-chloro-6β, 14β-dihydroxy-1-oxowitha- 2,24-dienolide (49), và physagulin (50) được phân lập từ phần dịch chiết tổng từ thân cây P. villosa có hoạt tính mạnh trên cả 3 dòng tế bào ung thư người là ung thư gan (HepG2), ung thư vú (MCF-7) và ung thư xương ác tính với giá trị IC50 trong khoảng 0. Hợp chất physagulide I (41) biểu hiện mạnh khả năng bắt giữ các tế bào trong pha G2/M và đồng thời đã kích hoạt các con đường biểu hiện sự phụ thuộc caspase với apoptosis.
Bên cạnh đó, quá trình apoptosis diễn ra bởi physagulide I (41) trong các tế bào MG-63 có liên quan đến việc tạo ra các gốc oxy phản ứng (ROS) và kích hoạt enzyme kinase điều hòa tín hiệu ngoại bào (ERK) và kinase c-Jun N-terminal (JNK). Những kết quả trên cho thấy rằng physagulide I (41) có thể là một tác nhân đầy hứa hẹn trong điều trị ung thư.[6] Trong quá trình nghiên cứu về các loài thuộc chi Physalis, Yi Sun và cộng sự (2020), khi nghiên cứu đài hoa của Physalis alkekengi var. franchetii đã phân lập được 5 hợp chất mới khung withanolide (51–55), cùng với 5 chất tương tự đã biết (56–60). Tất cả các withanolide sau khi phân lập đều được thử nghiệm đánh giá về hoạt tính gây độc tế bào đối với các dòng tế bào A549 và K562.
Hợp chất (51) và (58) có tác động kích hoạt apoptosis trong dòng tế bào A549 của bệnh ung thư phổi. Các hợp chất sau khi phân lập được tiến hành khảo sát, đánh giá khả năng ức chế sản sinh NO trong các đại thực bào RAW264.7 được kích hoạt bằng lipopolysaccharide. Kết quả đánh giá cho thấy hợp chất (62) và (65) thể hiện hoạt tính ức chế mạnh với giá trị IC50 lần lượt là 8,04 và 10,01 µM. Các hợp chất (61), (69) và (70) thể hiện hoạt tính ức chế vừa phải với giá trị IC50 từ 25,54 đến 43,58 µM.
Physalin Withanolide với bộ khung bị biến đổi được phân lập từ chi Physalis có thể tạo thành physalins [1]. Physalin cũng là thành phần điển hình trong các cây thuộc chi Physalis, được đặc trưng bởi sự có mặt của bộ khung 16,24-cyclo- 13,14-seco-ergostane [9], trong đó sự ngắt kết nối của C-13 và C-14 tạo ra một vòng tám hoặc chín cạnh và quá trình carbocyclization của C-16 và C-24 tạo ra một vòng sáu cạnh mới [10]. Trong khi đó, quá trình oxy hóa nhóm C-18 methyl thành nhóm carboxyl tạo thành 18,20-lactone, và quá trình oxy hóa C- 14 và C-17 tạo thành một oxy vòng dị vòng qua các vòng C và D [10]. Ngoài 10 ra, physalin thường tạo thành cầu nối oxy để kết nối C-14 với C-27.
Theo Jiangping Wu và các cộng sự (2021) có khoảng 78 hợp chất physalin đã được báo cáo xác định và phân lập được từ chi Physalis [10]. Các physalin đã được báo cáo có nhiều hoạt tính dược lý, bao gồm chống ung thư, chống viêm, điều hòa miễn dịch, kháng khuẩn, chống đái tháo đường và một số hoạt tính khác [10].5: Một số hợp chất có chứa khung Physalin phân lập từ chi Physalis Theo báo cáo kết quả nghiên cứu của Rui-Zhi Men và cộng sự (2014), từ dịch chiết tổng EtOH của toàn bộ cây Physalis angulata Linn., tiến hành phân lập thu được hai hợp chất mới có tên là aminophysalin A (75) và 5β- hydroxy-6α-chloro-5, 6-dihydrophysalin B (76); cùng với năm physalin đã biết là 5α-ethoxy-6β-hydroxy-5,6-dihydrophysalin B (77), physalin D (78), physalin G (79), physalin H (80) và physalin P (81). Các hợp chất phân lập được đã được đánh giá về hoạt động của quinone reductase trong tế bào hepa 1c1c7. Các kết quả thu được cho thấy physalin H (80) có hoạt động cảm ứng quinone reductase mạnh với giá trị IR (Tỷ lệ cảm ứng, hoạt động cảm ứng quinone reductase) là 3,74 ± 0,02, và 4-bromoflav được sử dụng làm chất đối chứng dương có giá trị IR là 2,17 ± 0,01, 10 µg/mL, trong khi các hợp chất aminophysalin A (75) và 5β-hydroxy-6α-chloro-5, 6-dihydrophysalin B (76); cùng với năm physalin đã biết là 5α-ethoxy-6β-hydroxy-5,6-dihydrophysalin B (77), physalin G (79)cho thấy hoạt động cảm ứng quinone reductase yếu.
[9] 11 Năm 2020, tại Viện Nghiên cứu khoa học miền Trung tác giả Hoàng Lê Tuấn Anh và cộng sự đã nghiên cứu thực hiện thí nghiệm so sánh thành phần hoạt chất chính trong cây dược liệu tự nhiên và cây dược liệu nuôi cấy mô (Physalis angulata L. và Ophiorrhiza japonica) sinh trưởng tại Việt Nam và Belarus thông qua việc sử dùng phương pháp sắc ký dấu vân tay. Kết quả thu được từ loài Physalis minima L. ở Việt Nam là thành công phân lập và xác định cấu trúc hóa học, thành phần hóa học của 05 hợp chất bao gồm: withanolide E, withaperuvin C, quecetin-3-O-rutinoside, kaempferol-3-O-rutinoside, kaempferol-3-O-rutinoside-7-O-β-D- glucopyranoside.
Kết quả xác định hàm lượng của các hoạt chất có trong cao MeOH của mẫu Physalis minima L. bản địa lần lượt là: withanolide E (0,237%), quecetin-3-O-rutinoside (0,073%), kaempferol-3-O-rutinoside (0,364%), kaempferol-3-O-rutinoside-7-O-β-D-glucopyranoside (0,534%) trọng lượng bột khô. Đối với mẫu nuôi cấy mô, chỉ xác định được hàm lượng của kaempferol-3-O-rutinoside-7-O-β-D-glucopyranoside trong mẫu nuôi cấy mô là 1,5mg/g bột khô, chiếm 0,15% trọng lượng bột khô; các chất còn lại không xác định được.