Chương 1 TỔNG QUAN 1. Khái quát về chi Stephania Chi Stephania thuộc họ Tiết dê (Menispermaceae) là một chi lớn, trên thế giới có khoảng 100 loài phân bố ở nhiều vùng trên thế giới như Đông Á (Trung Quốc, Nhật Bản), Nam Á (Ấn Độ), Đông Nam Á (Việt Nam, Thái Lan, Myanmar)…[16]. Vị trí của chi Stephania trong hệ thống phân loại thực vật João de Loureiro (1717-1791) lần đầu tiên đặt tên cho chi Stephania vào năm 1790, sau đó tiếp tục nhiều nhà phân loại thực vật nghiên cứu và hoàn thiện dần như Hook & Thoms (1855), Benth & Hook (1862), Miers (1866), Contr. Các hệ thống phân loại phần lớn hiện nay đều xếp chi Stephania vào họ Tiết dê (Menispermaceae) thuộc bộ Hoàng liên (Ranunculales) [45], [60].
Riêng Thorn xếp chi Stephania vào họ Tiết dê nhưng ở bộ Hoàng liên gai (Berberidales) [45]. Các nhà khoa học Việt Nam như Nguyễn Tiến Bân, Lê Khả Kế, Võ Văn Chi, Dương Đức Tiến, Lê Đình Bích, Trần Văn Ơn đều sử dụng hệ thống phân loại của Takhtajan (được chỉnh sửa bổ sung năm 1996) là bỏ bậc phân loại phân bộ Menispermineae, và đi đến kết luận chi Stephania có vị trí trong hệ thống phân loại thực vật như sau: Ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) Lớp Ngọc lan (Magnoliopsida) Phân lớp Hoàng liên (Ranunculidae) Bộ Hoàng liên (Ranunculales) Họ Tiết dê (Menispermaceae) Chi Stephania 4 Các nghiên cứu cho thấy trong 73 chi của họ Tiết dê trên thế giới, ở Việt Nam có 17 chi, trong đó chi Stephania có quan hệ họ hàng gần gũi với hai chi khác là Cissampelos L. và Cyclea Arn. Ex Wight do cùng là cây dây leo, có cuống đính vào phiến lá, bộ nhị có các nhị liền nhau thành một trụ, bao phấn hàn liền thành một bệ ngang, các chi này chỉ khác nhau ở cụm hoa, của chi Stephania là cụm hoa xim tán kép, của hai chi Cissampelos L.
và Cyclea Arn. Ex Wight là cụm hoa xim tán đơn [78], [101], [134]. Đặc điểm phân bố chi Stephania ở Việt Nam Theo các tài liệu đã công bố ở Việt Nam có 22 loài Bình vôi, phân bố rộng khắp ba miền Bắc – Trung – Nam trên các loại địa hình khác nhau, mọc hoang ở vùng núi cao đến vùng đồng bằng, có loài mọc ngay trên bãi cát hoặc gò hoang ven biển. Miền Bắc: Phân bố chủ yếu ở các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Hải Phòng, Hà Nội, Hòa Bình, Yên Bái, Lào Cai, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Phú Thọ, Hà Giang, Sơn La, Nam Định, Ninh Bình,… Miền Trung: Phân bố chủ yếu ở các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Lâm Đồng, Đắc Lắc, Ninh Thuận, Quảng Nam, Đà Nẵng, Thừa Thiên Huế, Bình Định, Phú Yên,.
Miền Nam: Phân bố chủ yếu ở các tỉnh An Giang, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu… Phân bố các loài thuộc chi Stephania được thể hiện ở bảng 1. Phân bố một số loài thuộc chi Stephania tại Việt Nam STT Tên loài Tên Việt Nam Phân bố TLTK S. brachyandra Bình vôi núi cao, [6], [9], 1 Lai Châu, Lào Cai Diels Bình vôi nhị ngắn [25], [31] S. cambodica Bình vôi [6], [7], 2 Đắc Lắc, Lâm Đồng Gagnep.
cepharantha Hayata Hán phòng kỷ, Quảng Ninh, [6], [9], 5 Bình vôi hoa đầu Hòa Bình [25], [29] Lào Cai, Yên Bái, Củ dòm, Bắc cạn, Thái [6], [9], Củ gà ấp, Nguyên, Sơn La, 4 S. Wu [23], [25], Bình vôi nhựa tím, Hòa Bình, Phú Thọ, [29], [31] Cà tòm Bắc Giang, Bắc Ninh, Quảng Ninh S. 5 Bình vôi Vùng núi [9], [30] Lo Hòa Bình, Ngải tượng, Hà Giang, Tuyên Củ một, S.) Quang, Nam Định, [19], [21], 6 Củ thiên đầu thống, Miers Hà Nam, Ninh Bình, [23], [25] Củ nghếch, Cao Bằng, Lạng Củ mối tròn Sơn, Thanh Hóa S. Bình vôi Vùng núi [9], [30] Tsoong Lào Cai, Ninh Bình, S.
hernandifolia Dây mối, [9], [30], 8 Đà Nẵng, Quảng (Willd. japonica Thiên kim đằng, Hà Nội, Nam Định, 9 [21], [24], (Thunb.) Miers Dây lõi tiền Nghệ An, Đồng Nai [79], S. Dây mối, Vùng đồng bằng và 10 [14] discolor (Blume) Lõi tiền núi thấp 6 11 S. kerrii Craib Bình vôi Việt Nam [79] S.
kuinanennis 12 Bình vôi Lạng Sơn [33] H. Yang Quảng Ninh, Hà S. kwangsiensis Bình vôi Quảng [6], [9], 13 Nam, Ninh Bình, Hà H. Cao Bằng, Lạng Dây lõi tiền rễ dài [21], [79] Sơn, Thừa Thiên Huế 15 S.
oblata Craib Bình vôi Việt Nam [79] Bình vôi, 16 S. pierrei Diels Bình Định, Phú Yên [17], [28] Dây đồng tiền S. Lâm Đồng, 17 Bình vôi [55] Xia & V. Chinh Thừa Thiên Huế Tây Nguyên, 18 S.
sinica Diels Ninh, Hòa, Bình, Dây lõi tiền bắc [14], [24], Ninh Bình, Bà Rịa [30], [79] Lào Cai, Yên Bái, S. 20 Phấn phòng kỷ Hà Giang, Quảng [6], [21] Moore Ninh S.) Bình vôi đỏ, 21 Các tỉnh phía Nam [14], [24] Spreng. viridiflavens 22 Bình vôi Sơn La [11], [13] H. Đặc điểm thực vật học chung của các loài trong chi Stephania Chi Stephania có các đặc điểm thực vật chung như sau: Hình thái: Dây leo sống lâu năm hoặc hàng năm; thân gỗ hay thân cỏ; thân non thường nhẵn, xanh nhạt, xanh bóng hoặc xanh thẫm; thân già thường có rãnh dọc, mụn cóc sần sùi màu nâu xám, nâu đen hoặc màu nâu đất [24], [39], [101], [105], [128], [129].
Rễ phình thành củ, có mang rễ dạng sợi; củ rất đa dạng về hình thái, kích thước và màu sắc; củ thường có dạng hình cầu, hình trứng, hình trụ hay có hình dạng bất định. Khối lượng của củ thường từ 0,5÷2 kg nhưng cũng có loài có thể nặng tới 40 kg. Màu sắc vỏ củ có nhiều thay đổi (nhẵn, xù xì, màu nâu sáng nhạt, xám tro hay đen, .) tùy thuộc vào từng loài, tuổi cây và môi trường sống [133], [137]. Thịt củ nạc hoặc có lẫn những vằn xơ, màu trắng ngà, vàng tươi, vàng nhạt tới cam hoặc đỏ nâu, đỏ tươi tùy theo loài [2], [24].
Lá mọc cách, so le; cuống lá thường mảnh, dài 2÷20 cm, hai đầu phình lên, có khi gấp khúc ở gốc [25], [129]; cuống lá đính vào phiến lá từ 1/15 đến 1/3 chiều dài phiến lá; phiến lá mỏng hoặc dày, nhẵn bóng hoặc rải rác có lông, hình khiên, hình lọng, hình tam giác rộng, hình trứng - tam giác, tam giác tròn hoặc gần tròn, mép lá nguyên hoặc chia thùy; gân lá dạng chân vịt gồm 8 - 10 gân lá xuất phát từ đỉnh cuống lá. Chóp lá nhọn, thuôn nhọn, tù hoặc gần tròn; gốc lá gần tròn, phẳng hoặc gần hình tim. Màu sắc của phiến lá tùy thuộc vào từng loài (màu xanh nhạt, xanh vàng nhạt, xanh đậm, xanh nâu nhạt hoặc đốm tía [24], [68], [78]. Công thức hoa: Hoa đơn tính khác gốc; cụm hoa đực và cái thường mọc từ kẽ lá hay mọc trên thân cây già không lá [32], [133]; hoa thường có dạng tán đơn, tán kép, xim tán kép, hình đầu đến tán ngù [24], có cuống, đơn độc hay xếp theo kiểu chùm ít nhất ở các nhánh của tán cấp 1 hoặc 2, các nhánh cuối cùng đôi khi không đều hoặc đôi khi các xim tụ họp thành đầu hình đĩa [32].
Hoa đực thường có cấu tạo đối xứng tỏa tròn, đài 6÷8, rời, xếp thành 2 vòng, bằng nhau hay không bằng nhau, đài ít nhiều hình trái xoan ngược, cánh hoa 8 rời nhau có 3 hoặc 4 cánh, hình trứng ngược, mép bên nhiều khi gập vào trong (hình vỏ sò), màu vàng hay trắng xanh. Nhị 2÷6, thường 4, chỉ nhị dính nhau tạo thành ống hình trụ, bao phấn dính nhau thành hình đĩa với 4 - 8 ô nứt ngang. Hoa cái đối xứng hay bất đối xứng, đài thường 1, cánh hoa 2, hình dạng giống như ở hoa đực. Bầu hình trứng, lá noãn 2 (nhưng chỉ có 1 phát triển thành hạt, 1 lá noãn bị thoái hóa), vòi rất ngắn hoặc không có, núm nhụy từ 4÷6 chia thùy ngắn hoặc rách, choãi ra hình dùi [25], [32], [78], [133].
Hình dạng quả: Quả hạch, hình gần tròn, hình trứng, hình trứng ngược, trứng bầu, 2 bên dẹt; quả trưởng thành cuống quả lệch về một phía gần với dấu vết còn lại của núm nhụy; quả chín màu vàng đậm hay đỏ tươi nhẵn bóng; hạt (vỏ quả bên trong) hình móng ngựa, trứng dẹt hoặc hơi tròn, lưng mang một dải hình móng ngựa gồm 2 hoặc 4 dãy dọc các bướu (gai) hay những gờ ngang (vân); giá noãn có lỗ thủng hoặc không. Đặc điểm hình thái của hạt đặc trưng cho từng loài, là dấu hiệu quan trọng để giám định tên loài [25]. Cây mầm có lá mầm ít nhiều bằng rễ mầm, bao quanh bởi nội nhũ [32]. Sinh thái, sinh trưởng và phát triển: Các loài thuộc chi Stephania thường sinh trưởng trong các cánh rừng nguyên sinh hoặc thứ sinh.
Thường mọc trên các đỉnh núi hay các sườn núi đá vôi, núi đất xen lẫn đá, các dải đất ven sông hoặc đôi khi là ven biển. Thích hợp ở nhiệt độ trung bình 21÷23oC, lượng mưa 2000÷2500 mm, ưa đất nhiều mùn, độ pH = 6,5÷7. Một số loài có thể ở độ cao 2800 m so với mực nước biển. Hầu hết các loài thuộc chi Stephania đều ưa sáng, ưa đất có độ ẩm trung bình, đặc biệt là giai đoạn ra hoa tạo quả [24].
Đặc điểm thực vật một số loài thuộc chi Stephania phân bố chủ yếu ở miền Bắc Việt Nam 1. Loài Stephania brachyandra Diels • Tên thường dùng: Bình vôi núi cao [24]. • Tên gọi khác: Bình vôi nhị ngắn [31] 9 • Phân bố: Vùng núi Tây Bắc (Lào Cai, Lai Châu) [6], [24], [31]. • Đặc điểm thực vật học: Cây thân leo nhỏ và yếu; toàn thân không lông; rễ củ to có màu vàng nhạt.
Lá đơn mọc so le, cuống lá dài, phiến lá hình trứng nhọn hoặc tam giác tròn [31]; gốc lá bằng hoặc hơi lõm, ngọn lá nhọn, có 10 gân hình chân vịt, kéo dài từ đỉnh cuống lá [9]. Cụm hoa đực xim tán kép, cuống dài từ 3÷5 cm, mỗi cuống thứ cấp mang 5÷15 hoa, 6 đài dài, mảnh, màu xanh nhạt xếp thành 2 vòng, hoa có 3 cánh màu vàng cam, cong dạng vỏ hến và ngắn hơn nhiều so với đài; nhị dính nhau thành ống, bao phấn dính nhau dạng đĩa tròn [24]. Cụm hoa cái dạng đầu, tạo thành bởi 7 đến 9 xim tán có cuống rất ngắn tạo thành [31]; cuống cụm hoa dài 2÷3 cm, đài hoa nhỏ màu lục nhạt hình mác rộng đầu nhọn. Hoa có 2 cánh màu vàng cam mọc cùng về một phía với đài hoa; bầu hình trứng ngược, cuống ngắn, núm nhuỵ 4÷5 thuỳ.
Quả hình trứng ngược hơi dẹt, trên lưng có 4 hàng gai, đinh gai phồng to dạng đầu hoặc dạng mũ đinh. Giá noãn có lỗ hình trứng đảo ở giữa [9]. Mô tả thực vật loài Stephania brachyandra Diels 10 1. Loài Stephania dielsiana Y.Wu • Tên thường dùng: Củ dòm [24], [31].
• Tên gọi khác: Bình vôi nhựa tím, cà tòm, củ gà ấp [24], [31].