CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. Tổng quan về chuối Chân voi 1. Phân bố và phân loại khoa học Chuối Chân voi còn được gọi là chuối Cô đơn hay chuối Mồ côi được trồng và mọc hoang dại ở nhiều nơi trên thế giới như Thái Lan, Trung Quốc, Lào, Việt Nam, Ấn Độ, Philippine[1]. Ở Việt Nam chúng thường mọc trong những khu rừng hoang của các tỉnh miền Bắc, Trung, Tây Nguyên, được ưu ái gọi với cái tên là” thần dược”[2].
Cây chuối Chân voi ở vườn Quốc gia Bù Gia Mập Loài Ensete glaucum có phân loại khoa học như sau: Bảng 1. Phân loại khoa học của chuối chân voi Hệ thống phân loại[3] Giới Plantae Họ Musaceae Ngành Angiosperms Chi Ensete Lớp Monocots Loài Ensete glaucum Bộ Zingiberales Tên khoa học Ensete glaucum Tên tiếng việt Chuối Chân voi/ chuối Cô đơn/ chuối Mồ côi 1. Mô tả thực vật Loài Ensete glaucum là dạng cây một lá mầm, thân giả cao từ 3,5- 4 mét màu xanh xám và bóng phình to ở gốc. Nhựa cây nhanh chóng chuyển sang màu vàng khi tiếp xúc với không khí và sau đó chuyển sang màu xám đen.
Cuốn lá mập mạp, màu lục nhạt, hình 1 mũi mác thuôn dài. Hoa xếp xác nhau thường có 10-16 hoa xếp thành hai hàng. Quả chuối khi chín có màu vàng nhạt, mỗi quả chứa từ 10- 25 hạt. Hạt chuối có dạng hình cầu màu đen bên trong có bột màu trắng [4].
Từ khi cây mọc đến khi trổ buồng mất khoảng 18 tháng. Một buồng chuối có 8-10 nảy nằm khích nhau hình thể trông giống như một bông hoa sen đang nở. Khác với các loài chuối thông thường, chuối chân voi không mọc thành bụi mà mọc đơn độc, sinh sôi bằng hạt chứ không phải bằng phần củ dưới đất. Sau khi chuối chín vàng cây sẽ tự héo và chết đi.
Hình dạng loài Ensete glaucum 1. Các bài thuốc dùng chuối Chân voi để chữa bệnh trong dân gian Trong dân gian các bộ phận của chuối Chân voi được sử dụng để trị nhiều bệnh như: sỏi thận, đau lưng, nhức mỏi xương khớp, bệnh dạ dày, kích thích tiêu hóa, lợi tiểu, giải nhiệt, trị kém ăn, mất ngủ, táo bón, cảm sốt, bồi bổ cơ thể và một số bệnh trẻ em[3, 5]. Những bài thuốc sau được tổng hợp dựa trên kinh nghiệm dân gian: Chữa trị bệnh tiểu đường: thân cây sau khi làm sạch cắt thành từng mãnh nhỏ ép lấy nước uống hằng ngày hoặc đem đi phơi khô xay nhuyễn pha với nước uống hằng ngày. Chữa bệnh sỏi thận: Hạt chuối sau khi phơi khô được xay, giã nhỏ được nấu với công thức là bảy thìa bột hạt chuối nấu cùng hai lít nước.
Cho đến khi nước nấu còn 2/3 thì tắt bếp. Người bệnh sỏi thận dùng nước hằng ngày sẽ thấy triệu chứng của bệnh giảm hẳn. Ngoài các phương pháp sử dụng nước với chuối Chân voi như trên người ta còn dùng phương pháp ngâm rượu với hạt quả chuối Chân voi uống hàng ngày để chữa bệnh sỏi thận. 2 Chữa bệnh táo bón ở trẻ: nướng chuối bằng cách vùi hẳn vào bếp.
Đồng thời khi thấy vỏ chuối chuyển sang màu đen có thể lấy ra. Tiếp tục, chờ tới khi chuối nướng nguội hẳn là có thể bóc vỏ cho trẻ ăn trị táo bón. Các nghiên cứu về chuối Chân voi trong và ngoài nước Nghiên cứu trên loài Ensete glausum rất hạn chế và nghiên cứu trên các cây cùng chi Ensete cũng vậy. Năm 2019 loài Ensete superbum là một loài thuộc chi Ensete được Kumar và cộng sự nghiên cứu và công bố rằng thành phần hoá học của loài có sự tồn tại của polyphenol, acid phenolic, flavonoid và tanin.
Các hợp chất này có thể được dùng như thuốc điều trị bệnh tiểu đường trong thời gian sớm, hạ sốt, giảm đau, chống viêm khớp, chất ức chế và điều hòa miễn dịch[6]. Nghiên cứu về các loài cùng họ Chuối (Musaceae) cũng không nhiều, năm 2020, Oyeyinka và Afolayan đánh giá các đặc tính tiềm năng của quả Musa sinensis và Musa paradisiaca đã chứng minh được quả M. paradisiaca có vai trò là chất chống oxy hóa tự nhiên, chống lại stress giúp cải thiện khả năng thu nạp dinh dưỡng được chiết xuất từ các hoạt chất ở thịt và vỏ của những loại quả này[7]. Một nghiên cứu khác của Lopes và cộng sự vào năm 2022 về họ chuối (Musaceae) cho thấy vỏ và củ chuối chứa một lượng đáng kể tổng số phenolic, flavonoid và hoạt tính chống oxy hóa[8].
Về tình hình nghiên cứu trong nước, năm 2022, nhóm nghiên cứu của KS Khương Hữu Thắng và các cộng sự đã hoàn thành đề tài: “Nghiên cứu, bảo tồn và phát triển loài chuối Chân voi (Ensete glausum) tại VQG Bù Gia Mập tỉnh Bình Phước”. Kết quả nghiên cứu bước đầu cũng chứng minh sự hiện diện của những thành phần hoạt chất giá trị trong quả chuối, đặc biệt là hạt chuối[9]. Nghiên cứu phối hợp giữa vườn quốc gia Phước Bình, tỉnh Ninh Thuận và Trung tâm sâm và dược liệu Thành Phố Hồ Chí Minh cho thấy, trong quả chuối Chân voi có một số thành phần như flavonoid, tannin, saponin, alkaloid, triterpenoid,…[10]. Như vậy, Việt Nam cây chuối Chân voi chỉ mới được nghiên cứu sơ lược về thành phần các nhóm chất tồn tại trong chuối.
Xong các hoạt tính hoá học như chống oxy hoá, kháng viêm kháng sỏi chưa được nghiên cứu. Do đó, tìm hiểu về thành phần hoá học, hoạt tính 3 sinh học của các cây cùng chi Ensete rất được quan tâm góp phần định hướng nghiên cứu cho loài chuối Chân voi này. Thành phần hoá học của chi Ensete Thành phần hoá học của các loài thuộc chi Ensete được trình bày ở bảng 1. Thành phần hoá học của một số loài thuộc chi Ensete Bộ Stt Loài Nhóm hợp chất hoá học TLTK phận Hạt Alkaloid, flavonoid, phenol, steroid và tanin [11] Alpha-dodecene; alpha-tetradecene; 2,8- dimethylundecane; 1-nonadecene; 3,7- dimethyldecane; (3E)-3-octadecene; 9E)-9- hexacosene; tetrapentacontane; nonane; 5- Ensete methyl-5-propyl; bicyclo[2.1]heptane2- 1 methyl; decane; 2,3,8-trimethyl; pentadecyl gilletii Rễ [3] alcohol; 3,5-dimethyl-4-octanone; 1-(+)- ascorbic acid 2,6- dihexadicane; phthalic acid; cyclobutyl tridecyl est; 1-octadecanol, methyl; octadecanoic acid; 1-heptacosanol; Palmetic acid.
beta-monoglyceride; methoxyacetic acid; 4-tridecyl ester; Phenol, 2,4-di-tert-butyl Alkaloid; steroid; phenolics; glycoside; đường [3, 12, Hạt và phenylphenalenone 13] Ensete 2 Cellulose; hemicellulose; lignin; các hợp chất ventricosum Thân đường (monosaccharide); các chất màu; [14] tannin; protein. Eugenol; acidt n-hexadecanoic; 9-eicosyne, 3– aciddecanyoic; 1-tetradecyne; 7–metyl–Z– tetradecen; 1–ol-axetat; 1–Hexadecyne; Z– [6, 13, Hạt tetradec–11–en–1–ol; axit octadecanoic; Ensete 15] 3 tridecanedial axetat; axit cis -13-eicosenoic; superbum gallic; axit caffeic; rutin; quercetin; axit ferulic. Alkaloid; sterol; tanin; flavonoid; protein và Thân [16] đường. Trên thế giới đã có các nghiên cứu được công bố về tác dụng chữa bệnh của các loài thuộc chi Ensete, các chất được tìm thấy bao gồm: terpenoid; phenyl-propanoid; flavonoid[17, 18] 9-phenylphenalonene[12]; lectin[19]; flavonoid leucocyanidin[17]; Dopamine serotonin; norepinephrine; tryptophan; hợp chất indole; alkaloid; tanin; ascorbic acid một số flavonoid và các hợp chất liên quan (Leucocyanidin; quercetin và 3-O-galactoside của nó; 3-O-glucoside và 3-O-rhamnosyl glucoside).
Các sterol như β- sitosterol; campesterol; stigmasterol. Hoạt tính sinh học của một số loài thuộc chi Ensete Từ một số nghiên cứu về chi Ensete, nhận thấy các nhóm hợp chất sinh học trong phần quả chuối chủ yếu là polyphenol, flavonoid, proanthocyanidin. Đây là những nhóm hoạt chất thể hiện nhiều hoạt tính sinh học như chống oxy hóa, chống ung thư, chống tiểu đường, suy giảm thoái hóa thần kinh, rối loạn tim mạch, tổn thương đường tiêu hóa và tổn thương xương, kháng viêm. Các hoạt tính ở các bộ phận của từng loài được trình bày cụ thể ở bảng 1.
Hoạt tính sinh học của một số loài thuộc chi Ensete STT Loài Bộ phận Tác dụng chữa bệnh TLTK Đau bụng, tiêu chảy, kiết lỵ, viêm Ensete 1 Rễ phổi, thương hàn, sỏi thận và gan rối [11, 21] gilletii loạn Đau bụng, đau bụng kinh, tiêu chảy, Thịt [11, 16] kiết lỵ, rối loạn gan Gãy xương, kích thích chuyển dạ Ensete Lá [13, 22] 2 hoặc gây sảy thai ventricosum Quả và lá Viêm gan [13, 22] Loại bỏ nhau thai ở người và động Hạt [13, 22] vật Viêm ruột thừa, ung thư, tiểu Hạt đường, bệnh bạch cầu, sỏi thận, chó [13] Ensete cắn, tiểu khó, sởi, rối loạn tâm thần 3 Superbum Rễ Đau bụng, giúp dễ sinh [23] Lá và quả Tốt cho tử cung [23] 1. Hoạt tính chống oxy hoá 1. Gốc tự do Oxy là một nguyên tố quan trọng giúp duy trì sự sống, chúng tham gia vào quá trình hô hấp và nhiều quá trình sinh hoá khác trong cơ thể. Trong khi tham gia vào các quá trình đó oxy tạo ra những tiểu phân trung gian gọi là gốc tự do (ROS).
Các gốc tự do là những nguyên tử, phân tử hay ion có điện tử độc thân lớp ngoài cùng, năng lượng cao, kém bền nên dễ dàng phản ứng với các đại phân tử như protein, lipid, DNA,.gây rối loạn các quá trình sinh hoá trong cơ thể [24]. Mức độ ROS tăng lên có thể làm hỏng cấu trúc của các phân tử sinh học và thay đổi chức năng của chúng, đồng thời dẫn đến rối loạn chức năng tế bào và thậm chí là chết tế bào. Tác động tích lũy của việc tăng ROS được biểu hiện dưới dạng một loạt các vấn 5 đề sức khỏe như ung thư, bệnh liên quan đến tuổi tác và bệnh tim mạch[25, 26] ung thư, xơ vữa động mạch, teo cơ,… [27] 1. Chất chống oxy hoá Chất chống oxy hoá là chất có khả năng làm chậm hoặc ức chế quá trình oxy hoá, ngăn ngừa sự tổn hại của sinh vật do gốc tự do gây ra.
Chất chống oxy hoá được chia làm hai loại là: Chất chống oxy hoá bậc một và chất chống oxy hoá bậc hai. Chất chống oxy hoá bậc một có khả năng khử các gốc tự do, phá vỡ chuỗi oxy hoá của các phân tử. Chất chống oxy hoá bậc hai có tác dụng kiềm hãm sự hình thành của các gốc tự do, làm chậm tốc độ oxy hoá.[24] còn được bổ sung bằng cách sử dụng các thực phẩm xanh sạch như trái cây, rau củ, thực phẩm có nguồn gốc từ thực vật,… 1. Một số cơ chế chống oxy hoá phổ biến 1.
Cơ chế SET Là cơ chế chuyển một điện tử từ chất chống oxy hóa tiềm năng (ArOH) đến gốc tự do (ROO•), cơ chế này gồm hai quá trình. Trong quá trình thứ nhất một electron từ chất chống oxy hoá chuyển sang gốc tự do và quá trình thứ hai là chuyển một proton. Trong cơ chế này khả năng chống oxy hoá được quyết định bởi khả năng chuyển electron, được đặc trưng bởi năng lượng ion hóa( IP). Trong quá trình thứ hai của cơ chế phụ thuộc bởi năng lượng phân ly proton ( PDE).[31] ROO• + ArOH ROO- + ArOH•+ ROOH + ArO• 1.
Cơ chế HAT Trong cơ chế này các chất chống oxy hoá tiềm năng sẽ chuyển một nguyên tử hydro đến gốc tự do và quá trình này được đặc trưng bởi năng lượng phân ly liên kết (BDE).