CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Cây Niệt dó Tên khoa học: Wikstroemia indica (L. Mey Tên đồng nghĩa: Daphne cannabina Lour, Wikstroemia viridiflora Meisn., Wikstroemia indica var. Vị trí phân loại Vị trí phân loại của cây: [12], [13], [14].
Ngành: Ngọc Lan (Magnoliophyta) Lớp: Ngọc Lan (Magnoliopsida) Bô ̣: Trầm (Thymelaeales) Ho ̣: Trầm (Thymelaeaceae) Chi: Wikstroemia Endl. indica Wikstroemia Endl. là một chi nhỏ gồm khoảng 70 loài cây bụi có hoa và cây nhỏ trong họ Thymelaeaceae, phân bố rộng rãi ở Châu Úc, Đông Nam Á và các quần đảo thuộc Thái Bình Dương. Ở Việt Nam, chi này có 7 loài: W.
Đặc điểm thực vật Niệt dó là cây bụi, mọc sum suê, quanh năm xanh tươi, cao khoảng 0,3-1,0m, có khi mọc cao đến hơn 2m, mang nhiều cành gầy, màu đỏ nhạt, nhiều khi mọc đối, có những sẹo lá nổi rõ lên. Lá mọc đối, phiến lá mỏng, hình trứng thuôn, dài 3-4cm, rộng 1-2 cm, hai đầu tù hay hơi nhọn, hai mặt nhẵn, mặt trên màu lục sẫm, mặt dưới nhạt; cuống rất ngắn. Lá khi khô chuyển thành màu nâu đỏ ở cả hai mặt. Hoa màu vàng lục mọc thành chùm ở đầu cành hay thành bông rất ngắn (0,5- 1cm).
Cuống hoa dài 1-2mm. Đài màu xanh lá, hình ống hơi phình ở họng, chia 4 răng dài ngắn không đều; tràng 0; nhị 8, xếp thành 2 hàng dọc trên ống đài, chỉ nhị rất ngắn; bầu có 1 ô, có ít lông ở đỉnh. Quả mọng hình trứng, kèm theo vết tích của 3 bao hoa, khi chín màu đỏ tươi, phần cơm hơi dầy. Hạt có vỏ mỏng và mềm, vỏ trong cứng và đen nhạt.
Mùa hoa: tháng 5-9. Mùa quả: tháng 6-12. Phân bố Việt Nam: Cây mọc hoang khắp nơi núi rừng, bờ bụi nước ta, từ vùng núi thấp đến các tỉnh Trung du Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ [2],[12]. Thế giới: Cây mọc nhiều ở ngọn đồi, núi đá dốc, nơi có nhiều cây bụi, độ cao dưới 1500m.
Phân bố chủ yếu ở Trung Quốc các vùng như Phúc Kiến, Quảng Đông, Quảng Tây, Quý Châu, Hải Nam, Hồ Nam, Tứ Xuyên, Đài Loan, Vân Nam, Chiết Giang và các nước khác như Ấn Độ, Malaysia, Myanma, Philippin, Thái Lan, Úc, quần đảo phía đông, nam Thái Bình Dương, Mauritius, Sri Lanka [15]. Thành phần hóa học Niệt dó (W. indica) có chứa các thành phần có hoạt tính sinh học phong phú bao gồm coumarin, flavonoid, biflavonoid, lignan, acid béo và polysaccharid. Coumarin Một số coumarin đã được phân lập ra từ W.
indica gồm: umbelliferon; daphnoretin; daphnoretin-7-O-β-D-glucosid; 6'-hydroxy, 7-O-7'-dicoumarin [14],[17],[18] và wikstrosin [19]; edgeworin và daphnogitin [20]. Trong đó, daphnoretin được coi là thành phần chính phát huy tác dụng trên miễn dịch, ức chế khối u và kháng virus của W. indica nhờ các nghiên cứu chứng minh tác dụng dược lý của hợp chất này trên in vitro, in silico và in vivo [5],[6],[10], [7],[21],[9]. Flavonoid Một số flavonoid đã được xác định từ W.
indica là: kaempferol-3-O-β-D- glucosid [22]; 5,7,4'-trihydroxy-3',5'-dimethoxyflavon; 5-hydroxy-7,4'- dimethoxyflavon; nicotiflorin; D-primeversyl genkwanin; quercitrin [23]; thevetiaflavon [22]; genkwanin; wikstroemin [5], tricin [3]. Biflavonoid Các biflavonoid đặc trưng của W. indica, bao gồm: sikokianin B; sikokianin A, sikokianin C; Sikokianin D [17],[24]; wikstrol A; wikstrol B; genkwanol A; 4 daphnodorin B [12]; 4'-methoxydaphnodorin E [25]; 4'-methoxydaphnodorin D1 và 4'-methoxydaphnodorin D2 [26]. Lignan Lignan là một nhóm các hợp chất chuyển hóa thứ cấp thực vật, các nhà khoa học đã phân lập và xác định cấu trúc của các lignan: matairesinol, wikstromol, arctigenin và pinoresinol trong W.
Acid béo Trong dầu W. indica được nghiên cứu thấy có chứa 37 hợp chất với thành phần cấu tạo chủ yếu là acid hexadecanoic, acid 9-octadecenoic, acid 9,12- octadecadienoic, acid 9-hexadecenoic, acid pentadecanoic, acid dodecanoic và acid decanoic với tỉ lệ khối lượng tương ứng là 60,44%; 7,13%; 5,48%; 2,42%; 1,21%; 0,76% và 0,51% [27]. Các thành phần khác + Sesquiterpen: indecanon dưới da ̣ng dầ u không màu [5], + Phytosterol: 7-oxo-β-sitosterol [28], stigmastan-3,7-diol, stigmast-5 en- 3β,7α-diol, daucosterol [18], + Anthraquinon: physcion, + Các chất nhóm acetanilid: asperglaucid và anabellamid [28], + Polysaccharid: các polysaccharid cấu tạo từ glucose, arabinose, acid galacturonic, galactose và xylose [29], + Các chấ t khác: docosyl-3-methoxy-4-hydroxyferulat, hexacosoic-α-glycerid acid, 4-(l,2,3-trihydroxypropyl)-2,6-dimethoxyphenyl-l-O-β-D-glucopyranosid [18]. Tác dụng sinh học và độc tính Theo các tài liệu nghiên cứu, Niệt dó (W.
indica) được chứng minh là có nhiều tác dụng trên hệ thống miễn dịch, gây độc tế bào, chống ung thư, kháng khuẩn, kháng virus, kháng viêm, chống sốt rét, chữa tiêu chảy [16]… 1. Tác dụng trên hệ thống miễn dịch Một nghiên cứu đã được thực hiện nhằm mục đích đánh giá tác dụng của cao chiết ethanol phần thân và lá của W. indica đối với chứng viêm da ở chuột không lông bị viêm da dị ứng do 2,4-dinitrochlorobenzen gây ra. Kết quả cho thấy sau khi dùng 5 ngoài da trong 2 tuần, cao chiết ethanol W.
indica làm giảm tình trạng ban đỏ, bong vảy và phù nề ở chuột. Quá trình hydrat hóa da được cải thiện và sự mất nước qua biểu bì đã giảm khi sử dụng cao ethanol W. Hơn nữa, cao ethanol W. indica cũng làm giảm đáng kể nồng độ IgE và IL-4 huyết thanh chuột.
Tác dụng ức chế của cao chiết ethanol W. indica đối với các triệu chứng viêm da có thể do giảm nồng độ IL-4 và IgE. Những kết quả này cho thấy cao chiết ethanol W. indica có tiềm năng như một phương pháp điều trị tại chỗ cho viêm da do thúc đẩy nhanh quá trình phục hồi hàng rào bảo vệ da bằng cách ức chế sự sản sinh IL-4 [11].
Hợp chất daphnoretin phân lập từ W. indica đã được nghiên cứu tác dụng trên sự biệt hóa và trưởng thành của tế bào đuôi gai (DC). Sau khi điều trị bằng daphnoretin (0; 1,1; 3,3; 10 và 30 μM), kết quả nghiên cứu cho thấy, daphnoretin làm giảm khả năng tồn tại của cả DC chưa trưởng thành và trưởng thành phụ thuộc vào liều lượng. Trong đó, các DC trưởng thành có ít đuôi gai hơn và ngắn hơn; daphnoretin ức chế hoạt động kích thích tất cả các DC trên sự tăng sinh của tế bào T CD4 + CD45 + RA + [10].
Những phản ứng viêm quá mức do cytokin gây ra trong cơ thể do hoạt động quá mức của hệ miễn dịch, đặc biệt ở phổi, là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở các bệnh nhân COVID-19. Trong hoàn cảnh đại dịch này, tháng 01 năm 2022, một nhóm các nhà khoa học tại Indonesia đã tiến hành nghiên cứu và cho thấy daphnoretin có khả năng liên kết rất mạnh với TLR4 và TLR8 - là các thụ thể được cho là có liên quan đến các phản ứng viêm trong COVID-19, khi các thụ thể này bị kích thích quá mức có thể dẫn đến tình trạng viêm quá mức. Nghiên cứu khẳng định rằng daphnoretin có tiềm năng để trở thành chất ức chế đối với tình trạng viêm quá mức bằng cách nhắm vào mục tiêu TLR - là một trong số các thụ thể cần thiết trong việc bắt đầu các phản ứng miễn dịch bẩm sinh bằng cách tạo ra các cytokin gây viêm, interferon loại I (IFN) và các chất trung gian khác [21]. Daphnoretin được chứng minh là có tác dụng làm giảm nhẹ quá trình thoái hóa tế bào sụn do IL-1β gây ra cả in vitro và in vivo khi cải thiện tổn thương sụn ở khớp gối của mô hình chuột viêm khớp.
Các thí nghiệm in vivo đã xác nhận rằng 6 daphnoretin làm giảm bớt sự tiến triển của bệnh viêm khớp trong mô hình viêm khớp ở chuột [7]. Trong một nghiên cứu đánh giá khả năng ức chế TNF-α và IL-1 của các hợp chất từ thực vật để điều trị viêm khớp dạng thấp, daphnoretin trong W. indica thể hiện khả năng ức chế tốt đối với bạch cầu đơn nhân với mức độ ức chế là 63,1% và năng lượng liên kết của daphnoretin với TNF- α và IL-1 đo được lần lượt là -59,53 kJ.mol- 1 và -70,87 kJ.mol-1 bằng mô hình docking phân tử; cho thấy được tiềm năng của hợp chất này trong sử dụng để điều hòa miễn dịch [9]. Tác dụng kháng ung thư Cao chiết nước, cao ethanol 95% và các cao phân đoạn của cao ethanol 95% từ W.
indica đã được đánh giá tác dụng gây độc trên các dòng tế bào ung thư: Hela, SGC-7901 và Bel-7402. Kết quả cho thấy cao chiết ethanol 95% thể hiện tác du ̣ng ức chế trên tất cả các dòng tế bào ung thư. Các cao phân đoa ̣n ether dầu, cloroform và ethyl acetat của W. indica được xác định là có tác du ̣ng gây độc tế bào [13].
Nước sắc phần thân lá W. indica cho thấy tác dụng ức chế mạnh trên khối u sarcoma lymphotic (L-1) dạng cổ trướng và khối u cổ trướng Ehrlich ở chuột với tỷ lệ tương ứng 45,4% và 97%. Dịch nước sắc này cũng ức chế rõ rệt tế bào ung thư cổ tử cung và ung thư bạch cầu trên chuột [30]. Daphnoretin được phát hiện là thành phần chính có tác dụng ức chế khối u của W.
indica, chất này cho thấ y tác du ̣ng ức chế sự tăng trưởng của khối u và di căn. Thử nghiệm trên các dòng tế bào ung thư là AGZY-83-a, Hep2 và HepG2, daphnoretin có tác dụng ức chế khối u rõ rệt với giá trị IC50 tương ứng là 8,73; 9,71 và 31,34 μg/ml. Quan sát dưới kính hiển vi cho thấy tỉ lệ sống sót của ba loại tế bào ung thư này giảm rõ rê ̣t sau khi được điều trị bằng daphnoretin (10,30 μg/ml trong 72 giờ), đồng thời nồng độ calci trong tế bào tăng lên rõ rệt (p<0,05). Sự ức chế của daphnoretin có thể liên quan đến quá tải calci trong tế bào [6].
Trong một nghiên cứu khác, daphnoretin cho thấy sự ức chế tăng sinh tế bào ung thư phổi A549 theo nồng độ và thời gian. Ngoài ra, daphnoretin gây ra quá trình apoptosis của tế bào A549 phụ thuộc vào nồng độ; thông qua việc điều hòa gen ung 7 thư Bcl-2 trong tế bào A549. Những phát hiện này chỉ ra rằng, daphnoretin có thể có tiềm năng như một tác nhân điều trị để kiểm soát ung thư phổi [31]. Hoạt tính gây độc tế bào của daphnoretin chiết xuất từ Niệt dó (W.
indica) đã được thử nghiệm trên bốn dòng tế bào gây ung thư là tế bào ung thư biểu mô đáy phế nang người (A549), tế bào ung thư biểu mô vòm họng (CNE), ung thư biểu mô cổ tử cung (HeLa) và biểu mô người loại 2 (Hep2). Kết quả ghi nhận sự ức chế đáng kể đối với các dòng tế bào CNE và HeLa theo kiểu phụ thuộc vào liều lượng giữa các nồng độ 15,6 và 125 μg/ml; ngoài ra, sự tăng sinh của A549 cũng bị hạn chế ở nồng độ 31,25 μg/ml [16]. Một số hợp chất khác như wikstroemin, matairesinol và arctigenin từ rễ W. indica có tác dụng chống ung thư bạch cầu hiệu quả.
Đồng thời, các flavonoid từ rễ W. indica cũng có khả năng này [17]. Các polysaccharid có trong cây W.