CHƯƠNG 1.1 Tổng quan về chi Nymphaea 1.1 Vị trí, phân loại chi Nymphaea Dựa vào hệ thống phân loại của Armen Takhtajan (2009)[5], chi Nymphaea thuộc: Phân giới: Thực vật bậc cao (Cormobionta) Ngành: Ngọc Lan (Magnoliophyta) Lớp: Ngọc Lan (Magnoliopsida) Phân lớp: Ngọc Lan (Magnoliidae) Bộ: Súng (Nymphaeales) Họ: Súng (Nymphaeaceae) Chi: Nymphaea 1.2 Đặc điểm thực vật của chi Nymphaea Đa số chi Nymphaea là cây thân thảo sống lâu năm. Thân rễ mọc thẳng và có góc cạnh, phân nhánh hoặc không phân nhánh. Lá hầu hết nổi, phiến lá hình tròn đến hình trứng rộng hoặc hình elip, mép lá toàn bộ hình răng cưa, gân chính chủ yếu là lòng bàn tay, có 1 gân to ở giữa. Hoa mọc quanh gốc, nổi hoặc chìm, khi hoa nở bao lan mở rộng.
Lá đài 4 chủ yếu màu xanh lục. Cánh hoa có từ 8 cánh trở lên, to, dài nhọn và đa dạng màu như các màu như trắng, tím, hồng, đỏ, xanh, vàng, cam nhạt. Cách hoa xếp xoắn ốc, xoắn ốc toàn bộ hoặc một phần, xếp trên mặt bầu nhụy và thường xếp thành nhị hoa. Nhị hoa ngắn hơn lá đài và cánh hoa, nằm ở mặt bên bầu nhụy; chỉ nhị có dạng trứng hoặc dạng trứng ngược; bao phấn liên kết có phần phụ hoặc không có phần phụ.
Lá noãn hợp nhất một phần hoặc toàn bộ. Đầu nhụy không cuống, tỏa trên đĩa nhụy hình chén, viền bởi các phần phụ lá noãn[3].Quả thịt hoặc xốp, chín dưới nước, nhiều hạt. Hạt có hình cầu, hình trứng hoặc elip, trơn hoặc có các đường vân dọc, có lông tơ, có rãnh, đường kính có thể lên tới 5mm[6, 7].3 Đặc điểm sinh thái và phân bố của chi Nymphaea Trong số tất cả các chi của nhánh Hoa súng (Nymphaeales), Nymphaea là chi đa dạng nhất với hơn 50 loài [8]. Chi Nymphaea là một nhóm khó phân loại; nhiều loài được cho là có nhiều phân loài, nguồn gốc nhiễm sắc thể, các dạng lai và có nguồn gốc nhân tạo.
Chi Nymphaea (Nymphaeaceae Salisb.) phổ biến rộng rãi ở các vùng nhiệt đới và ôn đới bao phủ các vùng nước tự nhiên rộng lớn. Các loài của chi Nymphaea mọc ở vùng nước thoáng của đầm lầy lớn, hồ, ao, mương cạn và cả ở đầm lầy [9]. Một số loài trong chi Nymphaea có các đặc điểm: 2 Nymphaea pubescens Willd. (Súng trắng): Cây thảo thủy sinh có thân rễ thuôn.
Lá có phiến rộng 15-35 cm, xanh đậm và láng mặt trên, đầy lông mịn nâu ở mặt dưới; cuống có 2 bộng to. Hoa rộng 10-20 cm, trắng hay hồng, nở vào buổi sáng; lá đài 4, xanh; cánh hoa 10-15; nhị đến 100, màu vàng, rộng, bao phấn dài hơn chỉ nhị, bầu 13- 15 ô [3], [4]. Phân bố ở Ấn Độ, Bangladesh, Campuchia, Đài Loan, Indonesia, Lào, Malaysia, Myanmar, Philippin, Sri Lanka, Thái Lan, Việt Nam, và Vân Nam (Trung Quốc). Thì có thể tìm thấy được ở Úc và Papua New Guinea.
Nymphaea rubra Roxb.ex Salisb (Súng đỏ, súng cơm): Cây thảo thủy sinh, có thân rễ thuôn, có chồi. Lá tròn, có phiến rộng 20-40 cm, nâu đỏ đến xanh, rìa lá có nhiều răng. Tại ao hồ Trung Quốc, Bangladesh, Mexico, Việt Nam Nymphaea tetragona George (Súng chì, súng vuông): Cây thảo thủy sinh, là loài nhỏ nhất trong các loài súng; củ đen, đứng. Lá hình móng ngựa, nguyên, nhỏ 3-8 cm, mặt trên lá có màu xanh đậm, mặt dưới lá nâu đỏ, gân rõ.
Hoa nở vào 12 giờ đến 17 giờ, to 3cm, đáy vuông, có 4 lá đài xanh, 7-15 cánh hoa trắng, nhị cỡ 40, chỉ rộng [3], [4].Phân bố ao, hồ ở nhiều tỉnh ở Trung Quốc (Phúc Kiến, Quảng Đông, Quảng Tây,…); ngoài ra còn phân bố ở các nơi khác như: Ấn Độ; Nhật Bản; Kashmir; Kazakhstan; Hàn Quốc; Nga; Việt Nam; Bắc Mỹ; Châu Âu. Nymphaea nouchali Burm. (Súng lam): Lá có phiến tròn hay xoan, rìa có răng thưa, mặt dưới không lông, màu lam tím đậm. Hoa rộng 7-15 cm, màu lam dợt hay trắng, nở từ sáng đến trưa; lá đài 4-6, xanh, có đốm; cánh hoa cỡ 10-15 cm; nhị cỡ 40 [3],[4].
Trong ao ở các tỉnh An Huy, Quảng Đông, Hải Nam, Hồ Bắc, Đài Loan, Vân Nam của Trung Quốc; và còn ở các quốc gia Afghanistan; Bangladesh; Ấn Độ; Indonesia; Myanmar; Nepal; New Guinea; Pakistan; Philippines; Sri Lanka; Thái Lan; Việt Nam; Châu Úc. Nymphaea stellata Willd.: Cây sống dưới nước. Thân rễ ngắn, có nhiều củ nhỏ. Lá mọc nổi trên mặt nước, có cuống dài, phiến tròn hay xoan, mép có răng, mặt trên xanh lục mặt dưới tím.
Hoa mọc riêng lẻ, màu tím hoặc xanh lơ, có khi trắng, rộng 7-15 cm, thường có 4-6 lá đài có đốm đen, 11-14 cánh hoa, khoảng 40 nhị với bao phấn có mỏ vàng, nhiều lá noãn rời nhau [3],[4]. Nam và tây nam Vân Nam Trung Quốc; Bangladesh; Ấn Độ; Indonesia; Myanmar; New Guinea; Pakistan; Philippines; Sikkim; Sri Lanka; Thái Lan; Việt Nam.: Cây thảo sống lâu năm. Thân rễ mọc thẳng. Lá hình trứng, 18- 50 cm, rìa răng cưa, mặt dưới màu tím đậm có lông tơ, mặt trên màu xanh đậm, nhẵn.
Hoa đơn; cuống dài 2-7m; đài hoa thuôn dài, màu xanh đậm, nổi gân rõ, dài 5-7cm; cánh 3 hoa trắng, hồng hoặc đỏ, 5-8 cm; Nhị hoa nhiều, bộ nhị 1, nhiều lá noãn. Quả hình trứng, 3-5 cm. Hạt hình bầu dục, 1-2 mm, nhiều đường vân dọc [10].4 Thành phần hoá học của chi Nymphaea Cho tới nay, đã có nhiều nghiên cứu về thành phần hoá học của các loài và bộ phận khác nhau trong chi Nymphaea, bao gồm: alkaloid, glycosid, flavonoid glycosid, tanin thủy phân, lignan, phytosterol và triterpen … Protein, pentosan, chất nhầy và tanin được báo cáo trong hạt. Astragalin, corilagin, acid gallic, este methyl của acid gallic, isokaempferide, kaempferol, quercetin-3-methyl ether, quercetin, 2,3,4,6-tetra-galloyl dextroglucose và 3-O-methylquercetin-3'-obeta dextroxylopyranosid đã được xác định trong hoa [11].
Sự hiện diện của hai lignan trong Nymphaea odorata[12]; một tanin thủy phân từ Nymphaea tetragona [13]; một số flavonol glycosid từ N. Hai flavonoid macrocyclic hiếm từ Nymphaea lotus [16] đã được báo cáo. Nupharin và nymphaeine đã được phân lập từ hoa của Nymphaea alba [18]. Hai alkaloid bazơ phenolic của coclaurine được báo cáo từ các bộ phận trên mặt đất của Nymphaea stellata [19].
Trong dịch chiết cồn của hoa Nymphaea alba phát hiện thấy sự có mặt của Nymphalin glycosid trợ tim [20]. Các flavonoid như anthocyanin, flavonol và flavon đã được báo cáo dưới dạng flavonoid glycosid với các gốc glycone khác nhau giữa các loài khác nhau thuộc chi Nymphaea. Trong các nghiên cứu của Fossen T. cùng các cộng sự cho thấy sự hiện diện của dimonosid, galactosid và galactopyranosid gắn với delphinidin từ hoa màu xanh của Nymphaea gigantean[21], lá của Nymphaea candida [17] và hoa đỏ của Nymphaea marliacea var.
Galactosid và galactopyrano gắn với cyanidin cũng được báo cáo có mặt trong lá của Nymphaea candida [17] và hoa đỏ của Nymphaea marliacea var. Hợp chất 3-(2″-acetylrhamnosid) mới của myricetin và quercetin, kaempferol 3- (2″-acetylrhamnosid) và quercetin 3-(3″-acetylrhamnosid), ngoài ra 3-rhamnosids của kaempferol, quercetin được phân lập từ hoa màu xanh của Hoa súng châu Phi Nymphaea caerulea [15], chiết xuất ethanol từ lá Nymphaea odorata [12] và Nymphaea lotus. Hợp chất 1,2,3,4,6-pentagalloyl glucose, các glycosid flavonol macrocyclic như Myricetin-3'-o- (6 "-p-coumaroyl) glycosid, Nympholid A và B đã được báo cáo từ chiết xuất methanol của lá Nymphaea lotus [16]. 4 Methyl gallate, flavon glycosid như 7, 3', 4'-trihydroxy-5-o-β-D-(2"-acetyl) xylopyranosyl-isoflavon đã được nghiên cứu có trong chiết xuất methanol của toàn bộ cây Nymphaea ampla [21].
Các flavonol Naringenin và flavonol glycosid (S)- Naringenin 5-o-β-d-glucosid đã được ghi nhận từ hoa của Nymphaea caerulea [22]. Geraniin, một chất tanin thủy phân có khả năng kháng khuẩn chống lại vi khuẩn gây bệnh ở cá, đã được báo cáo từ phần aceton của lá Nymphaea tetragona [13]. β- sitosterol được báo cáo có trong chiết xuất cồn của hoa Nymphaea alba [23], trong khi nymphaol (25, 26-dinorcholest-5-en-3-ol) có mặt trong loài Nymphaea stellata [24]. cùng các cộng sự đã phát hiện Nymphasterol từ hạt của Nymphaea stellata[25].
β-sitosterol và β-sitosterol-3-o-β-D-glucopyranosid đã được báo cáo từ chiết xuất methanol của toàn bộ cây Nymphaea pulchella và Nymphaea gracilli [21]. Sự hiện diện của Nymphaeosid A và Icariside E4 đã được nghiên cứu từ chiết xuất ethanol của lá Nymphaea odorata [12]. Campesterol, stigmasterol, β-Sitosterol và triterpen β-Amyrin, Taraxasterol, Friedlin, Allobetulin, Erythrodiol, Lupeol, Betulin đã được báo cáo từ lá, thân và rễ của Nymphaea odorata [26]. Do đó, danh sách các hợp chất có giá trị từ việc chiết xuất thực vật đã được giải thích cặn kẽ để khám phá vai trò của chi Nymphaea trong lĩnh vực y học.
Các thành phần hóa học của các loài trong Nymphaea thu được từ các cơ quan thực vật khác nhau cho thấy nhiều đặc tính chữa bệnh. Công thức cấu tạo một số hợp chất trong chi Nymphaea STT Nhóm Hoạt chất Công thức cấu tạo Flavonoid 1 Hyperosid [16,18,20] 5 2 Cyanidin 3 Hyperin 4 Leucocyanidin 6 5 Leucodiphinidin Quercetin 3-(3″- 6 acetylrhamnosid) Sterol 7 β-sitosterol [21] Polyphenol 8 Acid gallic [43] 7 9 Acid ellagic 10 Catechin 11 Luteolin Triterpenoid và 12 dẫn xuất Betulin [26] 8 13 Lupeol 14 Erythrodiol Alkaloid 15 Nuciferin [26] 9 16 Dauricin 17 Roemerin Tanin thuỷ phân 18 Corilagin [11] 10 19 Geraniin Bảng 1. Tổng hợp TPHH một số loài trong chi Nymphaea TT Tên loài Thành phần hoá học TLTK Cyanidin 3-(6-acetylgalactosid); delphinidin 3-(2-galloyl-6- acetylgalactosid); delphinidin 3-(6- Torgil et al. alba acetylgalactosid); xyanidin 3-(2-galloyl-6- [27].
acetylgalactosid); delphinidin 3-(2- galloylgalactosid; delphinidin 3-galactosid; cyanidin 3-galactosid. 1,2,3,4,6-pentagalloyl-D- Elegami et al., glucose;nymphalid A; nymphalid B; 2 N. lotus 2003[16];Mukherjee myricitrin; myricetin-3-O-(6-p-coumaroyl) et al. glucosid Myricetin 3-O-(α-L rhamnopyranosyl(1⟶6)β- D- galactopyranosid); Fossen et al.
acetylgalactosid); delphinidin 3-(6- acetylgalactosid); delphinidin 3-galactosid 11 Delphinidin 3-(2-galloyl-6- acetylgalactosid); delphinidin 3-(6- N.marliacea acetylgalactosid); Fossen et al. Escarboucle delphinidin 3-(2-galloylgalactosid); delphinidin 3-galactosid 7,3’4’-Trihydroxy-5-O-β-D-(2-acetyl- xylopyranosylisoflavone); 7,3’,4’-trihydroxy-5-O-α-L- Marquina et al. pulchella rhamnopyranosylisoflavone; 2005[21] kaempferol-3-rhamnopyranosid; β- sitosterol; β-sitosteryl-3-O-β-D-glucopyranosid 7,3,4-Trihydroxy-5-O-β-D-(2-acetyl)- xylopyranosylisoflavone; 7,3,4-trihydroxy-5-O-α-L Marquina et al. ampla rhamnopyranosylisoflavone; methyl gallate 2005[21] quercetin 3-rhamnosid; quercetin-3- xylopyranosid; quercetin 3-glucopyranosid Quercetin 3-rhamnosid; β-sitosterol; β- Marquina et al.
elegans sitosteryl-3-O-β-D-glucopyranosid 2005[21] Methyl 3-O-β-D-glucopyranosyloleanolate, 28-O-β-D-glucopyranosyloleanolate; Marquina et al. gracilis 28-O-β-D-glucopyranosyl-oleanolate; 2005[21] β-sitosterol; β-sitosteryl-3-O-β-D- glucopyranosid 1.5 Tác dụng sinh học của chi Nymphaea Các loài trong chi Nymphaea bao gồm nhiều loại thực vật có hoa. Nó đang nổi lên như một loại thuốc phòng ngừa mới có rất nhiều đặc tính trị liệu bao gồm hoạt tính trị đái tháo đường [29]; tác dụng bảo vệ gan[30]; các tác dụng hạ đường huyết và chống rối loạn lipid máu đối với bệnh đái tháo đường typ 2 [31]; hoạt tính chống tăng sinh [32]; tác dụng ức chế khối u; hoạt tính cholinergic; hoạt tính giảm đau, chống viêm và kháng khuẩn[24] và tác dụng chống oxy hóa [11]. 12 Một số tác dụng sinh học nổi bật của chi Nymphaea : a) Tác dụng chống oxy hoá Cần tập trung vào đặc tính chống oxy hóa của các loài Nymphaea, vì nó là một nguồn giàu các hợp chất sinh học và đã được báo cáo là một cây thuốc quan trọng được sử dụng trong y học cổ truyền [33] Dịch chiết methanol của lá Nymphaea nouchali đã cho thấy hoạt tính chống oxy hóa cao.
Phân tích HPLC xác định sự hiện diện của Epigallocatechin, Epicatechin gallat, Luteolin-7-O- glucosid, Apigenin-6-C-glucosid và Myricetin-3-O rhanosid có thể đóng góp vào tính chất chống oxy hóa của dịch chiết [34].