Chương 1.1 Tổng quan về cây ngũ trảo, Cây ngũ tráo còn gọi là hoàng kinh, chân chim. Tén khoa hoe [a Vitex negundo Linn, thuộc họ Cỏ Roi Ngựa (Verbenaceae) [1] Ngũ trảo chủ yêu tìm thấy ở châu Á, bao gồm Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, o, Philippines, Indonesia và Việt Nam. Ở Việt Nam, ngũ trảo phân bổ rải rắc khắp, cắc tỉnh miễn núi, từ độ cao trên 500m đến 1000m như các tỉnh ở Lạng Sơn, Cao, Bing,Yên Bải, Lai Châu, Hỏa Bình, Nghệ An, Vĩnh Phúc và Thái Nguyên. Đôi khi cây ngũ trảo còn mọc lẫn vào các làm và bụi cỏ quanh làng, bờ nương rẫy của vũng trung du và đồng bằng Bắc Bộ, Theo Võ Văn Chỉ (1997), cây phân bổ đến tận vùng tinh Kon Tum, Đắc Lắc và Lâm Đẳng [2] Nghiên cứu này sử dụng lá cây ngũ trảo thủ há tạ tỉnh Bình Thuận (Việt Nam), và đã được định danh bởi GS.
Trin Công Luận tại Trường Đại học Tây Đô. Ngũ trảo là loại cây ưa âm, ưa ánh sáng, t mọc ở nơi có bóng râm, thường mọc. và phát triển ở những nơi có vùng đắt âm, leo lên các loại cây bụi hay các loại cỏ cao xen rừng. Cây phát triển và sinh sôi mạnh nhất vào mùa hè, ra hoa và quả nhiều khi cây được chiếu sắng |2].
"Ngũ trảo có thân cây nhỏ, có thể cao từ 3-Sm. Thân cây hình trụ, có khía, tua cuỗn chia thành 2-3 nhánh, cành non hình vuông, màu xám hoặc màu xám nâu. Lá cây hình chân chim, mọc so le p. g n năm lá kếp hình mũi mác, dài khoảng5 8 cm, rộng khoảng 3 ~ 4 cm, gốc lá tròn, đẫu nhọn, á ở tận cùng dải hơn, tắt cả các lá mặttrên có màu xanh lục sẫm, nhẫn vả mặt dưới dưới có nhỉ mẫu trắng bạc.
Gần là chẳng chị, cuống là dài khoảng 2-5 em [2] Hình I: Lá cây ngũ trảo Cây ngũ trảo chứa rất nhiều chất chuyển hóa thứ cấp. Một số nhóm chất và hợp. chit duge tim thấy trong dịch chiết của cây được trình bày trong Bảng 1 và Bảng 2 Bang 1: Một số nhóm chất trong địch chiết của cây ngũ trảo Địch chiết [ Dịch chiết Chất chuyển hóa thứ cất Nước * | chloroform | benzene ‘Steroids + + - Triterpenoids + - Carbohydrates + + + Alkaloids — : + Phenolic compounds) + - + Saponins + + + Xantho proteins - - + Tannins + : + Flavonoids + + + +: cổ tìm thấy không tìm thấy Bing 2: Một số hợp chất trong các bộ phận cây ngũ trio Bộ phận “Thành phin S-hydroxy-3,6,7,3'4-pentamethoxyflavone "Tã]; “6p hydroxybenzoyl mussaenosidie acid; 2"-p-hydroxybenzoyl mussaenosidic acid, gardenin [4]; protocatechuic acid; oleanolic acid; flavonoids [5]; 5, 3 ihydroxy-7, -trimethoxyflavanone; ihydroxy-6,7,4"- trimethoxyflavanone |6]: viridiflorol; - Lá cây caryophyllene: wibinene; 4-lerpineol; zterpinene; apigenin: lueoliny caryophyllene oxide; I-octen-3-ol: giobalol [7]: casticin; vitamin C; nishindine; phydroxybenzoie acid; sitosterol [8]; betulinic acid; ursolic acid; n-hentriacontanol; f-sitosterol: p- hydroxybenzoie acid [9] 3 fracetoxyolean-I2-en-27-0ie avid, 2-4,3-a-dihydroxyoleana- 5,12-dien-28-vie acid; 2-f,3-a diacetoxyoleana-5,12-dien-28-01c acid; 2-a,3-P-diacetoxy-18-hydroxyoleana-5,12-dien-28-0ie acid [10], [11); vitedoin A; vitedoin B: lignan alkaloid, vitedoamine A [12]; Psitosterol; p-hydroxybenzoie acid; 5-oxyisophthalic acid; n-tritiacontane, n-hentriacontane; n-pentatriacontane; n= rnonacosane [8]; 6-hydroxy-4-(4-hydroxy-3-methoxy-phenyl)-3- hydroxymethyl-7-methoxy-3, 4-dihydro-2-naphthaldehyde [13] Tinh div S-guaiene; _guaia-3,7-diene carvophyllene epoxide lá tơi, ethylhexadecenoate; a-selinene; germacren-4-ol; caryophyllene hoa và epoxide; (B)-nerolidol; f-selinene; a-cedrene; germacrene D; quả khô hhexadecanoie acid: p-cymene và valencene [14] iaceloxyoleana-5,12-dien-28-oic acid; — 2na,3-a- dhydroxyoleana- 12-dien-28-oic acid; 2-a.3-/ - diacetoxy-18-hydroxyoleana- 12-die ie acid [15]; lupeol: cymaroside; vitexin; isovitexin; negundin A; negundin B; (£)- ‘diasyringares oleanolic acid; sitosterol [17] oa ‘Aigenin 8 on Lutein 53:dhyarony 8.8,4 rneosyRaianane penameogylavone Hình 2: Một số hợp chit [lavone được tim thấy trong cây ngũ trảo. “Theo các tà liệu trong nước đã công bổ thì những nghiên cứu vé chi Vitex 6 Việt Nam chủ yếu tập trung trên các loài V, Ieptobotrys, V.
quảnata, Y: triflia và V. lønanifolia, tuy nhiên các kết quả nghiên cứu về thành phần hóa học và hoại ính cồn chưa nhiều, Đối với loài Vex negundo, tée giả Phan Thị Trang đã "báo cáo năm hợp chất phân lập từ lá ngũ trảo thu hái tại Hà Nội, bao gồm acid p- hydroxybenZoïc, luteolin, isoorienún, negundosid và agnusid [56]. Nhóm tác giả Nguyễn Khoa Hạ Mai báo cáo tổng hàm lượng polyphenol có trong cây ngủ tảo thu hai tai An Giang là 60. Ngoài ra, còn có 2 báo cáo khảo sát tình dầu ngũ trảo thụ hái tại Bình Thuận (nhóm tác giả Nguyễn Thị Mỹ Dung công bổ năm 2018 [58|) và thu hái tại Thừa Thiên Huế (tác giả Nguyễn Văn Bởi công bỗ năm 2001 I59)) Ngũ trảo có vị đắng, chua, tính hản, có tắc dụng thanh nhiệt, giải độc.
Ở Đông Nam „ nhiễu thành phẩn khác nhau của cây ngũ trảo được sử dụng để trị các bệnh khác nhau. Ở Malaysia, lá ngũ trảo sắc với một củ hành tây và vôi, đắp lên đầu để chữa bệnh đau đầu, Hóa khô tần bột để trị sốt. Ở Indonesia, dùng toànbộ phần tiên mặt đất của cây để chữa trị bệnh sốt rót và sốt “u vi. Ở đảo Solomon, người dân ở: đây dùng lá ngõ trảo xát vào phần bằng nằm bên trên dạ dây để chữa bệnh táo bón BỊ.
6 Trung Quốc, việc sử dụng cây ngũ trảo tong ý học đã được báo cấo trong sách y học cổ truyền Trung Quốc. Các bộ phận khác nhau của cây có công dụng khác. nhau: Lá chẳng viêm, giảm đau, loại bỏ dịch tiết thai nhĩ và giun khỏi vết loét, có tác dụng giảm dau, khing histamine, xay nhd, tin bột lên chỗ vết thương có khả năng trung hòa nọc độc của rắn, hoạt động bảo vệ gan và thần kinh trung ương [2], [I8] Hoa ngũ trảo có tác dụng hạ sốt. chống tiêu cháy, hỗ trợ điều rị bệnh gạn.
Quả ngủ trio được đùng để điều chễ chất kích thích thần kinh, chất kích thích và thuốc giun. Rễ cây được dùng để làm thuốc giải độc, thuốc giái nhiệt, thuốc long đờm, lợi iễu, thuốc chống nôn, thuốc chồng đầy hơi, thuốc chống ky sinh trùng và thuốc giảm đau Rễ cây hoặc phần nằm trên mặt đắt của cây được sắc lên uống dủng đẻ trị sốt, làm. tiêu độc tổ của bệnh quai bị, vàng da và chống sứng tấy trong thấp khớp. Toàn bộ cây # để chữa viêm họng, viêm loét, mụn nhọt.
và làm thuốc giúp lợi tiểu. “Trong dân gian Việt Nam, ngũ trảo được cho là cây thuốc lạ có tác dụng đa năng, Tắt cả các bộ phận của cây đều có khả năng chống viêm. Rễ tươi giã nát, đắp. chữa sưng phù.
R& và thân thái nhỏ, phơi khô, mỗi ngày sắc uỗng 2 lẫn, mỗi lẫn uỗng 10g có khả năng chữa tê thấp, Lá ngũ trảo giã nát với lá cà độc được, bọc lá chuỗi non, hơ nóng, đắp vio những chỗ khớp sưng do thấp khớp rất hiệu quả. Lá n tươi, rửa sạch, giã nhỏ, đắp chữa vét thương, sưng tấy. Lá giã với ít gừng và rượu, sạn tổng chữa viêm tiết niệu, đái ra máu. Dùng khoảng 20 ~30g lá khô, đem sắc Ì uỗng chữa viêm và mụn nhạt [2] “Trong y học cổ truyền, nhiều bài thuốc cổ sử đụng các bộ phận khác nhau của cây ngũ tro, trong đó lá được sử dụng phổ biến nhất với nhiều tác dụng như hỗ trợ điều tị viêm ruộc chữa tiễu ra máu, tiểu đục, chữa phong thấp, sốt rét trắng độc, cảm mạo phỏng hàn, cảm lạnh, đau dạ đây, say nắng, đau bụng, ngứa da, mây đay, rắn độc cắn, toàn thân phù mọng nước, trẻ em dim dai bit dung thổ, kinh phong, viêm dị ty - muột cắp tính, nôn mửa tiêu chảy [8], [I9].
Nhiều nghiên cứu trên thể giới còn cho thấy cây ngũ tráo là một được liệu có nhiều hoạt tính quan trọng như kháng khuẩn. kháng nắm. hỗ trợ giảm đau, kháng. viêm, chống loãng xương, làm giảm căng thẳng mệt mỗi, giúp an thần, giải độc gan, bảo về gan khỏi tác dụng gây độc gan của thuốc chống bệnh lao, hỗ trợ chống ung thứ {19|, Khả năng kháng oxy hóa, thúc đầy quả trình điều tiết insulin của tuyển tuy {20-22}, (Cay ngũ trảo có khả năng khang viêm và giảm đau.
Nhóm nghiên cứu của Yunos và nhóm nghiên cứu của Jana [23] đã công bố khả năng kháng viêm của chiết xuất lá. cây ngũ trảo, Tác dụng chống, + giảm đau của lá ngũ trảo tươi được cho lả nhờ tác dụng ức chế tổng hợp prostaglandin, kháng histamine, ồn định mảng và hoạt động, khẳng oxy hóa [23] Chiết xuất lá cây ngũ trảo được xác định là có khả năng kháng oxy hóa bởi [24]. 'Các chất chiết xuất có khả năng chồng lại tác nhân oxy hỏa bằng cách giảm quá trình peroxy héa lipid, nhờ trong dịch chiết có các hợp chất favone, vitamin C va carotene ía của Rooban vả cộng sự đã đánh giá khả năng cao trong việc, ng oxy hóa và tiềm năng điều rỉ đục thủy tỉnh thể của flavonoid có trong lá cí ngũ tro [26] Gautam và cộng sự đã nghiên cứu dịch chiết metanol từ lá cây Vitex negundo, Tác giả đã phân lập thành công 8 hợp chất có trong lá cây là negundoside; agnuside; vitegnoside, 78-4 methyl herbalacetin-3-rhamnoside; - 5.3*dihydroxy-TS trimethoxy flavanone; 5-hydrony-3.7-dihydroxy 6,4'-dimethoxy flavonone va 5-hydroxy-7,4'-dimethoxy flavone. Tit ca các hợp chất phân lập được đều cho tic dung đáng kể đối chống Ini Bacillus subiiis, Staphylococcus aureus, Micrococcus pyogenes, Pseudomonas aeruginosa va E.coli ons wrrre Sk w X om Oy "OH OH t on C} On ‘Agnus m ỗ Nunn ne ‘ogre OCH; oH Ay “ N `ORha.9-thydron7,84tinethonfavanone on Ls 57-dnyéony 8.4-dimothoxavonone wo Sinysony3 8.4 pontametionyavene “9 hy#esy7A'dmehosyfstone Hình 3: Một số hợp chất trong lá cây ngũ trio Dịch chiết phần rễ của cây ngũ trio cho thấy hoạt tính ức chế một số enzym như.
lipoxygenase va butyryl-cholinesterase [16]: ø-chyrmotrypsin [27]; xanthine-oxidase [28] va tyrosinase [29]. Woradulayay j và cộng sự đã báo cáo khả năng ức chế sao chép ngược trong gen người bị nhiễm HIV loại I ca dich chiết phẩn trên mặt đất rễ cây ngũ trảo [30] Tác dụng gây độc té bio của chiết xuất lá cây ngữ trảo đã được nhiều nhóm nghiên cứu thử nghiệm và bảo cáo trên tế bảo khối u COLO-320 [31]. Diaz và cộng sự đã bảo cáo về dịch chiết chloroform của lá cây ngũ trio có khả năng gây độc cho dong tẾ bảo ung thư ở người [32] “Các nghiên cứu trên dịch chiết của cây ngũ trảo với các vi khuẩn, mắm bệnh. khác nhau đã cho thấy tiềm năng của một tác nhân ức chế sinh học hiệu quả.