ĐẶT VẤN ĐỀ Sức khoẻ không phải chỉ đơn thuần là không có bệnh mà còn phải có một tình trạng thoải mái về tinh thần, thể chất và xã hội. Sức khoẻ là tài sản quý giá nhất của mỗi con người và là nguồn động lực cho phát triển xã hội. “Sức khỏe nhân sinh, tạo phúc xã hội”. Từ vài thập kỷ qua, thực phẩm chức năng phát triển nhanh chóng trên toàn thế giới.
Chúng ta đã biết, sự phát hiện sử dụng năng lượng và vai trò các thành phần dinh dưỡng thiết yếu đã giúp loài người từng bước hiểu được các bí mật của thức ăn và kiểm soát được nhiều bệnh tật và vấn đề sức khoẻ liên quan. Cùng với sự già hoá dân số, tuổi thọ trung bình tăng, lối sống thay đổi, các bệnh mãn tính liên quan đến dinh dưỡng và thực phẩm, lối sống ngày càng tăng. Việc chăm sóc, kiểm soát các bệnh đó đặt ra nhiều vấn đề lớn cho y học, y tế và phúc lợi xã hội. Người ta thấy rằng, chế độ ăn có vai trò quan trọng trong việc phòng ngừa và xử lý với nhiều chứng, bệnh mạn tính.
Một trong những căn bênh được quan tâm nhiều khi sử dụng các dòng sản phẩm chức năng để hỗ trợ đó là căn bệnh đái tháo đường. Chính vì những lợi ích thiết thực mà sản phẩm thực phẩm chức năng mang lại cho con người nói chung và với bênh đái tháo đường nói riêng mà nhu cầu được sử dụng các sản phẩm đó ngày một tăng cao cả về chất lượng và số lượng. Trà là một loại sản phẩm rất quen thuộc với người Việt Nam nói riêng và người Á Đông nói chung. Trà được sử dụng trên toàn thế giới và được xem là một loại nước uống mang tính toàn cầu.
Do đó đây là loại thức uống phổ biến thứ hai sau nước lọc. Hiện nay, việc dùng trà không chỉ là thói quen ẩm thực mà còn dùng để hỗ trợ cho sức khỏe vì thế trên thị trường sản phẩm trà rất đa dạng và nguyên liệu chế biến trà không còn bó hẹp trong lá trà xanh mà đã được đa dạng hóa từ các nguyên liệu khác như khổ qua, hoa cúc, hoa artiso, cây cỏ ngọt, diệp hạ châu, hà thủ ô, v.v… Cóc đỏ (Lummnitzera littorea) là một cây thuộc họ Bàng, trong cây Cóc đỏ có một hàm lượng lớn flavonoid là các hợp chất có hoạt tính sinh học như chất chống oxy hóa, ức chế enzyme, có tác dụng bảo vệ cơ thể, ngăn ngừa xơ vữa động mạch, tai biến mạnh, não hóa, thoái hóa gan, tổn thương do bức xạ. Trên cơ sở đó, đề tài: “NGHIÊN CỨU QUY TRÌNH CHẾ BIẾN TRÀ HÒA TAN TỪ LÁ CÓC ĐỎ (LUMNITZERA LITTOREA) VÀ KHẢO SÁT HOẠT TÍNH SINH HỌC CỦA SẢN PHẨM” được thực hiện góp phần phát triển các loại dòng sản phẩm trà có hoạt tính sinh học. 1 PHẦN I: TỔNG QUAN 1.
Tổng quan về chi Lumnitzera 1. Đặc điểm chung 1. Phân loại Chi Lumnitzera là một chi sống trong rừng ngập mặn. Theo tác giả Phạm Hoàng Hộ , ở Việt Nam chi Lumnitzera gồm hai loài là Cóc đỏ (Lumnitzera littorea) và Cóc [25] trắng (Lumnitzera racemosa).
Đặc điểm hình thái Cây ưng sáng, chịu mặn và thường mọc ở rừng ngập mặn ven biển, cửa sông, ven các đảo. Tái sinh hạt và tái sinh chồi đều tốt. Mùa hoa tháng 6 - 8, mùa quả tháng 8 - 10. chi này có hai loài có hình dạng thực vật tương tự nhau là hai cây Cóc đỏ (Luminitzera littorea) và cây Cóc trắng (Lumnitzera racemosa) có đặc điểm giống nhau, chỉ khác về màu cánh hoa, mùa lá và màu của vỏ cây.
Thân Cây thân gỗ, cao 10 – 20 m, vỏ màu nâu thẫm, có vết nứt, mặt trong vỏ màu nâu đỏ,phần giác màu vàng,lõi màu nâu thẫm, cành nhánh hình khúc khuỷu, vuông, khi non màu đỏ nhạt, có nhiều mặt do những vết sẹo của lá rụng để lại. [15] Lá Lá mọc cách, tập trung ở đầu cành,phiến lá hình trứng ngược, mặt trên lá bóng, dài 2 – 8 cm, rộng 1- 2.5cm, đỉnh tròn có khía tai bèo, gốc hình nêm, ít gân, cuống đài 0.5 – 1 cm, lá tích nhiều muối.[3] Rể Rễ có khả năng đâm sâu vào lớp mùn dày. Rễ khí thường không phát triển thành hệ rễ trên mặt đất như các cây khác. Tuy nhiên trong môi trường ẩm thấp, rễ khí có thể phát triển thành hệ rễ vòng trên mặt đất dạng mẫu rễ nhỏ.
2 Hoa Cụm hoa hình chum ở đầu cành, dài 1. Hoa có cuống ngắn, đài 1. Đài hình ống tạo thành đĩa chứa mật. Tràng 5 thùy, hình bầu dục thuôn, dài 5 – 6 mm, đứng, màu đỏ, rụng.
Một cặp bao hoa dạng vảy đính vào ống đài. Nhị 5 – 10, dài gấp đôi cánh hoa, nhụy hơi nhô ra khi hoa nở, vòi nhụy và đài bền. Bầu lô 5 lá noãn hợp, noãn nhỏ 3 – 5, đính noãn treo. Hoa thụ phấn nhờ chim đặc biệt là chim hút mật và những loài ăn mật.
Ong mật và ong vò vẽ cũng tham gia vào sự thụ phấn của hoa.[3]Quả hạch, 1 hạt, hình trứng dài 3 – 4cm, với nhiều sự cương mô của vỏ quả nằm rải rác, vỏ quả trong cứng. Quả non màu nâu đỏ, quả chín rụng, mùa ra hoa vào tháng 6 đến tháng 8, mùa quả chín vào tháng 8 đến tháng 10. Phân bố Cây Cóc đỏ (Lumnitzera littorea) và cây Cóc trắng (Lumnitzera racemosa) là loài cây ngập mặn, phân bố ở Châu Á và Châu Úc thuộc vùng nhiệt đới[3]. Ở Việt Nam, hai loài cây này phân bố ở các rừng ngập mặn cửa đông, ven biển nơi chỉ ngập triều cao hoặc ít ngập mặn như Cần Giờ, Cà Mau, Phú Quốc,.
Trước năm 2001, Cóc đỏ đã bị nhiều người dân khai thác rất nhiều. Vì thân cây Cóc đỏ khi già thường bị rỗng hoặc mối ăn, nên trước khi chặt cây, người ta thường đục lỗ trên thân cây để kiểm tra. Nhiều cây Cóc đỏ già nhưng không bị chặt, nhưng cũng bị chết do các vết đục quá sâu. Sau khi Vườn Quốc Gia Phú Quốc và khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ được thành lập thì công tác bảo vệ rừng đã thực hiện khá tốt, phần nào ngăn chặn được việc khai thác cây Cóc đỏ tại Phú Quốc và Cần Giờ.
Hiện nay, tại Phú Quốc và khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ đang tiến hành một số dự án ươm và trồng Cóc đỏ để nhân giống phát triển loài cây này. Điều kiện thiên nhiên của hai địa điểm này có môi trường rất phù hợp phát triển Cóc đỏ. Vì những tác động của các yếu tố tự nhiên và con người mà các quần thể của các loài cây này đã bị thay đổi, bị chia cắt và hủy diệt ngày càng cao. Ở Trung Quốc, loài Lumnitzera littorea, là một loài đang bị đe dọa, và chúng đã được trồng lại với một vùng nhỏ ở đảo Hainan.
Ở Việt Nam, loài Lumnitzera littorea là loài có tên trong sách đỏ với cấp báo động V. Hiện nay, cây Cóc đỏ được chính thức phát hiện 3 Cần Giờ - thành phố Hồ Chí Minh, Phú Quốc, Rạch Giá – Kiên Giang, Côn Đảo nhưng số lượng không nhiều. Giá trị Màu cánh hoa đẹp có tiềm năng trong nghệ thuật, trang trí. Gỗ tốt, có thể nằm trong bùn và nước ngập mặn lâu năm mà không bị mục nên sử dụng làm cột, cừ hay người dân địa phương dùng làm công cụ lao động như cán cuốc[15] và các vật dụng gia đình,.
ngoài ra, nếu loài cây này được đem vào hầm than sẽ cho nhiệt cao và chưa ít NaCl hơn nên không làm hư máy móc. Trong chiến tranh thế giới thứ 2, than của loài cây này được sử dụng để chạy máy tàu và xe ở Hậu Giang thay cho xăng. [7] Chiết xuất từ lá dùng để chữa nấm vòm họng ở trẻ con. Lá còn được sử dụng như một phương thuốc để chữa bệnh tiêu chảy ở xứ nóng, bệnh viêm ruột, loét miệng.
Còn ở các vùng miền Nam nước ta người dân dùng chòi non để làm rau ăn. Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước 1. Trong nước: - Năm 2018, Phạm Thị Huyền và cộng sự [2] đã phân lập mười một hợp chất từ lá và thân của Lumnitzera littorea: including β-sitosterol, quercetin), stigmasterol, 1,3-dihydroxy-2-methyl-5-tridecylbenzene, 1,3-dihydroxy-5-nonadecyl benzene, 1,3- di-O-acethyl-2-methyl-5-tridecylbenzene, astragalin, 1-acethyl-D-mannitol, D- mannitol, hexa-O-acethyl-D-manitol, 2,3,4,6-tetra-O-acethyl-α-D-glucopyr anosyl- 2′,3′,4′,6′-tetra-O-acethyl-β-D-glucopyranosyl and 1,3,4,5-tetra-O-acethyl fruc topyranose. - Năm 2019 nhóm nghiên cứu chúng tôi đã cô lập được một loại flavone glycoside mới là lumnitzerone cùng với chín flavonoid được phân lập từ lá của Lumnitzera littorea: lumnitzerone, quercetin, quercitrin, myricetin, myricitrin, naringenin, chrysoeriol, pilloin, afzelin và myricetin 3-O-(4″-O-galloyl)-α-L- rhamnopyranoside, tất cả các hợp chất đều có khả năng ức chế enzyme α-glucosidase cao hơn so với Arbose là đối chứng dương, trong đó cao nhất là naringenin với IC50 là 1.
Ngoài nước - Năm 2011, Shahbudin S.[13] Và cộng sự đã chứng minh hoạt tính n-haxane từ lá cây Cóc đỏ (Lumnitzera littorea) có khả năng kháng khuẩn. Khả năng ức chế sự tăng trưởng của vi khuẩn tại nồng độ 0. Tổng Quan Về Đông Trùng Hạ Thảo 1. Phân loại [9] Đông trùng hạ thảo (Chinese caterpillar fungus), còn gọi là trùng thảo, hạ thảo đông trùng hay đông trùng thảo, là một loại đông dược quý có bản chất là dạng ký sinh của loài nấm Cordyceps sinensic (thuộc nhóm Ascomycetes) trên cơ thể sâu Hepialus fabricius.
Phần dược tính của đông trủng hạ thảo đã được chứng minh là do các chất chiết xuất từ nấm Cordyceps sinensic. 2: Đông trùng hạ thảo 5 Tên gọi "đông trùng hạ thảo" là xuất phát từ quan sát thực tế khi thấy vào mùa hè nấm Cordyceps sinensic mọc chồi từ đầu con sâu nhô lên khỏi mặt đất. Vào mùa đông thì nhìn cặp cá thể này giống con sâu (côn trùng), còn đến mùa hè thì chúng trông giống một loài thực vật (thảo mộc) hơn. Riêng tên “Đông trùng hạ thảo” được ghi chép là vị thuốc xuất hiện lần đầu tiên trong cuốn “Bản thảo cương mục” vào đời nhà Minh của danh y Lý thời Trân (năm 1575), Đông Trùng Hạ Thảo được xếp ngang với nhân sâm về công năng chữa bệnh – thuộc vào loại toàn 1.
Nguồn gốc hình thành: [9] Đông trùng hạ thảo là hiện tượng loài sâu thuộc chi Hepialus trong tổng Họ Cánh bướm (Lepidoptera) bị kí sinh bởi một loài nấm túi có tên khoa học là Cordyceps sinensis (Berk.) thuộc tổng họ Nang Khuẩn (Ascomycetes). Thường gặp nhất là sâu non của loài Hepialus Fabricius hoặc Hepialus Armoricanus. Ngoài ra còn 40 loài khác thuộc chi Hepialus cũng có thể bị Cordyceps sinensis ký sinh. Các loài nấm này phân bố rộng ở châu Á và châu Úc với trung tâm đa dạng là vùng Đông Á, đó là các vùng cao nguyên cao hơn mặt biển từ 4000 đến 5000m như: Tây Tạng, Tứ Xuyên, Thanh Hi, Cam Túc, Vân Nam.