ĐẶT VẤN ĐỀ Trà hoa vàng hay còn gọi là Kim hoa trà được quý trọng bởi màu vàng độc đáo của hoa và được sử dụng phổ biến để pha trà. Đây là nguồn gen quý hiếm của chi Camellia L. Ở Việt Nam, Trà hoa vàng lần đầu tiên được người Pháp phát hiện ở miền Bắc vào năm 1910. Tuy nhiên, cho đến những năm gần đây, Trà hoa vàng mới được quan tâm nghiên cứu và khai thác để sử dụng.
Mặc dù vậy, các nghiên cứu về thành phần hóa học và tác dụng sinh học của các loài Trà hoa vàng còn rất hạn chế. Trong số các loài Camellia, Camellia chrysantha (Hu) Tuyama là loài được sử dụng rộng rãi tại Trung Quốc và Việt Nam với nhiều nghiên cứu đã được tiến hành và bằng sáng chế được công bố. Từ quan sát thực tế tại vùng trồng, vào mùa xuân, cây Trà hoa vàng thường có 1 - 2 đợt lá mới, những lá này thường có màu đỏ tím đến nâu đậm khác hẳn với màu xanh của lá bánh tẻ hay màu xanh vàng của lá trưởng thành. Trên thế giới đã có một số nghiên cứu về sự khác biệt về thành phần hóa học và tác dụng sinh học của lá cây ở những giai đoạn phát triển khác nhau.
Các nghiên cứu cho thấy hàm lượng flavonoid và anthocyanin trong lá non nhiều hơn đáng kể so với lá già và tạo ra sự khác biệt về tác dụng sinh học của chúng [27], [54]. Sự khác biệt này mang đến những giá trị kinh tế và cách sử dụng khác nhau cần được nghiên cứu và làm rõ nhằm khai thác có hiệu quả hơn nguồn gen dược liệu quý này. Từ thực tế đó, đề tài “Nghiên cứu thành phần hóa học, tác dụng chống oxi hóa in vitro của lá loài Trà hoa vàng Camellia chrysantha (Hu) Tuyama ở các giai đoạn phát triển” được thực hiện nhằm đạt được các mục tiêu sau: 1. Mô tả đặc điểm hình thái và giải phẫu của lá Trà hoa vàng ở các giai đoạn phát triển.
So sánh thành phần hóa học (định tính và định lượng) của lá Trà hoa vàng ở các giai đoạn phát triển trên 8 cá thể cây Trà hoa vàng khác nhau. Thử tác dụng chống oxi hóa của dịch chiết lá Trà hoa vàng ở các giai đoạn phát triển. Tổng quan về Trà hoa vàng 1. Vị trí phân loại Theo hệ thống phân loại của Takhtajan công bố năm 2009, Trà hoa vàng (Camellia chrysantha) có vị trí phân loại như sau [41]: Giới: Thực vật (Plantae) Ngành: Ngọc lan (Magnoliophyta) Lớp: Ngọc lan (Magnoliopsida) Phân lớp: Sổ (Dillenniidae) Bộ: Trà (Theales) Họ: Trà (Theaceae) Chi: Trà (Camellia) Tên Việt Nam: Trà hoa vàng.
Tên khoa học: Camellia chrysantha (Hu) Tuyama. Tên khác: Kim hoa trà, Trà trường thọ, Trà rừng. Đặc điểm thực vật Trà hoa vàng là loài có thân gỗ nhỏ, chồi và cành non có lông mịn thưa; cành già màu nâu, nhẵn. Lá bao chồi 5 - 9, thường là 6, hình elip, lớn dần từ dưới lên, mặt ngoài màu hồng nhạt; mặt trong màu hồng nhạt hơn, nhẵn, mép nguyên.
Lá đơn, mọc so le, không có lá kèm. Cuống lá tương đối ngắn, dài khoảng 0,6 - 0,7 cm, lõm ở mặt trên. Hoa đều, lưỡng tính, mọc đơn độc ở đầu cành hoặc nách lá, màu vàng, đường kính khi nở khoảng 3 cm. Cuống hoa rất ngắn, gần như không thấy.
Lá bắc 6 - 10, có dạng hình móng, xếp thành 2 dãy, phủ lên nhau, lớn dần từ dưới lên trên, kích thước 0,3 - 1,4 cm, mặt ngoài và mặt trong có lông trắng mịn. Cánh hoa 10 - 20, các cánh phía trong dính với nhau và dính vào vòng nhị ngoài. Bộ nhị nhiều, dính với nhau ở gốc chỉ nhị. Các chỉ nhị ở vòng ngoài của bộ nhị dài khoảng 2,4 cm, không có lông; chỉ nhị màu vàng, mang bao phấn 2 ô.
Bộ nhụy gồm 3 lá noãn dính nhau tạo thành bầu trên 3 ô, có dạng hình cầu, màu xanh nhạt, nhẵn; vòi nhụy 3, rời, màu vàng [6], [8]. Quả nang to 3 cm, vỏ quả dày 3 mm [58]. Thời điểm nở nhiều hoa là tháng 11 âm lịch và kéo dài đến tháng 3 mới tàn. Từ tháng 1 đến tháng 3 là khi mà cây ra nhiều lá mới [1].
Phân bố, sinh thái Trên thế giới Loài Camellia chrysantha được tìm thấy lần đầu ở tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc bởi Hu (1965). Trà hoa vàng phân bố chủ yếu ở Tây Nam Trung Quốc và miền Bắc Việt Nam [48], [49]. Hiện nay, Trà hoa vàng đã được du nhập vào Nhật Bản, Úc và Bắc Mỹ [47]. Ở Việt Nam Ở Việt Nam, loài C.
chrysantha được tìm thấy ở Quảng Ninh (Ba Chẽ), Nghệ An (Quế Phong), Vĩnh Phúc (Tam Đảo), Ninh Bình, Đà Lạt, Tuyên Quang, Ba Vì, Hà Nội, Đồng Nai, Thái Nguyên. Phụ thuộc vào vị trí gieo trồng và phân bố dược liệu, Trà hoa vàng được chia thành các loại: - Trà hoa vàng Ba Chẽ - Trà hoa vàng Quảng Ninh - Trà hoa vàng Quế Phong - Trà hoa vàng Nghệ An - Trà hoa vàng Đà Lạt - Trà hoa vàng Lâm Đồng - Trà hoa vàng Tam Đảo - Trà hoa vàng Vĩnh Phúc Trong các loại trên, Trà hoa vàng Ba Chẽ, Quảng Ninh được ưa chuộng nhất bởi hương vị thơm ngon và hàm lượng lớn những hoạt chất có trong dược liệu [57]. Trà hoa vàng ưa khí hậu nóng ẩm, sinh sống trong các khu rừng ẩm có độ cao dưới 500 m. Thường mọc ở nơi đất tơi xốp bên bờ suối có bóng râm, thoát nước tốt.
Bộ phận dùng, thu hái và chế biến Cũng như các loài Trà hoa vàng khác, lá, hoa và búp Camellia chrysantha được dùng để làm thuốc, trà,… [58]. Thành phần hóa học Trà hoa vàng là một trong những vị thuốc quý bởi có chứa trên 400 thành phần hóa học và không độc hại. Các hợp chất đã được xác định trong loài C. chrysantha được phân lập chủ yếu trên lá và hoa của loài này.
Theo nhiều tài liệu được báo cáo, các nhóm chất có mặt trong loài C. chrysantha là các polysaccharid, polyphenol, flavonoid, saponin, acid amin và hợp chất dễ bay hơi [28], [46]. Ngoài ra, kẽm hữu cơ tự nhiên, selen, molypden, gecmani, mangan, vanadi và các nguyên tố vi lượng khác và vitamin đã được báo cáo là có trong loài C. Theo báo cáo của Lin và cộng sự (2010), hàm lượng các thành phần hóa học đã được xác định trong hoa và lá của C.
chrysantha được phân tích ở Bảng 1. Hàm lượng thành phần hóa học trong hoa và lá Camellia chrysantha STT Tên thành phần Hàm lượng trong hoa Hàm lượng trong lá 1 Đường hòa tan (%) 39 5,2 2 Chất xơ thô (%) 30 32,6 3 Protein thô (%) 5,6 5,6 4 Lipid thô (%) 1,94 1,99 5 Tro (%) 5,13 7,0 6 Flavonoid (%) 8,5 0,23 7 Polyphenol (%) 4,42 2,1 8 Saponin (%) 7,0 5,0 9 Vitamin C (mg/100 g) 90 Chưa xác định 10 Vitamin E (mg/100 g) 520 Chưa xác định 11 Tổng acid amin tự do (mg/100 g) 80,8 Chưa xác định Bên cạnh đó, các báo cáo trước đó cũng chỉ ra rằng không phát hiện thấy caffein trong lá và hoa của C. Điều này cho thấy sự khác biệt lớn của loài C. chrysantha nói riêng, và các loài Trà hoa vàng nói chung đối với nhóm trà xanh thông thường.
Đó cũng là cơ sở dùng lá và hoa của Trà hoa vàng thay thế cho trà khử caffein hiện tại để có thể tránh được một số tác dụng phụ không mong muốn mà caffein tạo ra, bên cạnh hàm lượng chất chống oxy hóa và lợi ích sức khỏe của chúng. Các hợp chất đã phân lập được từ loài C. chrysantha được trình bày ở Bảng 1. Các hợp chất đã được phân lập từ loài C.
chrysantha STT Tên hợp chất Bộ phận TLTK Các dẫn chất polyphenol Flavonoid 1 Quercetin Hoa, lá [34], [45], [52] 2 Quercetin - 7 - O - β - D - glucopyranosid Hoa [37], [[38] 3 Quercetin - 3 - O - β - D - glucopyranosid Hoa [37], [38] 4 Quercetin - 3’ - O - β - D - glucopyranosid Hoa [15] 5 Quercetin - 3 - O - methyl ether Hoa [34] 6 Rutin Hoa, lá [37], [38] 7 Vitexin Hoa, lá [15], [37], [40], [47] 8 Isovitexin Hoa [47] 9 Kaempferol Hoa, lá [34], [47] 10 Kaempferol - 3 - O - β - D - glucopyranosid Hoa [37] 11 Kaempferol - 3, 7 - O - α - L - di - rhamnosid Lá [23] 12 Luteolin Lá [52] 13 Vicenin - 2 Lá [40] 14 6 - C - pentosyl - 8 - C - hexosyl apigenin Lá [40] 15 Catechin Hoa, lá [47] 16 Epicatechin Hoa, lá [34], [47] Tanin 17 Ellagitannin Lá [40] 4 STT Tên hợp chất Bộ phận TLTK 18 Proanthocyanidin dimer Lá [40] Các polyphenol khác 19 Acid gallic Lá [50] 20 Catechol Lá [50] 21 Acid chlorogenic Lá [50] 22 Acid protocatechin Hoa [[37] 23 Vanillin Hoa [37] Polysaccharid 24 TPS3 - 1 Lá [23] Triterpenoid 25 Acid oleanolic Hoa, lá [36] Phytosterol 26 Daucosterol Hoa [37] 27 β - sitosterol Hoa [37] Nhóm tinh dầu 28 2 - (oxo - 18 - alkyl) ethanol Lá [55] 29 2 pentadecan Lá [55] 30 1 - iodo - hexadecan Lá [55] Diarylheptanoid 31 Platyphyllosid Lá [39] Carotenoid 32 Neoxanthin Hoa [38] 1. Polyphenol Hợp chất phenol là nhóm các hợp chất hóa học mà trong công thức hóa học có chứa nhóm chức hydroxyl (- OH) gắn với vòng hydrocarbon thơm. Các hợp chất này rất phổ biến trong thực vật. Tùy thuộc vào số lượng và vị trí tương hỗ của các nhóm này mà các tính chất hóa lý và hoạt tính sinh học thay đổi [5].
Thành phần polyphenol của Trà hoa vàng rất đa dạng, chủ yếu thuộc nhóm flavonoid và tanin. Các polyphenol này chiếm từ 20 - 35% trọng lượng trà khô [1]. Catechin (15), epicatechin (16), kaempferol (9), isovitexin (8), vitexin (7) và quercetin - 7 - O - β - D - glucopyranoside (2) đã được xác định và định lượng trong lá C. chrysantha bằng phương pháp LC - ESI - MS.
Hàm lượng catechin và epicatechin chiếm số lượng lớn nhất và thay đổi lần lượt từ 32,23 g/g đến 44,89 g/g và từ 36,93 g/g đến 55,56 g/g [47]. Bên cạnh vitexin và quercetin - 7 - O - β - D - glucopyranoside, ba flavonoid glycoside khác, quercetin - 3' - O - β - D - glucopyranoside (4), quercetin - 3 - O - β - D - glucopyranoside (3), và quercetin - 3 - O - rutinose, được phân lập từ dịch chiết ethyl axetat và các phần tan trong nước của hoa C. chrysantha thu hái tại Việt Nam [34], [45].