CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NGOÀI NƯỚC 1.1 Tình hình sử dụng các dược liệu trong hỗ trợ điều trị bệnh ung thư Theo thống kê của Viện nghiên cứu phòng chống ung thư, ước tính Việt Nam có khoảng 94.000 người chết vì ung thư/năm, tỷ lệ tử vong do ung thư tại Việt Nam đứng thứ 78/172 quốc gia được điều tra. Bên cạnh đó vấn đề đáng lo ngại là số người mắc bệnh ung thư ở Việt Nam đang có xu hướng ngày một tăng nhanh, từ 68.000 ca năm 2010 và dự kiến sẽ vượt 190.
Ở nam giới, ung thư phổi chiếm tỉ lệ mắc và tử vong hàng đầu, kế đó là dạ dày, gan, đại trực tràng. Ở nữ giới lần lượt là ung thư vú, dạ dày, phổi. Ung thư đều bắt đầu khi một nhóm tế bào trong cơ thể tăng trưởng vượt ngoài tầm kiểm soát. Tế bào ung thư cứ tiếp tục tăng lên thêm lấn át tế bào bình thường.
Điều này khiến cho cơ thể khó hoạt động hiệu quả như thường lệ. Ung thư có thể bắt đầu tại bất cứ chỗ nào trong cơ thể. Nơi bắt đầu có thể là vú, phổi, gan, kết tràng, và kể cả máu. Ung thư vú (UTV) là bệnh ung thư phổ biến nhất ở nữ giới.
Theo GLOBOCAN, ước tính năm 2018 trên thế giới có khoảng hơn 2 triệu ca ung thư vú mới mắc ở nữ và 627.000 ca tử vong. Tại Việt Nam, ung thư vú đứng hàng đầu trong những loại ung thư ở phụ nữ. Tỷ lệ mắc ung thư vú trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng có xu hướng tăng trong những năm gần đây. Ung thư vú chiếm tỷ lệ 11,5% là bệnh ung thư hàng đầu ở phụ nữ.
Ung thư vú là tình trạng bệnh lý do tế bào tuyến vú phát triển không kiểm soát được, tạo ra các khối u ác tính, có khả năng phân chia mạnh, xâm lấn xung quanh và di căn xa. Khối u ác tính là tập hợp các tế bào ung thư có thể sinh sôi rất nhanh ở các mô xung quanh, hoặc có thể di căn các bộ phận khác trong cơ thể. Ung thư vú hầu hết xuất hiện ở nữ giới. Tuy nhiên, trong một số ít trường hợp, nam giới cũng có thể mắc bệnh này.
Tuyến vú của phụ nữ được hình thành từ các tiểu thùy (tuyến tiết sữa), ống dẫn (các ống nhỏ dẫn sữa từ tiểu thùy tới núm vú) và mô đệm (mô mỡ và mô liên kết xung quanh các ống dẫn và tiểu thùy, các mạch máu và mạch bạch huyết). Ung thư vú phần lớn bắt Vietnam Academy of Science and Technology 10 nguồn từ các tế bào ống dẫn (ung thư ống dẫn). Một số bắt nguồn từ tế bào tiểu thùy (ung thư tiểu thùy), chỉ một lượng nhỏ bắt nguồn từ các mô khác.Các triệu chứng phát hiện ung thư vú như: - Đau vùng vú: cảm giác đau của người bệnh có thể là đau dấm dứt không thường xuyên, thi thoảng đau nhói theo kiểu kim châm. - Chảy dịch đầu vú: một số bệnh nhân có biểu hiện chảy dịch đầu núm vú, có thể chảy dịch lẫn máu.
- Người bệnh cũng có thể tự sờ thấy khối u vùng vú hoặc hạch vùng hố nách. - Đối với các khối u vú giai đoạn muộn có thế thấy các triệu chứng do khối u vú xâm lấn gây lở loét, hoại tử ra ngoài da, gây chảy dịch, mùi hôi thối. - Triệu chứng của các cơ quan đã di căn: nhiều người bệnh đến khám với các triệu chứng của bệnh giai đoạn muộn, đã di căn đến các cơ quan khác trong cơ thể như: di căn xương gây đau xương, di căn não gây đau đầu, buồn nôn, chóng mặt,. Ngoài ra, người bệnh có thể có các triệu chứng toàn thân như mệt mỏi, chán ăn, ăn kém, gầy sút cân, đôi khi biểu hiện sốt.
Để xác định các giai đoạn ung thư phải tiến hành các xét nghiệm như chụp cắt lớp vi tính (computed tomography – CT), chụp cộng hưởng từ (magnetic resonance imaging – MRI), chụp cắt lớp (positron emission tomograpgy – PET),… để bác sĩ xác định giai đoạn ung thư. Những phương pháp điều trị ung thư vú hiện nay như phẫu thuật loại bỏ khối u, xạ trị, hóa trị, điều trị trúng đích và điều trị miễn dịch. Bên cạnh các phương pháp điều trị ung thư vú bằng Tây y như phẫu thuật, hóa trị, xạ trị… Trong dân gian Việt Nam vẫn có những bài thuốc Nam chữa ung thư vú. Các bài thuốc Nam này đều được ghi lại trong các tài liệu cả chính thống, cả truyền miệng.
Đã được một số bệnh nhân áp dụng và phản hồi rằng có kết quả khá tốt trong việc điều trị bệnh ung thư. Sau đây là 3 bài thuốc Nam chữa ung thư vú phổ biến được nhiều người sử dụng: (1) Bài thuốc Nam chữa ung thư vú từ cây đu đủ. Theo Tiến sĩ Võ Vietnam Academy of Science and Technology 11 Văn Chi – Tác giả cuốn sách Từ điển cây thuốc Việt Nam chia sẻ bài thuốc chữa ung thư vú bằng cây đu đủ. Cách làm như sau: Hái lá và cuống đu đủ tươi rửa sạch.
Sau đó sắt khúc nhỏ, cho vào nồi thêm nước rồi đun sôi lên. Để nguội rồi uống, cũng có thể nấu thành nước cô đặc để uống. Uống 3 lần mỗi ngày. Mỗi lần một cốc to (khoảng 300 ml).
Uống thêm 3 thìa cà phê mật mía mỗi ngày, mỗi lần một thìa. Nếu uống nước lá đu đủ kết hợp với xạ trị và uống bột củ tam thất. Nó sẽ đem lại hiệu quả điều trị ung thư vú càng nhanh.Nước lá đu đủ phải uống liên tục trong 15-20 ngày mới có kết quả. (2) Bài thuốc Nam chữa ung thư vú bằng cây cúc sữa.
Trong Đông Y, cây cúc sữa là loại cây thân thảo mọc hàng năm, có vị đắng, tính hàn. Chúng có khả năng giải độc rất hiệu quả. Để điều trị ung thư vú bằng cây cúc sữa, cách làm như sau: Cách 1:Dùng thân và lá cây cúc sữa tươi đem rửa sạch. Tiếp tục giã nát và vắt lấy nước cốt.
Sau đó cho thêm nước sôi và chút rượu trắng vào đun. Mỗi ngày uống nước này hai đến ba lần. Cách 2: Dùng cành lá và cây cúc sữa tươi rửa sạch, đem sắc với nước cô đặc. Sau đó thêm chút nước sôi và chút rượu trắng.
Ngày uống 2 lần vào buổi sáng và buổi tối. (3) Bài thuốc Nam chữa ung thư vú bằng củ cải trắng + cà rốt + ngưu bang. Nguyên liệu bao gồm: 1kg ngưu bàng tươi, 1kg cà rốt, 250g ngưu bàng khô, 350g củ cải trắng. Đem tất cả nguyên liệu trên đun sôi với 3 lít nước.
Chú ý đun nhỏ lửa trong trong vòng 3 giờ đồng hồ. Sau đó, đem ra cả nước và cái xay hoặc nghiền ra lấy nước. Ngày uống 2 lần, mỗi lần uống 150ml nước thuốc pha thêm 100ml nước nguội. Ngoài các bài thuốc kể trên thì hiện nay còn nhiều cây dược liệu quý đã được các nhà khoa học đang nghiên cứu về hoạt tính kháng ung thư vú.
Tuy nhiên, các bài thuốc Nam chữa ung thư vú chỉ nên được sử dụng như một phương pháp hỗ trợ điều trị. Bệnh nhân ung thư vú có thể sử dụng nếu được sự đồng ý của bác sĩ điều trị. Nếu bài thuốc đó lành tính thì vẫn có thể để bệnh nhân kết hợp sử dụng trong quá trình điều trị bằng Tây y. Tuy nhiên các biện pháp điều trị chính vẫn là phẫu thuật, hóa trị và xạ trị tại bệnh viện.
Các nghiên cứu về thành phần hóa học của cây Lan Kim Tuyến Cây Lan Kim Tuyến (Anoectochilus sp.) hay còn gọi là Lan Gấm, cây Kim Cương thuộc họ Orchidaceae, gồm bốn chi: Ludisia, Anoectochilus, Goodyera, Macodes và trên 50 loài khác nhau. Trong đó chi Anoectochilus có Vietnam Academy of Science and Technology 12 số loài phong phú nhất (30 - 40 loài), một số loài có giá trị dược liệu cao và được thương mại cao nhiều thế giới hiện nay như Anoectochilus formosanus Hayata, Anoectochilus setaceus Blume, Anoectochilus roxburghii Lindl [3]. Mẫu cây Lan Kim Tuyến (Anoectochilus setaceus) Cây Lan Kim Tuyến là một trong những cây dược liệu quý tại Việt Nam và trên thế giới do tác dụng dược lý đa dạng và giá trị kinh tế cao. Theo Đông y, Lan Kim Tuyến tươi hoặc khô đun sôi trong nước và lấy nước uống dùng điều trị đau ngực và đau bụng [4], bệnh tiểu đường, viêm thận [5], sốt, tăng huyết áp, liệt dương, rối loạn gan, lá lách và đau phế mạc [6].
Cây Lan Kim Tuyến tươi được áp dụng bên ngoài như là một loại thảo mộc điều trị rắn cắn [6]. Ở Malasia, những cây khác thuộc chi Anoectochilus được dùng để trị lao phổi. Ở Đài Loan và Trung Quốc chi Anoectochilus thường được gọi là “Jewel Orchids” và “King of Medicine” vì những tán lá đẹp và tác dụng dược lý của loài cây trong chi này [7]. Qua nghiên cứu, các nhà khoa học đã chứng minh trong cây Lan Kim Tuyến có chứa các hợp chất thứ cấp như axit stearic, axit palmitic, axit succinic, axit p-hydroxy cinnamic, o-hydroxy phenol, beta- sitosterol, daucosterol, gastrodin (4-(β-D-glucopyranosyl oxy) benzyl alcohol), gastrodigenisn gastrodigenin (p-hydroxybenzyl alcohol), và Kinsenoside (3- (R)-3-β-D-glucopyranosyloxybutanolide)… Các hợp chất này có thể thu nhận thông qua cao chiết của cây Lan Kim Tuyến.
Nghiên cứu của He cho thấy cao chiết phân đoạn CHCl3 của loài Lan Kim Tuyến Anoectochilus roxburghii có chứa một số hợp chất như p-hydroxybenzaldehyd, axit ferulic, quercetin, daucosterol, cirsilineol [8]. Trong khi đó, cao chiết phân đoạn Hexan có chứa các hợp chất sorghumol, friedelin, axit palmitic, hỗn hợp 2 sterol (24- Vietnam Academy of Science and Technology 13 isopropenylcholesterol và 26-methylstigmasta-5,22,25,(27) trien-3-beta-ol), sitosterol, stigmasterol, campesterol. Trong đó, sorghumol, friedelin là những hợp chất lần đầu tiên được tìm thấy trong một loài thuộc chi Anoectochilus. Tương tự, trong một nghiên cứu khác của cùng nhóm tác giả cũng phát hiện thấy một số hợp chất flavonoid glucosid mới trong loài này như quercetin- 7-O-β-D-[6''-O-(trans-feruloyl)]-glucopyranosid, 8-C-p - hydroxybenzylquercetin, isorhamnetin-7-O-β-D-glucopyranosid, isorhamnetin- 3-O-β-D-glucopyranosid, kaempferol-3-O-β-D-glucopyranosid, kaempferol-7- O-β-D-glucopyranosid, 5-hydroxy-3',4',7- trimethoxyflavonol-3-O-β-D- rutinosid, và isorhamnetin-3-O-β-D-rutinosid.
Trong các hợp chất nêu trên, quercetin-7-O-β-D-[6''-O-(trans-feruloyl)]- glucopyranosid có hoạt tính oxy hóa mạnh nhất [9]. Trong khi đó, nghiên cứu của Liu phát hiện thấy hai dẫn xuất 3-hydroxybutanolid mới (kinsenbenol và kinsendiosid) và một flavonoid glucosid mới (roxburosid) trong cao chiết loài Lan Kim Tuyến Anoectochilus roxburghii [10]. Nghiên cứu Huang cho thấy hợp chất ergosterol và stigmasterol được phân tách từ loài Lan Kim Tuyến Anoectochilus roxburghii bằng phương pháp sắc ký phân bố ngược dòng tốc độ. Ergosterol và stigmasterol là hai phytosterol phổ biến nhất trong cây thuốc cổ truyền ở Trung Quốc.
Đây là hai hợp chất sterol chính của loài Lan Kim Tuyến và được chứng minh có nhiều hoạt tính sinh học quan trọng [11]. Tương tự, bằng phương pháp HPLC-ELSD, nghiên cứu của Wan [12] xác định hàm lượng Kinsenosid trong dược liệu Lan Kim Tuyến Anoectochilus roxburghii .