ĐẶT VẤN ĐỀ Nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa quanh năm nóng ẩm, có hệ thực vật vô cùng phong phú và đa dạng. Từ xa xưa, cha ông ta đã sử dụng dược liệu làm thuốc chữa bệnh rất hiệu quả. Ngày nay, những hợp chất tự nhiên có hoạt tính sinh học được phân lập từ cây cỏ đã được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực, trong đó ngành Dược dùng để sản xuất thuốc phòng và chữa bệnh. Vì vậy, nguồn cây thuốc dân gian, cũng như kinh nghiệm sử dụng phong phú của đồng bào các dân tộc vẫn là kho tàng quý giá để khám phá, tìm kiếm nhiều loại thuốc mới.
Ở Việt Nam, cây Thuỷ bồn thảo thuộc họ Thuốc bỏng - Crassulaceae, được người dân tộc H’Mông sử dụng để tắm cho trẻ em rôm sẩy, người bị mẩn ngứa, toàn cây dùng sắc uống điều trị viêm gan hoàng đản, hầu họng sưng đau, mụn nhọt, rắn độc cắn, đòn ngã tổn thương [3], [7]. Cây Thủy bồn thảo phân bố hẹp, khả năng tồn tại và phát triển trong tự nhiên yếu, nên được ghi trong sách đỏ Việt Nam với cấp đánh giá ‘đang nguy cấp’ (E) phân hạng VU B1+2a. [2] Với mục đích góp phần nghiên cứu về đặc điểm thực vật, thành phần hóa học cũng như một số tác dụng sinh học của cây Thuỷ bồn thảo, chứng minh kinh nghiệm sử dụng vị thuốc trong dân gian, nhất là tác dụng chống viêm, điều trị viêm gan, xơ gan, bảo vệ gan,… Nghiên cứu sinh lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm thực vật, thành phần hóa học và một số tác dụng sinh học của cây Thuỷ bồn thảo (Sedum sarmentosum Bunge), Crassulaceae” với các mục tiêu sau: 1. Mô tả được đặc điểm thực vật, vi phẫu thân và định tính được các nhóm chất có trong cây Thuỷ bồn thảo.
Xác định được các nhóm hợp chất chủ yếu, phân lập và xác định cấu trúc một số hợp chất có trong cây Thuỷ bồn thảo. Đánh giá được độc tính cấp, độc tính bán trường diễn, tác dụng bảo vệ gan của cao toàn phần Thuỷ bồn thảo và khả năng chống ung thư cổ tử cung của một số hợp chất phân lập được. Tổng quan về chi Sedum L. Vị trí phân loại, đặc điểm thực vật và phân bố của chi Sedum L.
Vị trí phân loại chi Sedum L. Vị trí phân loại chi Sedum theo hệ thống phân loại APG IV(2016) [10] như sau: Giới thực vật (Plantae) Ngành Thực vật có hoa; Mộc lan; Hạt kín (Magnoliophyta) Lớp hai lá mầm (Magnoliopsida) Bộ Tai hùm, Thường sơn (Saxifragales) Họ thuốc bỏng (Crassulaceae) Chi Sedum Bunge 1. Phân bố các loài thuộc chi Sedum L. Chi Sedum thuộc họ (Crassulaceae), phân bố chủ yếu ở bán cầu bắc, một số nằm ở phía nam châu Phi và châu Mỹ.
Có khoảng 124 loài được trồng ở Trung Quốc [55]. Sedum là chi lớn nhất và phổ biến nhất trong họ Crassulaceae [132]. Chi này gồm các loại thảo mộc hàng năm và lâu năm, với lá và thân mọng nước và phân bố chủ yếu trong môi trường khô cằn ở vùng ôn đới đến cận nhiệt đới. Phân bố nhiều nhất ở Địa Trung Hải, Trung Mỹ, Hymalaya và Đông Á [117], [119], [116].
Sự đa dạng của nó cao nhất ở vùng Địa Trung Hải, Trung Mỹ, dãy Hymalaya và Đông Á [66], [132]. Số lượng loài trong các quốc gia Đông Á như sau: Trung Quốc có 49 loài (27 loài đặc hữu) với hai phân loài và một giống. Nhật Bản 17 loài (năm loài đặc hữu) với bốn phân loài và ba giống [47]. Hàn Quốc có bảy loài (không có loài đặc hữu) [68] và Đài Loan 15 loài (13 loài đặc hữu) với một phân loài và hai giống.
Trong khi đó các loài thuộc chi Sedum châu Á tạo thành một nhánh riêng [86], [38]. Các loài thuộc chi Sedum châu Á đã chia thành ba chi: Sedum, Oreades và Filipes. Oreades phân bố chủ yếu ở dãy Hymalaya và phía Tây Trung Quốc [86]. Đài Loan có mức độ đặc hữu cao nhất ở Đông Á, nhiều loài có sự khác biệt về hình thái.
Các loài thuộc Sedum sinh sống ở các môi trường khác nhau như trên núi cao, dốc đá khô, thảm rừng, đá rêu, ký sinh trên thân cây, núi đá ven biển và đá vôi lộ thiên (hình 1.1), chủ yếu ở độ cao hơn 1. Chỉ có hai loài S. sekiteiense sống ở vùng ven biển và vùng núi đất thấp [80]. Những môi trường này khác nhau rất nhiều về mức độ chiếu sáng, độ ẩm và nhiệt độ, cũng như chất đất, độ mặn và các đặc điểm khác.
morrisonense trên đá núi cao. brachyrinchum trên đá núi cao C: S. truncastigmum trên thân cây D: S. triangulosepalum trên thân cây E: S.
brachyrinchum (mũi tên) cùng tồn tại trên đá núi cao. truncastigmum (mũi tên) cùng tồn tại trên một thân cây.1: Sự khác biệt về hình thái của lá và môi trường sống khác nhau của một số loài thuộc chi Sedum. Đặc điểm thực vật chi Sedum L. Chi Sedum thường là dạng cỏ sống dai, cây thảo mọng nước, nhẵn hoặc cây bụi thấp và nạc.
Lá mọc so le, đôi khi mọc đối hay dính liền, không có lá kèm, chủ yếu là nhẵn, ít lông. Thân rễ thường không phát triển, thỉnh thoảng cây có rễ mọc ở đốt thân. Thân cây thẳng hay bò lan trên mặt đất, đôi khi tụ thành 3 chùm giống như rêu, nhẵn hoặc có lông, gốc hiếm khi thân gỗ. Lá mọc xen kẽ, mọc đối hoặc mọc vòng, gốc thường phát triển (4-8 răng cưa ở Sedum rosthornianum và răng cưa rất nhỏ ở S.
Cụm hoa mọc ở đỉnh, hoặc nách lá, cụm hoa sim, thường là dạng ngù, có 1 đến nhiều hoa. Hoa thường lưỡng tính, hiếm khi đơn tính, chủ yếu là không đều (3-) 5 (- 9). Đài hoa và cánh hoa rời, hoặc hợp, chủ yếu là màu vàng, ít có màu trắng hoặc đỏ. Nhị hoa thường có kích thước gấp 2 lần cánh hoa, hiếm khi bằng số lượng với cánh hoa.
Lá noãn thường nhiều như cánh hoa, đôi khi ít hơn, không có hay ngắn và liên kết. Vòi nhụy ngắn hoặc dài. Quả nang nhiều hoặc ít hạt, hạt nhẵn hoặc có áo hạt, thường ít có rãnh. Khóa phân loại chi Sedum [134] 1a.
lá noãn và quả đại hướng trục lồi…3. lá noãn và quả đại hướng trục không lồi 2a. gốc lá có cựa; cánh hoa màu vàng, hiếm khi đỏ hoặc tím đỏ. gốc lá không có cựa; cánh hoa màu trắng hoặc tím đỏ, hiếm khi vàng.
Filipe Hoa thường lưỡng tính, đều. Đài có 3-5, ít khi 6-30 phần, với lá đài đôi khi dính thành đài chẻ tư. Cụm hoa xim, chùm hay bông. Hoa đều, mẫu 4 hoặc 5 thường lưỡng tính.
Cánh hoa bằng số lượng lá đài, có khi dính ở gốc, 5-20 nhị, ít khi 3-7, hay nhiều hơn, đính trên đài hay dính với tràng khi hoa cánh hợp. Lá noãn rời, có số lượng bằng số cánh hoa, rời hay dính ở phía dưới và kèm theo những vẩy nhỏ phẳng ở gốc, vòi đơn. Gồm nhóm số nhị bằng lá đài và cánh tràng, lá mọc đối và nhóm có số nhị gấp đôi cánh tràng và lá cách hay mọc đối. Họ này gần với họ Saxifragaceae, gồm 35-37 chi với 1.450 loài, phân bố rộng nhưng chủ yếu ở vùng ấm khô, nhất là Nam Phi [119].
Quả phức, gồm nhiều quả đại 1 ô, nhiều noãn, mở bởi một khe trên đường nối trong và cùng dính với nhau nhiều hay ít ở gốc, ít khi lá noãn rời hợp thành 4 bầu nhiều ô; hạt có phôi nhũ nạc. Quả hạt mở theo đường hàn ở bụng. Thế giới có 35 chi và 1.450 loài, phân bố toàn cầu, tập trung ở Nam Phi.1: Phân bố một số loài thuộc chi Sedum ở một số quốc gia [117] TT Tên loài Phân bố 1 S. hangzhouense Đông Trung Quốc 3 S.
jiulungshanense Đông Trung Quốc 4 S. kiangnanense Đông Trung Quốc 5 S. oligospermum Đông Trung Quốc 6 S. lineare Việt Nam, Đông Trung Quốc 7 S.
sarmentosum Việt Nam, Đông Trung Quốc 8 S. erici-magnusii Tây Trung Quốc 9 S. multicaule Tây Trung Quốc 10 Sedum sp. Tây Trung Quốc 11 S.
bulbiferum Nhật Bản 12 S. hakonense Nhật Bản 13 S. japonicum Nhật Bản 14 S. makinoi Nhật Bản 15 S.
mexicanum Nhật Bản 16 S. nagasakianum Nhật Bản 17 S. rupifragum Nhật Bản 18 S. satumense Nhật Bản 19 S.
subtile Nhật Bản 20 S. tosaense Nhật Bản 21 S. tricarpum Nhật Bản 22 S. zentaro-tashiroi Nhật Bản 23 S.
oreades Nepan Ở Việt Nam có 2 loài, Trường sinh lá tròn (Sedum lineare Thunb) và Thủy bồn thảo (Sedum sarmentosum Bunge) [2], [3], [7]. Theo các nhà thực vật thuộc Viện hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam [7], gần đây mới phát hiện loài Sedum rosea phân bố ở đỉnh Phan Si Pan, mọc rải rác hay thành đám, trong các kẽ đá, ở độ cao 2. Loài này 5 được phát hiện vào tháng 4 năm 1995, nhưng vì mẫu thu được không có hoa (hoặc quả) nên chưa xác định được tên khoa học chính xác. Đầu tháng 5 năm 2015, đoàn cán bộ thuộc Viện nghiên cứu phát triển Y Dược Phương Đông, thuộc công ty cổ phần dược phẩm Quốc Gia, tiến hành điều tra lại một số điểm tại đỉnh núi Phan Si Pan, nhưng chưa thu được mẫu.
Đoàn đã thu được 2 mẫu thuộc chi Sedum L, mẫu thu được chưa có hoa quả, nên mới dự kiến là Thuỷ bồn thảo (Sedum sarmentosum Bunge) và Trường sinh lá kim, còn gọi là Phật giáp thảo - Sedum lineare Thunb. Mẫu thu được đem về trồng tại Sa Pa. Thành phần hóa học Những cây thuộc họ Crassulaceae có nhiều tanin, acid oxalic và một loạt các alcaloid khung piperidin. [57] Cho đến nay thành phần hóa học của 92 loài thuộc chi Sedum đã được nghiên cứu ở các mức độ khác nhau.
Flavonoid, 3-O-glycosid (đôi khi là methyl este), acid phenolic (chủ yếu là gallic), coumarin, 6,7- các dẫn xuất, alcaloid và carbohydrat chiếm ưu thế trong tất cả các loài. rosea có tới 140 hợp chất. Thân rễ chứa các hợp chất phenol, rosavin, rosin, rosarin, acid hữu cơ, terpenoid, acid phenolcarbonic, flavonoid, anthraquinon và alcaloid. Thành phần tinh dầu của thân rễ của loài này ở các nước khác nhau cũng có sự khác nhau: Hàm lượng rosavin, rosarin, rosin cao nhất ở các mẫu thu ở Nga, trong khi đó mẫu thu ở Bulgaria lại là geraniol và myrtenol, mẫu thu ở Trung Quốc là geraniol và 1-octanol, trong khi đó mẫu thu ở Ấn Độ lại là phenylethylic alcohol.
Cinnamic alcohol chỉ phát hiện được ở mẫu của Bulgaria [34]. Salidrosid (đôi khi còn là p-tyrosol, rhodionisid, rhodiolin và rhosiridin) được xem là hoạt chất của loài Sedum rosea. Các salidrosid như rhodiolosid và rhodopsin có công thức hoá học là p- hydroxyphenylethyl-o-β-D-glucopyranosid. Viridosid có công thức hoá học salidrosid methyl hoá.
Lotaustralin là một cyanogenic glycosid. Gossypetin là 7- O-L-rhamnopyranosid, còn rhodioflavonosid là gossypetin diglycosid, ngoài ra 6 còn có benzyl-o-glycopyranosid.