Luận án tiến sĩ dược học nghiên cứu thực vật thành phần hóa học và một số tác dụng sinh học của loài phong quỳ sa pa anemone chapaensis gagnep ranunculaceae

Luận án tiến sĩ dược học nghiên cứu thành phần hóa học và tác dụng sinh học của loài Phong Quỳ Sa Pa Anemone chapaensis Gagnep, thuộc họ Ranunculaceae.

Trường đại học

Viện Dược liệu

Chuyên ngành

Dược học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ
142
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

Danh mục chữ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các hình

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Tổng quan về thực vật học chi Anemone

1.2. Vị trí phân loại, đặc điểm thực vật và phân bố của chi Anemone

1.3. Thành phần hóa học của chi Anemone

1.4. Công dụng của một số loài thuộc chi Anemone trong y học cổ truyền

1.5. Tác dụng sinh học của các loài thuộc chi Anemone

1.6. Tổng quan về loài Phong quỳ sa pa

1.7. Vị trí phân loại, đặc điểm thực vật, phân bố và sinh thái của loài Phong quỳ sa pa Anemone chapaensis Gagnep.

1.8. Thành phần hóa học của loài Phong quỳ sa pa

1.9. Một số công dụng và tác dụng sinh học của loài Phong quỳ sa pa

2. CHƯƠNG 2: NGUYÊN VẬT LIỆU, TRANG THIẾT BỊ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Nguyên, vật liệu nghiên cứu

2.2. Nguyên liệu nghiên cứu

2.3. Thuốc thử, hóa chất, dung môi. Máy móc, trang thiết bị

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.4.1. Nghiên cứu về thực vật học

2.4.2. Nghiên cứu về hóa học

2.4.3. Nghiên cứu tác dụng sinh học

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Kết quả nghiên cứu về thực vật

3.1.1. Thẩm định tên khoa học

3.1.2. Đặc điểm hình thái thực vật

3.1.3. Đặc điểm vi phẫu

3.1.4. Đặc điểm bột dược liệu

3.2. Kết quả nghiên cứu về thành phần hóa học

3.2.1. Định tính các nhóm hợp chất hữu cơ

3.2.2. Chiết xuất và phân lập các hợp chất

3.2.3. Xác định cấu trúc hóa học của các hợp chất phân lập từ loài Phong quỳ sa pa

3.3. Tác dụng sinh học

3.3.1. Đánh giá tác dụng chống viêm

3.3.2. Tác dụng ức chế sự sản sinh NO trên đại thực bào RAW264.7

3.3.3. Tác dụng ức chế sự biểu hiện của protein COX-2

3.3.4. Tác dụng gây độc tế bào ung thư

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Về thực vật học

4.2. Kết quả định tính

4.3. Kết quả phân lập và xác định cấu trúc của các hợp chất

4.4. Về tác dụng sinh học

4.4.1. Về tác dụng ức chế sự sản sinh NO

4.4.2. Về tác dụng ức chế sự biểu hiện của protein COX-2

4.4.3. Về tác dụng gây độc với các tế bào ung thư

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

4.5. Về thực vật học

4.6. Về tác dụng sinh học

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Danh mục các công trình đã công bố liên quan đến Luận án

Tóm tắt

I. Thành phần hóa học của cây Phong Quỳ Sa Pa

Thành phần hóa học của cây Phong Quỳ Sa Pa (Anemone chapaensis Gagnep.) là trọng tâm nghiên cứu trong luận án. Các hợp chất chính được phân lập bao gồm triterpenoid, saponin, flavonoid, và coumarin. Các nghiên cứu định tính và phân lập đã xác định được cấu trúc hóa học của các hợp chất này, đóng góp vào việc hiểu rõ hơn về giá trị dược liệu của loài cây này. Các phương pháp như sắc ký cộtphổ NMR được sử dụng để phân tích và xác định cấu trúc.

1.1. Triterpenoid và saponin

Triterpenoidsaponin là nhóm hợp chất chính được tìm thấy trong cây Phong Quỳ Sa Pa. Các hợp chất này có khung cơ bản oleanan, ursan, và lupan. Các nghiên cứu đã phân lập được các hợp chất như acid oleanolic, acid ursolic, và acid betulinic. Những hợp chất này có tiềm năng lớn trong việc phát triển các dược phẩm tự nhiên.

1.2. Flavonoid và coumarin

Flavonoidcoumarin cũng được phân lập từ cây Phong Quỳ Sa Pa. Các hợp chất này có tác dụng chống oxy hóa và kháng viêm, góp phần vào việc ứng dụng trong y học cổ truyền và hiện đại. Các phương pháp phân tích như sắc ký lớp mỏngphổ khối lượng đã được sử dụng để xác định cấu trúc của các hợp chất này.

II. Tác dụng sinh học của cây Phong Quỳ Sa Pa

Tác dụng sinh học của cây Phong Quỳ Sa Pa được đánh giá thông qua các thí nghiệm in vitro. Các hợp chất phân lập từ cây này đã thể hiện khả năng chống viêm, ức chế sản sinh NO, và gây độc tế bào ung thư. Những kết quả này mở ra tiềm năng ứng dụng trong điều trị các bệnh viêm nhiễm và ung thư.

2.1. Tác dụng chống viêm

Các hợp chất từ cây Phong Quỳ Sa Pa đã được thử nghiệm trên mô hình đại thực bào RAW264.7 để đánh giá khả năng chống viêm. Kết quả cho thấy các hợp chất này có khả năng ức chế sự sản sinh NO và biểu hiện của protein COX-2, hai yếu tố quan trọng trong quá trình viêm.

2.2. Tác dụng gây độc tế bào ung thư

Các hợp chất phân lập từ cây Phong Quỳ Sa Pa cũng được thử nghiệm trên các dòng tế bào ung thư như HeLaHepG2. Kết quả cho thấy các hợp chất này có khả năng gây độc tế bào ung thư với giá trị IC50 thấp, mở ra tiềm năng ứng dụng trong điều trị ung thư.

III. Nghiên cứu dược liệu và ứng dụng thực tiễn

Nghiên cứu dược liệu về cây Phong Quỳ Sa Pa không chỉ dừng lại ở việc phân tích thành phần hóa học và tác dụng sinh học mà còn hướng đến việc ứng dụng thực tiễn. Các kết quả nghiên cứu đã cung cấp cơ sở khoa học cho việc sử dụng loài cây này trong y học cổ truyền và phát triển các dược phẩm tự nhiên.

3.1. Ứng dụng trong y học cổ truyền

Cây Phong Quỳ Sa Pa đã được người dân địa phương sử dụng để điều trị các bệnh như viêm họng, viêm túi mật, và đau dạ dày. Nghiên cứu này đã xác nhận các tác dụng dược lý của cây, hỗ trợ việc sử dụng trong y học cổ truyền.

3.2. Phát triển dược phẩm tự nhiên

Các hợp chất phân lập từ cây Phong Quỳ Sa Pa có tiềm năng lớn trong việc phát triển các dược phẩm tự nhiên để điều trị viêm nhiễm và ung thư. Nghiên cứu này đóng góp vào việc bảo tồn và phát triển nguồn dược liệu quý của Việt Nam.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ dược học nghiên cứu thực vật thành phần hóa học và một số tác dụng sinh học của loài phong quỳ sa pa anemone chapaensis gagnep ranunculaceae

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: TỔNG QUAN 1. Tổng quan về thực vật học chi Anemone 1. Vị trí phân loại, đặc điểm thực vật và phân bố của chi Anemone 1. Vị trí phân loại Trên thế giới, họ Ranunculaceae được nhà Thực vật học người Pháp – Antoine Laurent de Jussieu xác lập từ năm 1789 và ngay từ thời đó, ông đã xếp họ thực vật này (Ranunculaceae) ở trong bộ Ranunculales.

Song cho đến gần đây, vẫn có tác giả xếp họ Ranunculaceae vào bộ Berberidales – đại diện cho quan điểm này là nhà thực vật học Mỹ Thorne, R. Tuy nhiên, nhiều nhà Thực vật học khác trên thế giới, như Williams, D. (2009) [95], cũng như nhóm tác giả Angiosperm Phylogeny trong hệ thống phân loại APG (Angiosperm Phylogeny Group) [98] đều có quan điểm giống với Jussieu, A. (1789), xếp họ Ranunculaceae trong bộ Ranunculales.

Theo một số công trình đã công bố trên thế giới, Ranunculaceae là họ thực vật lớn, với tổng số loài có thể tới 2.500 loài thuộc trên dưới 60 chi [10]. Do sự phong phú và đa dạng về số loài và chi, nên việc phân loại các bậc taxonomy trong họ thực vật này cũng có vài quan điểm khác nhau. Tuy nhiên, tựu trung lại, hầu hết các tác giả đều thống nhất phân chia các đại diện trong họ Ranunculaceae thành 2 Phân họ (Subfamily) và 5 Tông (Section) theo hệ thống phân loại APG. Chi Anemone nằm trong Phân họ Ranunculoideae và trong Tông Anemoneae.

Như vậy, vị trí của họ Ranunculaceae và chi Anemone nằm trong hệ thống phân loại thực vật có hoa, cụ thể như sau: Giới Thực vật - Plantae Ngành Ngọc lan – Magnoliophyta / hay là Ngành Hạt kín - Angiospermae Lớp Ngọc lan – Magnoliopsida / hay là Lớp Hai lá mầm - Dicotyledone Bộ Mao lương - Ranunculales 3 Họ Mao lương – Ranunculaceae Phân họ Mao lương – Ranunculoideae Tông Phong quỳ - Anemoneae Chi Phong quỳ - Anemone Chi Anemone lần đầu tiên được công bố vào năm 1753 bởi tác giả Linnaeus C trong cuốn sách “Species plantarum”, trong tài liệu này, tác giả mô tả 8 loài thuộc chi Anemone bao gồm A. Sau đó, có nhiều thống kê về các loài thuộc chi Anemone đã được báo cáo. Theo tác giả Tamura M. chi Anemone trên thế giới có khoảng 150 loài [22].

Các nghiên cứu của Ziman S. lần lượt báo khoảng 118 và 200 loài thuộc chi Anemone [39, 125]. Tra cứu tại trang chuyên khảo về thực vật “The plant list” (2018), có 222 tên loài được chấp nhận thuộc chi Anemone. Theo các Tác giả trong Thực vật chí Trung Quốc thì tổng số loài thuộc chi Anemone (họ Ranunculaceae) đã biết trên thế giới hiện vào khoảng 150 loài [109].

Như vậy có thể thấy, chi Anemone là một chi thực vật với số lượng loài tương đối lớn trên thế giới [9]. Đặc điểm thực vật của chi Anemone Chi Anemone (họ Ranunculaceae) được Linnaeus C. Kể từ đó đên nay, “Danh pháp” của chi thực vật này không có gì thay đổi, nhưng về số loài, theo thời gian, ngày càng được bổ sung nhiều hơn. Đặc điểm hình thái thực vật của chi Anemone tóm tắt như sau: Cây cỏ lâu năm, có thân rễ.

Lá mọc từ gốc, đơn, chân vịt, 3 lá chét, hoặc kép lông chim, đôi khi tiêu giảm thành dạng vảy lá. Trục cụm hoa mọc thẳng, hoặc mọc xiên sau đó hướng lên; cụm hoa xim, đôi khi tán. Lá bắc (2-) 3 hoặc nhiều 4 hơn, họp thành tổng bao lá bắc. Đài (4-) 5 hoặc nhiều hơn, dạng cánh hoa, màu trắng, vàng, xanh da trời hoặc tím.

Nhị thường nhiều. Bộ nhụy có vài hoặc nhiều lá noãn rời; bầu có 1 noãn, đính noãn treo (đỉnh noãn đỉnh); vòi nhụy có hoặc không; núm nhụy có hoặc không. Quả bế hình trứng hoặc gần cầu, hiếm khi dẹt ở hai phía [109]. Các loài thuộc chi Anemone trên thế giới và phân bố Như trên đã đề cập, số loài thuộc chi Anemone trên thế giới thay đổi theo thời gian.

Khi mới thành lập chi thực vật này (1753), Linnaeus, C. mới đề cập có 8 loài [60]. Theo tác giả Tamura, M. Các nghiên cứu của Ziman, S.

Theo trang chuyên khảo về thực vật “The plant list” (2018), có 222 loài được chấp nhận tên [9]. Các loài thuộc chi Anemone phân bố rộng rãi khắp các châu lục, nhưng tập trung chủ yếu ở vùng ôn đới ấm, vùng nhiệt đới ít loài hơn và thường cũng chỉ thấy ở khu vực núi cao. Ở Trung Quốc được biết có 53 loài, trong đó 22 loài được coi là đặc hữu [109]. Các loài thuộc chi Anemone ở Việt Nam và phân bố Trong hầu hết các tài liệu đã được công bố ở Việt Nam chi Anemone được gọi là “chi Phong quỳ” [1, 7].

Người đầu tiên mô tả về chi Phong quỳ (Anemone), họ Mao lương (Ranunculaceae) là nhà thực vật học người Pháp Françoise Gagnepain Năm 1929, trên “Bulletin de la Socie̓te̕ Botanique de France 76”, ông công bố 2 loài mới thuộc chi Anemone ở Việt Nam là: Anemone chapaensis Gagnep. Các loài thuộc chi Anemone và nơi ghi nhận về phân bố ở Việt Nam 5 STT Tên khoa học Tên thường Nơi phân bố TLTK gọi 1 A. chapaensis Phong quỳ sa Lào Cai (Sa Pa) [4] Gagnep. et Phong quỳ nhật Lai Châu [4, 7] Zucc.

Phong quỳ Lào Cai, Đà [4] poilane Nẵng, Quảng Nam, Kon Tum (độ cao 1200- 1800 m) 4 A.– Phong quỳ suối Quảng Trị, Phú [1, 4, Ham. Yên, Khánh 7] Hòa, Kon Tum, Lâm Đồng 5 A. sumatrana De Phong quỳ Lào Cai, Hà [7] Vriese sumatra Giang 6 A.- Dã miên hoa Hà Giang, Lai [7] Ham. Châu Sau một thời gian rất dài, đến năm 1999, nhà thực vật học Phạm Hoàng Hộ mới cho biết thêm ở nước ta có 5 loài thuộc chi Anemone trong bộ “Cây cỏ Việt Nam” [4].

Thông tin này cũng được tác giả Nguyễn Tiến Bân, 2003 ghi nhận lại trong bộ “Danh lục các loài Thực vật Việt nam”, T.II [1], gồm các loài: Phong quỳ sa pa (Anemone chapaensis Gagnep.), Phong quỳ nhật (A.), Phong quỳ suối (A.), Phong quỳ poilane (A.) và Phong quỳ sumatra (A. sumatrana De Vriese). Trong cuốn “Từ điển cây thuốc Việt Nam” năm 2012, tác giả Võ Văn Chi đề cập 2 loài được dùng làm thuốc có ở nước ta là Phong quỳ nhật (A. và Phong quỳ suối (A.

Trong bộ “Danh lục cây thuốc Việt Nam” xuất bản năm 2016, ngoài 2 loài cây thuốc đã được Võ Văn Chi ghi nhận trên [8], các tác giả ở Viện Dược liệu bổ sung thêm 1 loài nữa cũng được dùng làm thuốc ở Việt nam là Dã miên hoa (Anemone vitifolia Buch. Như vậy, theo các tài liệu cho đến nay, số loài thuộc chi Phong quỳ (Anemone) đã biết ở Việt Nam tổng số là 6 loài như tổng hợp ở Bảng 1. Theo tổng quan các tài liệu nghiên cứu có thể nhận thấy các loài thuộc chi Anemone ở Việt Nam tập trung phân bố chủ yếu ở các vùng rừng núi. vitifolia) được phát hiện ở các tỉnh thuộc vùng núi cao phía Bắc và 2 loài (A.

rivularis) thuộc các tỉnh ở phía Nam (từ Quảng Trị vào đến Lâm Đồng). Thành phần hóa học của chi Anemone Các nghiên cứu về thành phần hóa học của các loài thuộc chi Anemone chủ yếu được công bố bởi các nhà khoa học Trung Quốc. Cho đến nay, hơn 300 hợp chất đã được phân lập từ các loài thuộc chi Anemone. Các hợp chất phân lập chủ yếu thuộc các nhóm triterpenoid, saponin, ngoài ra có một số nhóm chất khác như flavonoid, coumarin, lignan, steroid, các dẫn chất acid phenolic và tinh dầu.

Các hợp chất triterpenoid Bảng 1. Các hợp chất triterpenoid đã phân lập từ chi Anemone TT Tên hợp chất Loài Tài liệu A. taipaiensis 4 Acid siaresinolic (4) A. cathayensis [28] Acid 2α,3β,23-trihydroxyurs-12-en- 9 A.

13 Acid betulinic (13) [40] tomentosa Triterpenoid là nhóm hợp chất chính trong thành phần hóa học của các loài thuộc chi Anemone. Các hợp chất này thuộc 03 khung cơ bản bao gồm oleanan, ursan và lupan. Tên và cấu trúc của các triterpenoid đã phân lập từ các loài thuộc chi Anemone được trình bày trong bảng 1. Cấu trúc hóa học của các triterpenoid phân lập từ chi Anemone Có 13 hợp chất triterpenoid (1-13) được phân lập từ các loài thuộc chi Anemone, gồm 04 hợp chất thuộc khung oleanan (1-4), 06 hợp chất thuộc khung ursan (5-10), 03 hợp chất thuộc khung lupan (11-13).

Hợp chất acid oleanolic (1) là một hợp chất phổ biến ở chi Anemone và cũng là phần aglycon của lượng lớn các saponin phân lập từ chi này. Các hợp chất saponin Saponin là nhóm hợp chất chính của các loài thuộc chi Anemone. Các hợp chất saponin đã phân lập được từ chi Anemone có phần aglycon chủ yếu là các triterpen khung oleanan (A1-A13). Ngoài ra, một vài saponin có phần aglycon là triterpen khung ursan (B), khung lupan (C), khung cycloartan (D).

Cấu trúc của khung aglycon và các hợp chất saponin đã phân lập được từ chi Anemone được trình bày trong Hình 1.2 và Phụ lục 2. Cấu trúc hóa học chính của các sapogenin từ chi Anemone Theo tra cứu, cho đến nay đã có 205 hợp chất saponin (14-218) được phân lập từ các loài thuộc chi Anemone (Phụ lục 2). Trong số này, 201 hợp chất (14- 214) có phần aglycon là các triterpen khung oleanan, 01 hợp chất (215) có phần alycon là triterpen khung ursan, 01 hợp chất (216) có phần aglycon là triterpen khung lupan, 02 hợp chất (217-218) có phần algycon là triterpen khung cycloartan. Các saponin với phần aglycon là các triterpen khung oleanan có phần đường liên kết tại C-3 và/hoặc C-28.

Các hợp chất (14-126) có phần aglycon là 10 acid oleanolic, chiếm hơn một nửa số hợp chất có phần alycon là các triterpen khung oleanan. Trong số các hợp chất này, 03 hợp chất saponin (84, 116, 118) có gốc muối [NaOSO3]- trong phân tử. Cả 03 hợp chất đều được phân lập từ loài A. Các hợp chất 210-212 có phần aglycon A11 và A12 là các triterpenoid ít gặp trong tự nhiên.

Phần aglycon A11 có liên kết đôi ở liên kết C- 18/C-19 trong khi phần aglycon A12 không xuất hiện nối đôi ở liên kết C-12/C- 13 như thường gặp mà thay vào đó 02 carbon này được liên kết với 02 nhóm hydroxy. Các saponin đã được tìm thấy trong 21 loài thuộc chi Anemone. Các loài giàu saponin bao gồm A. Các nhóm hợp chất khác Ngoài triterpenoid và saponin, còn có nhiều nhóm chất như coumarin, flavonoid, lacton, lignan, steroid, các dẫn chất acid phenolic, thành phần tinh dầu, một số các chất khác phân lập từ các loài thuộc chi Anemone, được thống kê ở Bảng 1.3; Cấu trúc của các hợp chất này được trình bày trong Hình 1.

Các nhóm hợp chất khác đã phân lập từ chi Anemone TT Tên hợp chất Loài Tài liệu Coumarin 1 Coumarin (219) A. flaccida [120] Flavonoid Quercetin-3-O-β-D-galactopyranosid-7-O-α-L- 12 A. raddeana Lignan (7S,8R,7′R,8′S)4,9,4′,7′-Tetrahydroxy-3,3′-dimethoxy-7′-O-n 28 A. rivularis 42 1-O-Caffeoyl-β-D-glucopyranosid (260) A.

altaica [126] Tinh dầu 53- γ-Terpineol (270); 4-Tert-butylphenetole (271); 2,6-Di-tert- A. rivularis 57 Phenylethyl alcohol (274) A.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ dược học: Nghiên cứu thành phần hóa học và tác dụng sinh học của cây Phong Quỳ Sa Pa là một công trình khoa học chuyên sâu, tập trung vào việc phân tích các hợp chất hóa học có trong cây Phong Quỳ (một loại dược liệu quý tại Sa Pa) và đánh giá các tác dụng sinh học của chúng. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn toàn diện về giá trị dược liệu của cây Phong Quỳ mà còn mở ra hướng ứng dụng tiềm năng trong y học và dược phẩm. Độc giả sẽ được tiếp cận với các phương pháp nghiên cứu hiện đại, kết quả phân tích chi tiết, và những khám phá mới về hoạt tính sinh học của loài cây này.

Để mở rộng kiến thức về các nghiên cứu tương tự, bạn có thể tham khảo Luận án tiến sĩ dược học cổ truyền nghiên cứu về thực vật thành phần hóa học và một số tác dụng sinh học của cây lạc tân phụ astilbe rivularis, Luận án tiến sĩ nghiên cứu thành phần hoá học và tác dụng sinh học của cây xáo tam phân paramignya trimera oliv guill và cây nhó đông morinda longissima, và Luận văn nghiên cứu thu nhận và xác định một số tác dụng sinh học của phân đoạn peptide từ lá cây thuốc hoàn ngọc đỏ strobilanthes schomburgkii. Những tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu sâu hơn về các phương pháp nghiên cứu và ứng dụng dược liệu trong thực tiễn.