Luận án tiến sĩ nghiên cứu biểu hiện tinh chế và bước đầu đánh giá đặc tính sinh học của interleukin 11 người tái tổ hợp

Luận án tiến sĩ nghiên cứu biểu hiện, tinh chế và đánh giá đặc tính sinh học của interleukin 11 người tái tổ hợp, ứng dụng tiềm năng trong y học.

Chuyên ngành

Hóa sinh học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2017

179
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC HÌNH

MỞ ĐẦU

0.1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

0.1.1. Interleukin-11 và vai trò đối với hệ tạo máu

0.1.1.1. Hệ tạo máu và con đường tạo tiểu cầu ở cơ thể người
0.1.1.2. Đặc tính phân tử, cấu trúc và cơ chế hoạt động của Interleukin-11
0.1.1.3. Những nghiên cứu về vai trò của IL-11 trên mô hình thực nghiệm
0.1.1.4. Tình hình nghiên cứu biểu hiện interleukin-11 tái tổ hợp

0.1.2. Hệ biểu hiện protein tái tổ hợp

0.1.2.1. Sơ lược về hệ biểu hiện protein tái tổ hợp, ưu và nhược điểm
0.1.2.2. Một số chủng biểu hiện thông thường của E. coli
0.1.2.3. Vector biểu hiện của chủng E. coli
0.1.2.4. Một số giải pháp cải thiện mức độ biểu hiện protein tái tổ hợp
0.1.2.5. Tinh sạch protein và những khó khăn thường gặp

0.2. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

0.2.1. Vật liệu nghiên cứu

0.2.2. Hóa chất và vật tư dùng cho nghiên cứu

0.2.3. Phương pháp nghiên cứu

0.2.3.1. Các phương pháp sinh học phân tử và vi sinh
0.2.3.2. Các phương pháp hóa sinh và miễn dịch
0.2.3.3. Phương pháp đánh giá tác dụng tăng sinh dòng tế bào của IL-11
0.2.3.4. Phương pháp đánh giá tính an toàn của IL-11 tái tổ hợp
0.2.3.5. Phân tích, xử lý số liệu

0.3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

0.3.1. Biểu hiện Interleukin-11 trong tế bào E. coli

0.3.1.1. Biểu hiện Interleukin-11 dạng đơn trong vector pET22b(+)
0.3.1.2. Biểu hiện Interleukin-11 dạng dung hợp trong vector pE-SUMO3
0.3.1.3. Lựa chọn điều kiện biểu hiện protein SUMO-IL11

0.3.2. Tinh chế và tạo sản phẩm Interleukin-11

0.3.2.1. Tinh chế protein SUMO-IL11 bằng sắc ký ái lực
0.3.2.2. Cắt protein SUMO-IL11 bằng enzyme
0.3.2.3. Tạo công thức cho protein IL-11
0.3.2.4. Loại chất gây sốt ở sản phẩm IL-11
0.3.2.5. Đông khô sản phẩm IL-11

0.3.3. Bước đầu đánh giá đặc tính sinh học của protein IL-11 tái tổ hợp

0.3.3.1. Đánh giá độ tinh sạch của protein IL-11
0.3.3.2. Đọc trình tự axit amin đầu N của protein IL-11
0.3.3.3. Đánh giá tác dụng tăng sinh dòng tế bào TF-1
0.3.3.4. Đánh giá tính an toàn chung trên chuột
0.3.3.5. Đánh giá độc tính cấp trên chuột nhắt trắng
0.3.3.6. Đánh giá độc tính bán trường diễn trên chuột cống
0.3.3.7. Đánh giá chất gây sốt trên thỏ

0.4. BÀN LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

0.4.1. Biểu hiện Interleukin-11 người tái tổ hợp

0.4.2. Tinh chế protein IL-11 tái tổ hợp

0.4.3. Tạo sản phẩm IL-11 có khả năng sử dụng bằng đường tiêm

0.4.4. Bước đầu đánh giá đặc tính sinh học của sản phẩm IL-11

0.4.5. Độ tinh sạch và trình tự axit amin đầu N của IL-11

0.4.6. Tác dụng tăng sinh dòng tế bào của IL-11

0.4.7. Tính an toàn của IL-11 tái tổ hợp trên mô hình động vật

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

NHỮNG CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Nghiên cứu interleukin 11

Interleukin 11 (IL-11) là một cytokine quan trọng trong hệ miễn dịch, đặc biệt trong quá trình tạo máu. Nghiên cứu này tập trung vào việc biểu hiện, tinh chếđánh giá đặc tính sinh học của IL-11 người tái tổ hợp. IL-11 kích thích sự biệt hóa của tế bào gốc tạo máu và tế bào tiền mẫu tiểu cầu, giúp sản xuất tiểu cầu. Đây là yếu tố quan trọng trong điều trị các bệnh liên quan đến hệ tạo máu, đặc biệt là thiếu hụt tiểu cầu sau hóa trị liệu ung thư.

1.1. Vai trò của interleukin 11 trong hệ tạo máu

Interleukin 11 đóng vai trò trung gian trong việc kích thích sự tăng sinh và biệt hóa của tế bào gốc tạo máu. Nó tham gia vào quá trình tạo tiểu cầu, giúp điều hòa sự phát triển của các tế bào máu. IL-11 cũng được sử dụng trong y học để điều trị các bệnh liên quan đến thiếu hụt tiểu cầu, đặc biệt là ở bệnh nhân ung thư sau hóa trị. Nghiên cứu này nhấn mạnh tầm quan trọng của IL-11 trong việc phát triển các liệu pháp điều trị mới.

II. Tinh chế interleukin 11

Quá trình tinh chế interleukin 11 là một bước quan trọng để đảm bảo chất lượng của protein tái tổ hợp. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp sắc ký ái lực và enzyme để tách và tinh chế IL-11 từ tế bào E. coli. Kết quả cho thấy protein IL-11 tái tổ hợp đạt độ tinh khiết cao, đáp ứng các tiêu chuẩn dược phẩm. Quá trình này cũng bao gồm việc loại bỏ các chất gây sốt và đông khô sản phẩm để đảm bảo tính ổn định.

2.1. Phương pháp tinh chế protein tái tổ hợp

Nghiên cứu sử dụng hệ thống tinh chế protein tái tổ hợp dựa trên sắc ký ái lực với cột Ni-NTA. Protein SUMO-IL11 được tinh chế và cắt bằng enzyme để thu được IL-11 nguyên chất. Quá trình này đảm bảo protein đạt độ tinh khiết cao, phù hợp cho các ứng dụng y học. Các bước loại bỏ chất gây sốt và đông khô cũng được thực hiện để đảm bảo tính ổn định và an toàn của sản phẩm.

III. Đánh giá đặc tính sinh học của interleukin 11

Nghiên cứu tiến hành đánh giá đặc tính sinh học của IL-11 tái tổ hợp thông qua các thử nghiệm tăng sinh tế bào và đánh giá tính an toàn. Kết quả cho thấy IL-11 có khả năng kích thích sự tăng sinh của dòng tế bào TF-1, chứng minh hoạt tính sinh học của protein. Các thử nghiệm trên chuột cũng cho thấy IL-11 không gây độc tính cấp hoặc bán trường diễn, đảm bảo tính an toàn khi sử dụng.

3.1. Đánh giá hoạt tính sinh học của IL 11

Hoạt tính sinh học của IL-11 được đánh giá thông qua khả năng kích thích tăng sinh tế bào TF-1. Kết quả cho thấy IL-11 có khả năng kích thích sự phát triển của tế bào, chứng minh hoạt tính sinh học của protein. Ngoài ra, các thử nghiệm trên chuột cũng cho thấy IL-11 không gây độc tính, đảm bảo tính an toàn khi sử dụng trong y học.

IV. Ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu

Nghiên cứu này có giá trị thực tiễn cao trong việc phát triển các liệu pháp điều trị bệnh liên quan đến hệ tạo máu. IL-11 tái tổ hợp có thể được sử dụng để điều trị thiếu hụt tiểu cầu, đặc biệt ở bệnh nhân ung thư sau hóa trị. Việc sản xuất thành công IL-11 tái tổ hợp cũng giúp giảm sự phụ thuộc vào các sản phẩm nhập khẩu, mở ra cơ hội phát triển công nghệ sinh học trong nước.

4.1. Tiềm năng ứng dụng trong y học

IL-11 tái tổ hợp có tiềm năng lớn trong điều trị các bệnh liên quan đến hệ tạo máu, đặc biệt là thiếu hụt tiểu cầu. Nghiên cứu này cung cấp nền tảng cho việc sản xuất IL-11 chất lượng cao, giúp giảm chi phí điều trị và tăng khả năng tiếp cận của bệnh nhân. Đây là bước tiến quan trọng trong việc phát triển các liệu pháp điều trị mới dựa trên cytokine.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu biểu hiện tinh chế và bước đầu đánh giá đặc tính sinh học của interleukin 11 người tái tổ hợp

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Bê ̣nh máu hay còn go ̣ i là bê ̣nh của hê ̣ ta ̣o máu khiế n máu có tình tra ̣ng bấ t thường. Bê ̣nh máu có thể do nguyên phát (chức năng ta ̣o máu b ị khiế m khuyế t bẩ m sinh hoă ̣c thay đổ i ác tính trong thành phầ n tuỷ xương ) hoặc do thứ phát (thiế u dinh dưỡng, rố i loa ̣n trao đổ i chấ t , các yếu tố vật lý , hoá học, ô nhiễm…). Các rối loạn thường gă ̣p trong bê ̣nh máu là thiế u máu , xuấ t huyế t , bê ̣nh máu trắ ng , ung thư tuỷ xương, ung thư ha ̣ch và số lươ ̣ng các loa ̣i tế bào máu tăng lên hoă ̣ c giảm đi. Các bê ̣nh liên quan đế n hê ̣ t ạo máu là b ệnh phức tạp, khó chữa, có tỷ lệ tử vong cao, là một thách thức lớn cho ngành y học.

Sự tạo thành tế bào máu là một quá trình tăng sinh và biệt hoá của tế bào gốc tạo máu ở tuỷ xương theo cơ chế điều hoà phức tạp nhưng rất chặt chẽ, nhịp nhàng với sự tham gia của các yếu tố như tế bào gốc tạo máu, vi môi trường tạo máu và các yếu tố kích thích tạo máu bao gồm các cytokine. Những nghiên cứu gần đây cho thấy yếu tố vi môi trường là các yếu tố tác động gần, có vai trò trung gian tạo thuận lợi cho sự sinh máu. Sự có mặt các cytokine sẽ kích thích tế bào gốc tăng sinh và hướng biệt hoá theo định hướng cụ thể từng dòng. Trong bốn nhóm của cytokine là interferon, interleukin, yếu tố hoại tử khối u, yếu tố tăng trưởng, interleukin đóng vai trò trung gian trong việc liên kết với thụ thể đặc hiệu để điều khiển các hoạt động của tế bào như sự tăng sinh, biệt hóa, phân chia và chết.

Mỗi loại interleukin có vai trò khác nhau trong hệ miễn dịch, trong đó interleukin-11 (IL-11) kích thích sự biệt hóa của các tế bào gốc tạo máu và tế bào tiền mẫu tiểu cầu, đồng thời kích thích chúng trưởng thành để sản xuất tiểu cầu. Do đó, IL-11 được coi là một yếu tố tăng trưởng tạo máu và được làm dược phẩm điều trị các bệnh liên quan đến hệ tạo máu. Năm 1997, loại interleukin đầu tiên được Cục Quản lý Thuốc và Thực phẩm Hoa Kỳ (FDA) cấp phép điều trị bệnh thiếu hụt tiểu cầu và giảm bớt nhu cầu truyền tiểu cầu cho các bệnh nhân ung thư sau hoá trị liệu chính là IL-11 người tái tổ hợp dưới tên thương mại là Neumega (Kaye, 1998). Việc sản xuất protein có thể được cải thiện nếu như phương pháp biểu hiện protein ở trạng thái tan được phát triển đặc 2 biệt là ở những hệ biểu hiện đơn giản như vi khuẩn.

Tuy nhiên, IL-11 là một protein khó được biểu hiện dạng đơn phân tử ở tế bào Escherchia coli. Những công bố trên thế giới về loại cytokine này còn hạn chế và sản phẩm tạo ra chưa được đánh giá đặc tính sinh học một cách hệ thống. Ở Việt Nam, hướng nghiên cứu trên đối tượng này không phổ biến và mới được triển khai tại Phòng Kỹ thuật di truyền, Viện Công nghệ sinh học. Xuất phát từ mong muốn tạo ra IL-11 người tái tổ hợp giống với sản phẩm Neumega để có thể chủ động về mặt công nghệ sản xuất loại cytokine có giá trị sử dụng trong y dược, đề tài luận án với tên “Nghiên cứu biểu hiện, tinh chế và bước đầu đánh giá đặc tính sinh học của Interleukin-11 người tái tổ hợp” được thực hiện với những mục tiêu sau: - Biểu hiện được protein IL-11 người tái tổ hợp ở tế bào Escherichia coli.

- Tinh chế protein IL-11 tái tổ hợp đáp ứng yêu cầu làm dược phẩm tiêm. - Bước đầu đánh giá đặc tính sinh học của IL-11 tái tổ hợp tạo ra. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Interleukin-11 và vai trò đối với hệ tạo máu 1.

Hệ tạo máu và con đường tạo tiểu cầu ở cơ thể người Máu là một loại dịch trong cơ thể lưu thông trong hệ tuần hoàn, gồm 2 thành phần chính là tế bào máu (hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu) và huyết tương. Các loại tế bào máu trưởng thành thực hiện những chức năng chuyên môn cao như hồng cầu vận chuyển O2 và CO2; bạch cầu chống lại tác nhân lây nhiễm bằng việc tạo ra kháng thể, đáp ứng miễn dịch qua trung gian tế bào và thực bào; tiểu cầu tham gia chức năng đông máu, khi số lượng tiểu cầu trong máu giảm sẽ xuất hiện tình trạng chảy máu (xuất huyết). Tất cả những loại tế bào máu đều có một nguồn gốc chung là tế bào gốc tạo máu. Cơ chế điều khiển quá trình biệt hóa đó liên quan đến một nhóm glycoprotein đặc hiệu có tên là các yếu tố tăng trưởng tạo máu hay còn gọi là cytokine.

Chúng có bản chất là protein tan trong nước với cách thức hoạt động theo kiểu tự tiết (autocrine), cận tiết (paracrine) và nội tiết (endocrine). Tùy vào nguồn gốc tổng hợp, chức năng và đích tác động, cytokine được chia làm các nhóm như yếu tố kích thích tạo cụm tế bào, interferon, yếu tố hoại tử khối u, lymphokine, monokine, chemokine (điều hòa các phân tử hóa hướng động) và interleukin. Cytokine có rất nhiều vai trò, nhất là với hệ miễn dịch của cơ thể như tăng sinh - phát triển - biệt hóa - apotosis và hóa hướng động (chemotaxis). Một cách cụ thể hơn, chúng điều hòa quá trình tạo máu, miễn dịch, viêm, sự phát sinh ung thư, sự hình thành và phát triển của tế bào thần kinh (Ishihara and Hirano, 2002; Zhang and Lodish, 2008).

Đối với quá trình tạo máu, cytokine đóng vai trò điều hòa sự tồn tại, tăng sinh và biệt hóa của các tế bào gốc tạo máu thành tế bào tiền thân và cuối cùng là tế bào máu trưởng thành (Hình 1. 4 Cụm mẫu tiểu cầu Tiểu cầu Mẫu tiểu cầu Bạch cầu ái kiềm Cụm mẫu bạch cầu ái kiềm Bạch cầu ái toan Tế bào gốc Cụm mẫu bạch cầu ái toan định hướng Bạch cầu trung tính dòng tủy Bạch cầu mono Cụm bạch cầu hạt-bạch cầu mono Hồng cầu lưới Cụm nguyên hồng cầu Hình 1.1: Ảnh hƣởng của các yếu tố tăng trƣởng đến quá trình biệt hóa tế bào máu (Nguồn: www.com) Cytokine truyền tín hiệu đến tế bào nhờ phức hợp các tiểu đơn vị thụ thể gồm có thụ thể gắn cytokine và thụ thể truyền tín hiệu. Chất điều hòa quan trọng của con đường truyền tín hiệu là chất truyền tín hiệu Janus kinase (Jaks) và chất hoạt hóa phiên mã STATs (Signal transducer and activators of transcription) (Ishihara and Hirano, 2002). Đầu tiên, cytokine bám vào thụ thể (chuỗi ) sau đó liên kết với thụ thể thứ hai (chuỗi ) để hình thành phức hợp hai tiểu đơn vị thụ thể ( và ) rồi hoạt hóa Jaks.

Sau khi được hoạt hóa, Jaks sẽ gắn phospho vào các vùng của thụ thể để tạo ra các vị trí có khả năng gắn với phân tử STATs. STATs gắn vào chuỗi  rồi được phosphoryl hóa và tách khỏi thụ thể, hình thành dimer di chuyển đến nhân tế 5 bào, từ đó điều hòa quá trình phiên mã của gen đích (Hình 1. Bằng cơ chế hoạt động như trên , cytokine điều hòa các chức năng của tế bào như trạng thái không hoạt động, tự đổi mới, sự biệt hóa, sự phân chia và di chuyển của tế bào (Zhang and Lodish, 2008). Cytokine     Dimer hóa thụ thể JAK Hoạt hóa JAK kinase và SH2 gắn phospho vào thụ thể STAT Gắn phospho vào STAT bởi JAK kinase Dimer hóa STAT DNA Phiên mã gen đặc hiệu Hình 1.2: Sơ đồ minh họa phức hợp cytokine và thụ thể truyền tín hiệu vào trong tế bào Cytokine bám vào thụ thể đặc hiệu dẫn đến dimer hóa các tiểu đơn vị thụ thể và hoạt hóa JAK kinase, gắn phospho vào thụ thể.

Các tín hiệu tạo ra từ cytokine và thụ thể được truyền tới nhân tế bào bằng các phản ứng của chất truyền tín hiệu. (Nguồn: http://www2.edu/~fpm/immunology/lectures/Chapter012.pdf) Mẫu tiểu cầu là những tế bào được biệt hóa chuyên biệt từ tế bào gốc tạo máu ở tủy xương để sản xuất tiểu cầu. Tế bào gốc sẽ lần lượt được biệt hóa thành 6 cụm mẫu tiểu cầu (CFU-Me), nguyên mẫu tiểu cầu, tiền mẫu tiểu cầu và mẫu tiểu cầu (Pang et al. Sau đó, mẫu tiểu cầu trưởng thành và bắt đầu quá trình sản xuất tiểu cầu (Italiano et al.

Cytokine tác động chủ yếu đến quá trình tạo mẫu tiểu cầu là thrombopoietin (TPO) và một số cytokine khác như IL-11, Gm- CSF, IL-3, IL-6, chemokine (SDF-1, FGF-4) (Avecilla et al. Quá trình tạo mẫu tiểu cầu có ý nghĩa quan trọng về mặt lâm sàng đối với những người bị thiếu hụt tiểu cầu đặc biệt là những trường hợp ung thư sau khi xạ trị và diệt tủy để cấy ghép tế bào gốc tạo máu vì hai phác đồ điều trị đều làm giảm tế bào mẫu tiểu cầu ở tủy xương. Những bệnh nhân đó cần nhanh chóng được phục hồi tiểu cầu ngoại vi và sự tăng sinh của mẫu tiểu cầu là giải pháp hiệu quả nhất để đáp ứng lượng tiểu cầu đã bị thiếu hụt. Truyền tiểu cầu chỉ là phương thức điều trị tạm thời nhằm cầm máu hoặc đề phòng biến chứng xuất huyết nặng.

Ngoài ra, tiểu cầu truyền vào chỉ sống được khoảng 3 – 4 ngày nên cần đợt truyền tiếp theo. Trong một số trường hợp, ở những người truyền nhiều lần, cơ thể có khả năng sinh ra kháng thể phá hủy tiểu cầu truyền vào. Hiện nay trên thế giới, có một loại thuốc được biết đến là thuốc sinh tiểu cầu (thrombopoietic agents), có bản chất là IL-11 tái tổ hợp với tên gọi là Neumega. Loại thuốc này giúp tăng trưởng và trưởng thành mẫu tiểu cầu, làm tăng số lượng tiểu cầu của bệnh nhân.

Thuốc sinh tiểu cầu mang lại chiến lược điều trị mới đầy hứa hẹn đối với bệnh xuất huyết giảm tiểu cầu do miễn dịch hoặc do giảm sinh tiểu cầu ở tủy xương. Đặc tính phân tử, cấu trúc và cơ chế hoạt động của Interleukin-11 Ở người, gen mã hóa IL-11 có kích thước 7 kb, định vị trên vai dài của nhiễm sắc thể số 19 tại vị trí 19q13.4, chứa 5 vùng exon và 4 vùng intron (McKinley et al. Mặc dù thuộc họ IL-6 nhưng gen il-11 và gen il-6 có sự tương đồng rất thấp với nhau. Một số vùng nucleotit ở đầu 5’ của gen il-11 giống đến 70% các gen mã hóa cho IL-2, IL-3, IL-9 và Gm-CSF.

Gen il-11 đã được đăng ký trên Genbank với mã số là NM_000641 gồm 3 phiên bản của 3 nhóm tác giả ký hiệu là NM_000641.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu biểu hiện, tinh chế và đánh giá đặc tính sinh học của interleukin 11 người tái tổ hợp là một tài liệu chuyên sâu tập trung vào việc biểu hiện và tinh chế interleukin 11 (IL-11) tái tổ hợp, một cytokine quan trọng trong điều hòa miễn dịch và tái tạo mô. Nghiên cứu này không chỉ đánh giá các đặc tính sinh học của IL-11 mà còn mở ra tiềm năng ứng dụng trong y học, đặc biệt là trong điều trị các bệnh liên quan đến viêm và tổn thương mô. Đây là nguồn tài liệu quý giá cho các nhà nghiên cứu và chuyên gia y sinh học quan tâm đến cytokine và liệu pháp tế bào.

Để mở rộng kiến thức về các nghiên cứu liên quan đến y học và công nghệ sinh học, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ công nghệ sinh học xác định genotype HPV, nghiên cứu về virus HPV và kỹ thuật lai phân tử. Ngoài ra, Luận án tiến sĩ nghiên cứu mối liên quan giữa resistin, visfatin và nguy cơ tim mạch cung cấp thêm góc nhìn về các yếu tố sinh học liên quan đến bệnh lý chuyển hóa. Cuối cùng, Luận án tiến sĩ y học nghiên cứu điều trị ung thư vú di căn là tài liệu hữu ích cho những ai quan tâm đến liệu pháp hóa trị trong ung thư. Hãy khám phá để có cái nhìn toàn diện hơn về các chủ đề này!