Nghiên cứu bào chế vi hạt cefuroxim axetil ứng dụng cho cốm pha hỗn dịch uống

Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu Ngô thị huyền tiếp tục nghiên cứu bào chế vi hạt cefuroxim axetil ứng dụng cho cốm pha hỗn dịch, vận dụng lý thuyết vào thực tế, đề xuất giải pháp

Chuyên ngành

Dược sĩ

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2022

62
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. MỤC LỤC

1.1. DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1.2. DANH MỤC CÁC BẢNG

1.3. DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ

1.4. ĐẶT VẤN ĐỀ

1.5. TỔNG QUAN VỀ CEFUROXIM AXETIL

1.5.1. Công thức hóa học

1.5.2. Tính chất lý hóa và độ ổn định

1.5.3. Một số chế phẩm trên thị trường

1.6. TỔNG QUAN VỀ CHE VỊ CHO CHẾ PHẨM DÙNG ĐƯỜNG UỐNG

1.6.1. Các phương pháp che vị cho dược chất

1.6.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn phương pháp che vị cho dược chất

1.6.3. Các phương pháp đánh giá khả năng che vị

1.7. TỔNG QUAN VỀ HỆ PHÂN TÁN RẮN

1.7.1. Khái niệm hệ phân tán rắn

1.7.2. Chất mang trong hệ phân tán rắn

1.7.3. Các phương pháp bào chế hệ phân tán rắn ứng dụng cho che vị

1.7.4. Các phương pháp đánh giá đặc tính của hệ phân tán rắn

1.7.5. Độ ổn định của hệ phân tán rắn

1.7.6. Ưu, nhược điểm của hệ phân tán rắn

1.8. MỘT SỐ NGHIÊN CỨU VỀ BÀO CHẾ VI HẠT VÀ CHE VỊ CHO CEFUROXIM AXETIL

1.8.1. Phương pháp tạo hệ phân tán rắn

1.8.2. Phương pháp khác

1.9. NGUYÊN LIỆU, THIẾT BỊ, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.9.1. NGUYÊN LIỆU, THIẾT BỊ

1.9.2. Chế phẩm đối chiếu

1.9.3. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

1.9.4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.9.4.1. Phương pháp bào chế
1.9.4.2. Phương pháp đánh giá
1.9.4.3. Phương pháp xử lý số liệu và trình bày kết quả

1.10. THỰC NGHIỆM, KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

1.10.1. NGHIÊN CỨU TIỀN CÔNG THỨC

1.10.1.1. Kết quả đánh giá lại phương pháp quang phổ hấp thụ tử ngoại để định lượng cefuroxim axetil trong các mẫu nghiên cứu
1.10.1.2. Kết quả đánh giá một số đặc tính của nguyên liệu cefuroxim axetil
1.10.1.3. Kết quả đánh giá một số đặc tính của chế phẩm đối chiếu

1.10.2. NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC YẾU TỐ THUỘC CÔNG THỨC ĐẾN MỘT SỐ CHỈ TIÊU CHẤT LƯỢNG CỦA VI HẠT VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ CHỈ TIÊU CHẤT LƯỢNG CHO VI HẠT BÀO CHẾ ĐƯỢC

1.10.2.1. Nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố thuộc công thức đến tính chất của vi hạt bào chế bằng phương pháp đun chảy
1.10.2.2. Nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố thuộc công thức đến tính chất của vi hạt bào chế bằng phương pháp đun chảy kết hợp tạo hạt ướt
1.10.2.3. Đánh giá và đề xuất một số chỉ tiêu chất lượng cho vi hạt

1.10.3. BÀO CHẾ CỐM PHA HỖN DỊCH UỐNG TỪ VI HẠT CEFUROXIM AXETIL VÀ ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ CHỈ TIÊU CHẤT LƯỢNG CỦA CỐM THU ĐƯỢC

1.11. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu bào chế vi hạt cefuroxim axetil

Nghiên cứu bào chế vi hạt cefuroxim axetil cho cốm pha hỗn dịch uống là một lĩnh vực quan trọng trong ngành dược phẩm. Cefuroxim axetil (CFA) là một kháng sinh nhóm cephalosporin thế hệ 2, có tác dụng mạnh mẽ đối với nhiều loại vi khuẩn. Việc bào chế vi hạt giúp cải thiện khả năng hấp thu và giảm vị đắng của dược chất, từ đó nâng cao hiệu quả điều trị. Nghiên cứu này không chỉ tập trung vào việc bào chế mà còn đánh giá các chỉ tiêu chất lượng của sản phẩm cuối cùng.

1.1. Tầm quan trọng của cefuroxim axetil trong điều trị

Cefuroxim axetil là một trong những kháng sinh phổ rộng, có khả năng điều trị nhiều bệnh nhiễm khuẩn. Việc bào chế thành dạng cốm pha hỗn dịch giúp dễ dàng sử dụng cho bệnh nhân, đặc biệt là trẻ em và người cao tuổi. Sự phát triển của các dạng bào chế mới giúp nâng cao hiệu quả điều trị và tuân thủ điều trị của bệnh nhân.

1.2. Các thách thức trong bào chế vi hạt cefuroxim axetil

Một trong những thách thức lớn nhất trong bào chế vi hạt cefuroxim axetil là vị đắng của dược chất. Việc che vị đắng không chỉ cần thiết để cải thiện trải nghiệm của người dùng mà còn ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc sử dụng các phương pháp che vị kết hợp là cần thiết để đạt được kết quả tốt nhất.

II. Phương pháp bào chế vi hạt cefuroxim axetil hiệu quả

Phương pháp bào chế vi hạt cefuroxim axetil được thực hiện thông qua nhiều kỹ thuật khác nhau. Trong đó, phương pháp tạo hệ phân tán rắn bằng cách đun chảy là một trong những phương pháp hiệu quả nhất. Phương pháp này không chỉ đơn giản mà còn tiết kiệm chi phí sản xuất, đồng thời đảm bảo chất lượng sản phẩm.

2.1. Phương pháp tạo hệ phân tán rắn

Phương pháp tạo hệ phân tán rắn giúp giảm diện tích tiếp xúc của dược chất với môi trường hòa tan, từ đó giảm vị đắng. Kỹ thuật này sử dụng các chất mang như povidon và HPMC để tạo ra vi hạt có kích thước nhỏ, dễ hấp thu hơn.

2.2. Đánh giá chất lượng vi hạt bào chế

Đánh giá chất lượng vi hạt bào chế là bước quan trọng để đảm bảo hiệu quả điều trị. Các chỉ tiêu chất lượng như kích thước hạt, độ hòa tan và khả năng che vị được kiểm tra kỹ lưỡng. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng vi hạt có kích thước nhỏ hơn 250 μm có khả năng hấp thu tốt hơn.

III. Ứng dụng thực tiễn của cốm pha hỗn dịch uống từ vi hạt cefuroxim axetil

Cốm pha hỗn dịch uống từ vi hạt cefuroxim axetil mang lại nhiều lợi ích cho người sử dụng. Sản phẩm này không chỉ dễ sử dụng mà còn có khả năng hấp thu tốt hơn so với các dạng bào chế khác. Việc bào chế thành dạng cốm giúp cải thiện trải nghiệm của bệnh nhân, đặc biệt là trẻ em.

3.1. Lợi ích của cốm pha hỗn dịch uống

Cốm pha hỗn dịch uống giúp dễ dàng sử dụng cho bệnh nhân, đặc biệt là những người khó nuốt. Sản phẩm này cũng giúp cải thiện khả năng hấp thu của cefuroxim axetil, từ đó nâng cao hiệu quả điều trị.

3.2. Kết quả nghiên cứu về chất lượng cốm pha

Kết quả nghiên cứu cho thấy cốm pha hỗn dịch uống từ vi hạt cefuroxim axetil đạt các chỉ tiêu chất lượng cao. Đặc biệt, độ hòa tan và khả năng che vị của sản phẩm được đánh giá rất tốt, đáp ứng nhu cầu điều trị của bệnh nhân.

IV. Kết luận và triển vọng nghiên cứu bào chế vi hạt cefuroxim axetil

Nghiên cứu bào chế vi hạt cefuroxim axetil cho cốm pha hỗn dịch uống đã mở ra nhiều triển vọng mới trong ngành dược phẩm. Việc áp dụng các phương pháp bào chế hiện đại không chỉ giúp cải thiện chất lượng sản phẩm mà còn nâng cao hiệu quả điều trị cho bệnh nhân.

4.1. Tương lai của bào chế vi hạt trong ngành dược

Bào chế vi hạt sẽ tiếp tục được nghiên cứu và phát triển để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường. Các công nghệ mới sẽ được áp dụng để cải thiện chất lượng và hiệu quả của sản phẩm.

4.2. Đề xuất nghiên cứu tiếp theo

Nghiên cứu tiếp theo nên tập trung vào việc tối ưu hóa quy trình bào chế và đánh giá sâu hơn về khả năng hấp thu của vi hạt cefuroxim axetil. Điều này sẽ giúp nâng cao hiệu quả điều trị và đáp ứng tốt hơn nhu cầu của bệnh nhân.

27/07/2025
Ngô thị huyền tiếp tục nghiên cứu bào chế vi hạt cefuroxim axetil ứng dụng cho cốm pha hỗn dịch uống khóa luận tốt nghiệp dược sĩ

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Cefuroxim axetil (CFA) là tiền chất ester của cefuroxim, một kháng sinh nhóm cephalosporin thế hệ 2 phổ rộng, có tác dụng trên cả vi khuẩn gram âm và gram dương thông qua cơ chế ức chế tổng hợp thành tế bào vi khuẩn [5]. Hiện nay, trên thị trường, CFA được lưu hành dưới dạng viên nén bao phim, bột/cốm pha hỗn dịch uống, bột pha tiêm. Trong đó, bột/cốm pha hỗn dịch có nhiều ưu điểm như ổn định về mặt hóa học, thích hợp với các dược chất dễ bị thủy phân, dễ biến chất trong quá trình sản xuất và bảo quản [1]; khi sử dụng được pha thành hỗn dịch nên thích hợp với bệnh nhân là trẻ nhỏ, người cao tuổi, người khó nuốt…[2]. Tuy nhiên, CFA có vị rất đắng và không thể dễ dàng che giấu bằng cách thêm các chất làm ngọt, chất tạo hương, cần kết hợp thêm một số phương pháp khác để đạt được hiệu quả che vị tốt hơn [18].

Nhiều kỹ thuật đã được nghiên cứu không chỉ giúp che đi vị đắng của dược chất mà còn nâng cao sinh khả dụng và hiệu quả điều trị của thuốc như tạo vi nang, tạo phức với dược chất, sử dụng tiền thuốc, tạo hệ phân tán rắn… Trong đó, phương pháp tạo hệ phân tán rắn bằng phương pháp đun chảy có nhiều ưu điểm như: đơn giản, dễ thực hiện, không bị phụ thuộc nhiều vào thiết bị máy móc nên đem lại lợi ích về mặt kinh tế, có khả năng ứng dụng trong sản xuất công nghiệp… [7], [8], [28]. Nghiên cứu gần đây của Mai Phương Quỳnh (2021) đã khảo sát được một số tá dược sử dụng trong phương pháp tạo hệ phân tán rắn để che vị cho CFA. Tuy nhiên, vi hạt bào chế được có kích thước vẫn lớn (250-500 μm) [9] và chưa so sánh độ hòa tan với chế phẩm đối chiếu, trong khi CFA nằm trong danh mục các dược chất yêu cầu báo cáo nghiên cứu tương đương sinh học khi đăng ký lưu hành [6]. Từ những vấn đề trên, đề tài “Tiếp tục nghiên cứu bào chế vi hạt cefuroxim axetil ứng dụng cho cốm pha hỗn dịch uống” được thực hiện với các mục tiêu: - Đánh giá được ảnh hưởng của các yếu tố thuộc công thức đến một số chỉ tiêu chất lượng của vi hạt cefuroxim axetil và đề xuất được một số chỉ tiêu chất lượng cho vi hạt cefuroxim axetil bào chế được.

- Bào chế được cốm pha hỗn dịch từ vi hạt cefuroxim axetil và đánh giá một số chỉ tiêu chất lượng của cốm thu được. TỔNG QUAN VỀ CEFUROXIM AXETIL 1. Công thức hóa học - Công thức cấu tạo: CH3 O N O H S NH2 NH O O N O O O O O H3C O H3C Hình 1. Công thức cấu tạo của cefuroxim axetil - Công thức phân tử: C20H22N4O10S [4].

- Khối lượng phân tử: 510,5 g/mol [4], [51]. - Tên khoa học: (6R, 7R) - 3- (carbamoyloxymethyl)-7-[[(2Z)-2-(furan-2-yl)-2 methoxyiminoacetyl]amino]-8-oxo-5-thia-1-azabicyclo[4.0]oct-2-ene-2 carboxylic acid. Tính chất lý hóa và độ ổn định - CFA tồn tại ở dạng bột trắng hoặc gần như trắng, có vị đắng [4]. - Độ tan: khó tan trong nước và ethanol 96%, tan vô hạn trong aceton, tan tốt trong chloroform, ethyl acetat và methanol [51].

- CFA ở dạng tinh thể có nhiệt độ nóng chảy khoảng 180 oC, ở dạng vô định hình có nhiệt độ nóng chảy khoảng 135 oC [48]. - CFA ở cả dạng tinh thể và dạng vô định hình đều có xu hướng tạo gel khi tiếp xúc với nước. Hiệu ứng tạo gel này phụ thuộc vào nhiệt độ và thường xảy ra ở nhiệt độ khoảng 37 oC dẫn đến độ tan kém và ảnh hưởng đến sự hấp thu thuốc [18]. - Nhóm carbamoyloxy dễ bị thủy phân trong môi trường kiềm tạo muối carbonat và amoniac [3].

- CFA ổn định nhất trong khoảng pH 3,5 – 4,5. Động học thủy phân xảy ra theo phương trình bậc nhất trong khoảng pH từ 1 – 9. Khi được bảo quản trong môi trường ẩm ướt (độ ẩm > 50%), sự phân hủy của CFA có bản chất tự xúc tác [50]. Một số chế phẩm trên thị trường Một số chế phẩm bột/cốm pha hỗn dịch chứa CFA đang lưu hành trên thị trường được liệt kê ở bảng 1.

Một số biệt dược chứa cefuroxim axetil trên thị trường Tên biệt Hàm Dạng STT Tá dược Nhà sản xuất dược lượng bào chế Acid stearic, PVP K30, Cốm pha Glaxo Zinnat 125 hương hoa quả, đường 1 hỗn dịch Operations Suspension mg trắng, kali acesulfam, uống UK Limited aspartam, gôm xanthan Beta-cyclodextrin, đường trắng, tinh bột biến tính, Công ty Cốm pha Haginat 125 manitol, aspartam, TNHH MTV 2 hỗn dịch 125 mg Aerosil, acid citric khan, Dược phẩm uống natri cirtrat, natri DHG benzoat, bột hương dâu Chi nhánh Aspartam, natri CTCP Bột pha 125 carmellose, acid citric Armephaco – 3 Zincap 125 hỗn dịch mg khan, bột mùi dâu, Xí nghiệp uống đường trắng dược phẩm 150 Lactose, lycatab DSH, Bột pha Soruxim 125 đường, Aerosil, CTCP dược 4 hỗn dịch 125 mg aspartam, bột thơm mùi phẩm Am Vi uống trái cây Bột pha Công ty Tacerax 125 5 hỗn dịch Chưa có thông tin TNHH US 125 mg mg uống Pharma USA Bột pha CTCP dược 125 6 Midancef hỗn dịch Chưa có thông tin phẩm Minh mg uống Dân Nhận xét: như vậy, trên thị trường đã lưu hành nhiều chế phẩm dạng bột/cốm pha hỗn dịch uống chứa CFA. Dựa theo thành phần công thức được công bố và tổng quan tài liệu, có thể sơ bộ dự đoán được phương pháp che vị mà các chế phẩm đã sử dụng. Các chế phẩm đều sử dụng các chất làm ngọt và các chất tạo hương. Ngoài ra, một số chế phẩm sử dụng thêm các phương pháp khác để che vị cho CFA như Zinnat suspension có thể sử dụng chất mang là acid stearic, Haginat 125 có thể tạo phức giữa CFA và beta- cyclodextrin… 1.

TỔNG QUAN VỀ CHE VỊ CHO CHẾ PHẨM DÙNG ĐƯỜNG UỐNG Mùi vị khó chịu của dược chất là một trong những yếu tố ảnh hưởng lớn đến hiệu quả điều trị và mức độ tuân thủ liệu trình dùng thuốc của bệnh nhân, đặc biệt với đối tượng trẻ em, người cao tuổi và người khó nuốt – những bệnh nhân thích hợp với các dạng thuốc lỏng – dạng thuốc rất khó che giấu mùi vị. Vì vậy, việc nghiên cứu che giấu mùi vị cho dược chất là rất cần thiết. Các phương pháp che vị cho dược chất Cùng với sự phát triển của ngành công nghệ dược phẩm, các phương pháp che vị cho dược chất đã có nhiều tiến bộ. Nhiều kỹ thuật đã được nghiên cứu không chỉ giúp che đi vị đắng của dược chất mà còn nâng cao sinh khả dụng và hiệu quả điều trị của thuốc.

Dưới đây là các phương pháp che vị thường được sử dụng [24], [40], [42]. Che vị bằng chất làm ngọt và chất tạo hương: đây là phương pháp đơn giản nhất để che mùi vị, nhưng không đạt được hiệu quả với dược chất có vị đắng cao như quinin, celecoxib, azithromycin, cefuroxim axetil. Do đó, các chất làm ngọt và chất tạo hương thường được sử dụng kết hợp với các phương pháp khác để cải thiện khả năng che vị. Một số ví dụ về chất làm ngọt và chất tạo hương thường được sử dụng hiện nay được trình bày ở bảng 1.

Ví dụ về chất làm ngọt và chất tạo hương thường được sử dụng [40] Tá dược Ví dụ Đường trắng (1), lactose (0,16), mannitol Chất làm ngọt tự nhiên Chất làm (0,60), glycyrrhizin (50), mật ong, cam thảo… ngọt Saccarin (450), aspartam (200), sucralose Chất làm ngọt nhân tạo (600), kali acesulfam (137-200)… Chất tạo hương tự Nước trái cây, nước thơm, dầu bạc hà, dầu Chất tạo nhiên chanh… hương Chất tạo hương nhân Hương nho, hương vani… tạo *Giá trị trong ngoặc là độ ngọt tương đối của các chất làm ngọt so với đường trắng Che vị bằng cách tạo vi nang: dược chất được bao bằng các polyme không tan trong nước bọt do đó không cho dược chất dạng tự do tiếp xúc với các thụ thể vị giác. Các polyme bao phải đảm bảo ngăn cản việc giải phóng dược chất trong khoang miệng khi uống, nhưng cho phép giải phóng tại dạ dày hoặc ruột non, nơi thuốc được hấp thu. Các polyme, chủ yếu không hòa tan ở pH nước bọt 6,8 nhưng dễ dàng hòa tan ở pH dịch dạ dày 1,2 có thể sử dụng để che mùi vị. Tạo vi nang có thể được thực hiện bởi các phương pháp: phun đông tụ, phun sấy, bao tầng sôi, bốc hơi dung môi, tách pha.

Che vị bằng cách tạo phức với dược chất: vị đắng được che đi bằng cách hạn chế các nhóm gây đắng tiếp xúc với các thụ thể vị giác đồng thời giảm khả năng hòa tan dược chất trong miệng khi uống. Che vị bằng cách tạo hệ phân tán rắn: các hạt chứa dược chất tạo thành bằng cách đông đặc hỗn hợp nóng chảy của chất mang và dược chất sau đó được nghiền thành bột, hoặc bằng cách bốc hơi dung môi. Hệ phân tán rắn làm giảm diện tích tiếp xúc của dược chất với môi trường hòa tan. Một số chất mang thường được sử dụng: povidon, polyethylen glycol, HPMC, mannitol… Che vị bằng cách sử dụng chất mang lipid: chất mang này tạo độ nhớt cao trong miệng ngăn không cho thuốc dạng tự do gắn vào các thụ thể vị giác.

4 Che vị bằng cách nạp dược chất vào nhựa trao đổi ion: lợi dụng tính chất hấp phụ và giải phóng phụ thuộc pH của nhựa trao đổi ion để thuốc không giải phóng tại miệng (pH 6,8) mà vẫn giải phóng tại pH acid ở dạ dày (pH 1,2). Che vị bằng cách sử dụng tiền thuốc: Sử dụng tiền thuốc không có hoặc có ít vị đắng là một phương pháp hiệu quả để cải thiện mùi vị của dược chất mà vẫn không ảnh hưởng đến sinh khả dụng của thuốc. Che vị bằng cách thay đổi độ nhớt và pH môi trường: độ nhớt và pH môi trường ảnh hưởng lớn đến mức độ và tốc độ hòa tan của dược chất. Với những chất có độ tan thay đổi theo pH, điều chỉnh môi trường chế phẩm về pH có độ tan thấp nhất sẽ làm giảm vị đắng.

Các chất làm tăng độ nhớt như gôm hoặc carbohydrat có thể che đi vị đắng bằng cách làm giảm sự khuếch tán dược chất vào nước bọt, tạo ra rào cản giữa dược chất và các thụ thể vị giác. Che vị bằng cách sử dụng chất ức chế vị giác: các chất ức chế cạnh tranh gắn vào thụ thể, gây tê lưỡi làm mất khả năng cảm nhận vị giác. Một số chất ức chế thường được sử dụng: natri clorid, natri acetat, natri gluconat. Che vị bằng cách tạo hạt: tạo hạt sẽ làm tăng kích thước tiểu phân, từ đó làm giảm diện tích tiếp xúc của dược chất với môi trường hòa tan.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ