Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cở sở khoa học 1. Đặc điểm sinh trưởng và phát dục của lợn con Sinh trưởng là một quá trình sinh lý sinh hoá phức tạp, duy trì từ khi phôi thai được hình thành đến khi thành thục về tính. Theo Dương Mạnh Hùng (2007) [13] đã khái quát: sinh trưởng là quá trình tích luỹ các chất do đồng hoá và dị hoá, là sự tăng lên về chiều cao, chiều dài, chiều ngang, khối lượng của các bộ phận và toàn bộ cơ thể của con vật trên cơ sở đặc tính di truyền từ thế hệ trước.
“Thực chất của sinh trưởng chính là sự tăng trưởng và sự phân chia của các tế bào trong cơ thể”. Cùng với quá trình sinh trưởng các tổ chức cơ thể luôn hoàn thiện chức năng sinh lý của mình dẫn đến phát dục. Phát dục là một quá trình thay đổi về chất lượng tức là sự thay đổi, tăng thêm và hoàn chỉnh các tính chất, chức năng của các cơ quan, bộ phận trong cơ thể, nhờ vậy vật nuôi hoàn thiện được các chức năng của cơ thể sống. Lợn con trong giai đoạn bú sữa có khả năng sinh trưởng và phát dục nhanh.
Trần Văn Phùng và cs (2004) [26] cho biết: Tốc độ sinh trưởng của lợn không đều qua các giai đoạn, sinh trưởng nhanh trong 21 ngày đầu sau đó giảm. So với khối lượng sơ sinh thì sau 10 ngày tuổi khối lượng lợn con tăng gấp 2 lần, lúc 21 ngày tuổi gấp 4 lần, lúc 30 ngày tuổi tăng gấp 5- 6 lần, lúc 40 ngày tuổi tăng gấp 7- 8 lần, lúc 50 ngày tuổi tăng gấp 10 lần và lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 12- 14 lần. Sở dĩ như vậy là do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do lượng sữa mẹ bắt đầu giảm và hàm lượng Hemoglobin trong máu lợn con thấp. Do lợn có tốc độ sinh trưởng phát triển nhanh nên khả năng tích luỹ các chất dinh dưỡng rất mạnh.
Lợn con ở 21 ngày tuổi mỗi ngày có thể tích luỹ được 9- 14g protein/1kg khối lượng cơ thể. Trong khi đó lợn trưởng thành tích luỹ được 0,3- 0,4 kg protein. Hơn nữa để n 5 tăng 1kg khối lượng cơ thể, lợn con cần rất ít năng lượng nghĩa là tiêu tốn thức ăn lớn. Vì tăng khối lượng chủ yếu của lợn con là nạc, mà để sản xuất ra 1kg thịt nạc cần ít năng lượng hơn để sản xuất ra 1kg thịt mỡ.
Qua kết quả nghiên cứu trên cho thấy lợn là loài gia súc có khả năng sinh trưởng phát triển nhanh, nhưng để khai thác hết khả năng sản xuất thịt của chúng thì người chăn nuôi phải nắm vững đặc điểm sinh lý tiêu hoá của lợn để tác động đúng lúc và thu được hiệu quả kinh tế cao. Đặc điểm sinh lý tiêu hoá của lợn con Cùng với sự tăng lên của khối lượng cơ thể có sự phát triển các cơ quan trong cơ thể, trong đó cơ quan tiêu hoá của lợn con phát triển nhanh và hoàn thiện dần về chức năng. Có sự phát triển theo tuổi một cách rõ rệt nhưng vẫn chưa hoàn thiện. Khi còn trong bào thai cơ quan tiêu hoá của lợn đã hình thành đầy đủ nhưng mang dung tích bé.
Trong thời gian bú sữa cơ quan tiêu hoá phát triển và phát dục nhanh. Đặc điểm sinh lý tiêu hoá dạ dày lợn con Đặc điểm cơ quan tiêu hoá lợn con giai đoạn theo mẹ phát triển nhanh về cấu tạo và hoàn thiện dần về chức năng tiêu hoá. Dung tích dạ dày lợn con lúc 10 ngày tuổi tăng gấp 3 lần lúc sơ sinh, lúc 21 ngày tuổi tăng gấp 8 lần, lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 60 lần (dung tích lúc sơ sinh khoảng 0,03 lít). Đối với lợn con, sự tiết dịch có những đặc điểm khác biệt so với lợn lớn.
Theo Trương Lăng (2004) [17] lợn con 20 ngày tuổi có phản xạ tiết dịch còn chưa rõ, ban đêm lợn mẹ tiết nhiều sữa kích thích sự tiết dịch vị ở lợn con. Khi cai sữa lượng dịch vị tiết ra ngày và đêm gần bằng nhau, độ acid của dịch vị lợn con thấp nên hoạt hoá pepsin kém, khả năng diệt khuẩn kém. Hàm lượng acid biến đổi theo lứa tuổi của lợn con, acid HCl tự do xuất hiện ở 25- 30 ngày tuổi và diệt khuẩn rõ nhất ở 40- 50 ngày tuổi. Theo Hoàng Toàn Thắng và cs (2006) [32] cho biết chức năng tiêu hoá của lợn con sơ sinh chưa hoàn thiện.
Trong giai đoạn theo mẹ, chức năng của bộ máy tiêu hoá lợn con được hoàn thiện dần thể hiện sự thay đổi hoạt tính các enzyme trong dịch vị. n 6 - Men pepsin: lợn con dưới 1 tháng tuổi, men pepsin trong dạ dày lợn con chưa có khả năng tiêu hoá protein của thức ăn, vì lúc này dịch vị dạ dày lợn con không có HCl tự do, lượng acid tiết ra rất ít và nhanh chóng liên kết với dịch nhầy, gây ra hiện tượng thiếu acid hay còn gọi là “Hypoclohydric”. Sau 3 tuần tuổi, lượng HCl tự do trong dịch vị mới tăng dần. Đây là một đặc điểm quan trọng trong tiêu hoá dạ dày ở lợn con.
Khi có HCl tự do sẽ kích hoạt để men pepsinogen chuyển thành dạng pepsin hoạt động và men này mới có khả năng tiêu hoá đầy đủ. Vì thiếu HCl tự do nên dịch vị không có tính sát trùng, vi sinh vật xâm nhập vào dạ dày dễ sinh sôi nảy nở và phát triển gây bệnh về đường tiêu hoá ở lợn con đặc biệt là bệnh lợn con phân trắng. Có thể kích thích tế bào vách dạ dày lợn con tiết ra HCl tự do sớm hơn bằng cách bổ sung thức ăn sớm cho lợn con. Nếu tập cho lợn con ăn sớm vào lúc 5- 7 ngày tuổi thì HCl tự do có thể được tiết ra từ ngày tuổi thứ 14.
Còn trong dạ dày của loài ăn tạp, pepsin chỉ hoạt động tốt trong môi trường pH = 2,5- 3 với nồng độ HCl tự do từ 0,1- 0,5%. -Men catepsin: Là men tiêu hoá protein trong sữa có tác dụng giống men pepsin, thuỷ phân protein và các mạch peptit thành amino acid, hoạt động thích hợp trong khoảng pH= 4- 5. Vì thích hợp với pH cao nên catepsin hoạt động mạnh ở động vật non bú sữa khi mà HCl tự do hình thành chưa nhiều. Ở động vật trưởng thành catepsin hầu như không hoạt động, khi vật nuôi chết catepsin hoạt động phân giải protein dạ dày.
- Men chymosin (hay rennin) có hoạt tính mạnh trong 3 tuần đầu và sau giảm dần. Men này có tác dụng làm ngưng đặc sữa, hoạt động tốt ở pH= 4- 5. Dưới tác dụng của chymosin và Ca++, protein trong sữa là caseinogen ở dạng hoà tan chuyển thành caseinatcalci (dạng đông vón), có thể lưu lâu trong dạ dày tạo điều kiện cho pepsin hoạt động, phần nhũ thanh (dịch trong còn lại) của sữa được chuyển xuống ruột non để tiêu hoá. Đặc điểm cấu tạo và sinh lý tiêu hoá ruột Theo Trương Lăng, (2004) [17] thì dung tích ruột non ở lợn con sơ sinh là 100ml, 20 ngày tuổi tăng 7 lần, tháng thứ 3 đạt 6 lít, 12 tháng đạt 20 lít.
Ruột già ở lợn sơ sinh dung tích 40 - 50ml, 20 ngày 100ml, tháng thứ 3 khoảng 2,1 lít, tháng thứ 4 là 7 lít, tháng thứ 7 là 11 - 12 lít. Tiêu hoá ở ruột nhờ tuyến tuỵ, tuyến tuỵ tiết ra dịch tuỵ theo ống dẫn tuỵ Wirsung đổ vào tá tràng (chức năng ngoại tiết). Dịch tuỵ có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự tiêu hoá: Dịch tuỵ có tác dụng phân giải từ 60- 80% protein, gluxit và lipit của thức ăn. Trong dịch tuỵ có chứa các enzyme phân giải protein, phân giải bột đường và enzyme phân giải mỡ.
Hoạt tính của các enzyme thay đổi từ sơ sinh đến trưởng thành. * Nhóm enzyme phân giải protein - Men trypsine: Là enzyme chính của dịch tuỵ được tiết ra dưới dạng tripsinogen không hoạt động rồi được enterokinase của tá tràng hoạt hoá trở thành dạng trypsin hoạt động sau đó là quá trình hoạt hoá trypsinogen. Là men tiêu hoá protein của thức ăn, ở trong thai 2 tháng tuổi chất chiết đã có men trypsine, thai càng lớn hoạt tính của men trypsine càng cao. Khi lợn con mới đẻ ra, hoạt tính của men trypsine dịch tuỵ rất cao để bù đắp lại khả năng tiêu hoá kém của men pepsin dạ dày.
Trypsin có hoạt lực cao nhất ở pH = 8, tác dụng tương tự như pepsin nhưng hoạt lực mạnh và triệt để hơn. Ngoài ra trypsin còn phân giải protein thành polipeptid và amino acid. - Chimotripsin cũng được tiết ra dưới dạng không hoạt động là Chimotripsinogen sau đó được trypsin hoạt hoá chuyển thành Chimotripsin hoạt động, pH tối ưu = 8, tác dụng tương tự trypsin. - Alastase phân giải alastin (gân, bạc nhạc) thành peptid và amino acid.
n 8 - Carboxipolipeptidase tác dụng phân giải peptid ở đầu có nhóm COO- tự do và tách amino acid ra khỏi phân tử peptid. - Dipeptidase phân giải đipepti thành 2 amino acid. - Protaminase phân giải protamin thành peptid và amino acid. - Nuclease phân giải acid nucleic thành mono nucleotid.
* Nhóm men thuỷ phân glucid: - Men Amylase và Mantase: Hai men này có trong nước bọt và trong dịch tuỵ khi lợn con mới đẻ ra nhưng dưới 3 tuần hoạt tính còn thấp, do đó khả năng tiêu hoá tinh bột còn kém, chỉ tiêu hoá được 50% lượng tinh bột ăn vào. Đối với tinh bột sống, lợn con tiêu hoá càng kém. Sau 3 tuần tuổi, enzyme amylase và mantase có hoạt tính mạnh nên khả năng tiêu hoá tinh bột của lợn con tốt hơn. Amylase hoạt động tối ưu trong pH = 7,1.
Nó cắt liên kết 1 - 4α glucozit của cả tinh bột sống và chín cho ra maltose. Maltase phân giải đường maltose thành glucose. - Men Saccarase: Đối với lợn con dưới 2 tuần tuổi, men saccarase hoạt tính còn thấp, nếu cho lợn con ăn đường saccarase thì rất dễ bị ỉa chảy. - Men lipase: Hoạt động tối ưu ở pH= 6,8.
Lipase cắt các liên kết este giữa glycerol và acid béo,do đó phân giải glycerid đã được nhũ hoá bằng dịch ruột để tạo ra mono glycerid, acid béo và glycerol. - Men lactase: Có tác dụng tiêu hoá đường lactose trong sữa. Men này có hoạt tính mạnh ngay từ khi lợn con sinh ra và tăng cao nhất ở tuần tuổi thứ 2, sau đó hoạt tính của men này giảm dần. Qua nghiên cứu về quá trình phân tiết của men amylase, maltase và protease, chúng ta thấy sự phân tiết và hoạt động của các men này tăng dần theo sự tăng lên của ngày tuổi, men lipase tăng dần đến khi cai sữa sau đó giảm dần.
Riêng men lactase tăng cao nhất ở giai đoạn 2 tuần tuổi sau đó giảm dần theo sự tăng lên của ngày tuổi.