Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Ngành chăn nuôi đóng vai trò then chốt trong cơ cấu nông nghiệp Việt Nam, trong đó chăn nuôi lợn chiếm vị trí đặc biệt quan trọng khi cung cấp từ 75% đến 80% tổng sản lượng thịt tiêu thụ trên thị trường, đồng thời cung ứng nguồn phân bón hữu cơ cho trồng trọt và phụ phẩm cho công nghiệp chế biến. Nhằm nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, xu hướng chăn nuôi hiện đại tập trung vào việc lai tạo đàn lợn nội với các giống lợn ngoại cao sản có tầm vóc lớn, sinh trưởng nhanh và tỷ lệ nạc cao, kết hợp quy trình chăn nuôi tập trung theo phương thức công nghiệp khép kín.

Trong quy trình công nghệ chăn nuôi lợn nái sinh sản, giai đoạn lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi (theo mẹ) là mắt xích kinh tế - kỹ thuật mang tính quyết định. Đây là giai đoạn lợn con có tốc độ sinh trưởng nhanh nhưng cơ thể chưa hoàn thiện về chức năng điều hòa thân nhiệt, hệ tiêu hóa và hệ thống miễn dịch chủ động. Lợn con phải đối mặt với nhiều giai đoạn khủng hoảng sinh lý liên tiếp: biến đổi đột ngột từ môi trường tử cung sang ngoại cảnh, thiếu hụt sắt huyết học và hiện tượng thiếu hụt dinh dưỡng khi sản lượng sữa của lợn mẹ suy giảm sau tuần thứ 3. Nếu quy trình hộ lý, chăm sóc và vệ sinh phòng dịch không được thực hiện nghiêm ngặt, đàn lợn con rất dễ còi cọc, mắc hội chứng tiêu chảy, viêm đường hô hấp hoặc chết đè, gây thiệt hại nghiêm trọng về tỷ lệ sống và khối lượng cai sữa. Xuất phát từ thực tế sản xuất tại cơ sở chăn nuôi gia công quy mô lớn, đề tài đã được triển khai nhằm chuẩn hóa và đánh giá hiệu quả quy trình kỹ thuật tại địa phương.

Mục tiêu nghiên cứu của chuyên đề được xác định rõ:

  1. Tìm hiểu tình hình chăn nuôi tại trại lợn Trần Văn Tuyên, xã Đoàn Kết, huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình.
  2. Đánh giá việc áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi.
  3. Xác định tình hình nhiễm bệnh, cách phòng và trị bệnh cho lợn con nuôi tại trại.

Nhiệm vụ nghiên cứu tương ứng gồm:

  1. Đánh giá được tình hình chăn nuôi tại trại lợn Trần Văn Tuyên, xã Đoàn Kết, huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình.
  2. Áp dụng được các quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi.
  3. Xác định được tình hình nhiễm bệnh, biết cách phòng và trị bệnh cho lợn con nuôi tại trại.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Đàn lợn con theo mẹ từ giai đoạn sơ sinh đến 21 ngày tuổi.
  • Phạm vi nội dung: Quy trình kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng, can thiệp hộ lý sơ sinh, lịch phòng bệnh bằng vệ sinh thú y, vắc xin và công tác chẩn đoán, điều trị các bệnh phát sinh trên đàn lợn con.
  • Phạm vi không gian: Trại chăn nuôi lợn giống cụ kỵ (GGP) của ông Trần Văn Tuyên (hoạt động theo hình thức gia công cho Công ty Cổ phần Chăn nuôi C.P. Việt Nam) tại xóm Cửa Lũy, xã Đoàn Kết, huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình. Trang trại có quy mô diện tích 4,2 ha, thiết kế khép kín hoàn toàn cho 1.200 lợn nái cơ bản.
  • Phạm vi thời gian: Thực hiện theo dõi và thực nghiệm trực tiếp trong 6 tháng, từ ngày 18/11/2016 đến ngày 18/05/2017, kết hợp thu thập số liệu hồi cứu kết quả sản xuất của trang trại trong 3 năm (2015 - 2017).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Cơ sở khoa học của đề tài dựa trên các đặc điểm sinh lý học, miễn dịch học và cơ chế bệnh sinh ở lợn con giai đoạn bú sữa:

  • Đặc điểm sinh trưởng và biến đổi thành phần cơ thể: Lợn con sinh trưởng rất nhanh nhưng không đồng đều. Theo các công bố khoa học được tác giả dẫn giải, khối lượng lợn con lúc 10 ngày tuổi tăng gấp 2 lần, lúc 21 ngày tuổi tăng gấp 4 lần so với khối lượng sơ sinh; quá trình tích lũy protein ở lợn con sau 3 tuần tuổi đạt 9 - 14 g protein/kg thể trọng/ngày (cao vượt trội so với mức 0,3 - 0,4 g/kg thể trọng ở lợn trưởng thành). Song song với sinh trưởng, tỷ lệ nước trong cơ thể giảm nhanh từ 77,88% (sơ sinh) xuống 68,52% (7 ngày tuổi) và 63,94% (14 ngày tuổi), trong khi hàm lượng protein tăng từ 11,2% lên 14,37%.
  • Các thời kỳ khủng hoảng sinh lý: Gồm 3 mốc quan trọng: (1) Sơ sinh đến 1 tuần tuổi do thay đổi hoàn toàn môi trường sống, cơ thể non yếu dễ bị hạ thân nhiệt và lợn mẹ đè chết; (2) Giai đoạn 3 tuần tuổi do mâu thuẫn cung - cầu dinh dưỡng khi sản lượng sữa mẹ đạt đỉnh rồi giảm nhanh trong khi nhu cầu của con tăng cao; (3) Giai đoạn ngay sau cai sữa do chuyển đổi từ thức ăn dạng lỏng (sữa mẹ) sang thức ăn hỗn hợp nhân tạo.
  • Cơ chế miễn dịch thụ động và bổ sung khoáng chất: Lợn con sơ sinh hoàn toàn không có kháng thể trong máu; khả năng miễn dịch phụ thuộc hoàn toàn vào việc hấp thu thụ động gamma-globulin từ sữa đầu (colostrum) trong 24 giờ đầu sau sinh. Mặt khác, lợn con sơ sinh chỉ nhận được khoảng 1 mg sắt/ngày từ sữa mẹ, trong khi nhu cầu cơ thể đòi hỏi 7 - 16 mg sắt/ngày (hoặc 21 mg sắt cho mỗi kg tăng trọng). Do đó, thiếu hụt sắt huyết học là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến bần huyết, giảm hemoglobin, làm lợn con nhợt nhạt, suy giảm thực bào và dễ mắc hội chứng tiêu chảy phân trắng.
  • Cơ chế bệnh sinh đường tiêu hóa: Vi khuẩn Escherichia coli mang các yếu tố bám dính (như K88, K99), yếu tố dung huyết và độc tố ruột (Enterotoxin gồm độc tố chịu nhiệt ST và độc tố không chịu nhiệt LT) xâm nhập vào nhung mao ruột kết hợp cùng Clostridium perfringens gây tiêu chảy mất nước nghiêm trọng.

Phương pháp nghiên cứu thực địa và xử lý dữ liệu:

  • Phương pháp điều tra, thu thập thông tin: Sử dụng hệ thống sổ sách lưu trữ, thẻ nái, biểu ghi chép của trang trại để tổng hợp các chỉ tiêu năng suất đàn nái và cơ cấu đàn lợn giai đoạn 2015 - 2017.
  • Phương pháp can thiệp kỹ thuật chăm sóc - nuôi dưỡng:
    • Hộ lý sơ sinh: Dùng vải màn xô mềm lau khô nhớt theo trình tự miệng - mũi - đầu - mình - rốn - bốn chân; cắt rốn, bấm răng nanh; úm lợn con dưới đèn hồng ngoại ở nhiệt độ kiểm soát 32 - 35°C những ngày đầu và hạ dần xuống 21 - 27°C lúc cai sữa.
    • Cố định đầu vú: Bắt buộc lợn con yếu bú các đôi vú trước ngực (nhiều sữa), lợn to khỏe bú các hàng vú sau để tạo sự đồng đều trong đàn.
    • Thao tác ngoại khoa và bổ sung vi chất: Dùng kìm điện cắt đuôi để lại 2,5 - 3 cm; thiến lợn đực thương phẩm lúc 8 - 10 ngày tuổi; tiêm sắt dạng Ferri-Dextran (Fe + B12) liều 200 mg/con ở cơ cổ vào ngày thứ 3 sau sinh.
    • Tập ăn sớm: Cung cấp thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh chất lượng cao 550SF từ ngày tuổi thứ 4 - 6.
  • Phương pháp vệ sinh thú y và phòng bệnh: Phun sát trùng chuồng trại bằng Omnicide pha nồng độ 320 ml/1.000 lít nước (2 lần/ngày); xử lý tấm đan sàn nhựa chuồng đẻ bằng cách ngâm hố dung dịch NaOH 10% trong 1 ngày, rửa sạch, xịt vôi xút và rắc vôi bột gầm chuồng trước khi chuyển lứa mới; cho uống phòng thuốc cầu trùng Totrazil (Toltrazuril) lúc 3 - 6 ngày tuổi; tiêm vắc xin dịch tả lợn Coglapest lúc 18 - 21 ngày tuổi và vắc xin phòng viêm phổi do Mycoplasma lúc 7 - 21 ngày tuổi.
  • Phương pháp chẩn đoán lâm sàng: Quan sát tập tính, trạng thái bú, vận động, kiểm tra màu sắc phân và đo thân nhiệt trực tràng bằng nhiệt kế chuyên dụng thang đo 43°C (giữ 5 - 10 phút, xác định sốt ở ngưỡng 41 - 42°C).
  • Phương pháp xử lý số liệu: Tính toán tỷ lệ mắc bệnh, tỷ lệ điều trị khỏi theo công thức dịch tễ học thú y chuẩn; phân tích thống kê sinh vật học theo giáo trình của Nguyễn Văn Thiện (2008) bằng phần mềm Microsoft Excel 2007.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Tác giả nêu bật vị trí của ngành chăn nuôi lợn tại Việt Nam, lý giải tính tất yếu của việc ứng dụng kỹ thuật nuôi dưỡng và kiểm soát dịch bệnh nghiêm ngặt trên đàn lợn con bú sữa nhằm nâng cao hiệu quả chăn nuôi công nghiệp. Từ đó, xác lập rõ ràng hệ thống 3 mục đích và 3 yêu cầu cụ thể cần hoàn thành trong thời gian thực tập tốt nghiệp tại cơ sở.

Phần 2: Tổng quan nghiên cứu

Chương này cung cấp bức tranh toàn diện về đơn vị thực tập và cơ sở lý luận khoa học:

  • Cơ sở thực tập: Trại lợn Trần Văn Tuyên được thành lập theo mô hình liên kết gia công với Công ty Cổ phần Chăn nuôi C.P. Việt Nam. Cơ cấu nhân sự gồm nhóm quản lý (1 chủ trại, 1 bảo vệ), nhóm kỹ thuật (2 kỹ sư chăn nuôi, 1 kỹ sư di truyền, 1 kỹ thuật điện, 1 kế toán) và nhóm công nhân (15 công nhân, 7 sinh viên thực tập). Cơ sở vật chất phục vụ 1.200 nái cơ bản gồm 3 chuồng nái đẻ (mỗi chuồng 2 khu A-B, mỗi khu 2 dãy, mỗi dãy 29 ô, trang bị sàn nhựa cho con và sàn bê tông cho mẹ), 2 chuồng nái chửa (8 dãy/chuồng, 75 ô/dãy), 1 chuồng đực giống (34 ô cá thể và 1 ô khai thác tinh các giống Landrace, Yorkshire, Duroc), 4 chuồng cách ly lợn hậu bị (sức chứa 30 - 40 con/chuồng).
  • Cơ sở khoa học và tổng quan tài liệu: Trình bày hệ thống lý thuyết về sinh lý tiêu hóa, tiết sữa của lợn mẹ, các mốc khủng hoảng sinh lý lợn con, nhu cầu nhiệt độ chuồng nuôi (lợn 1 - 7 ngày cần 30 - 31°C, lợn trên 20 ngày cần 20 - 24°C), kỹ thuật tiêm bổ sung sắt, kỹ thuật cai sữa sớm (21 - 28 ngày tuổi) và các tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước về bệnh truyền nhiễm đường tiêu hóa, hô hấp (E. coli, Clostridium perfringens, Salmonella).

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Xác định đối tượng là đàn lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi tại trại trong giai đoạn từ 18/11/2016 đến 18/05/2017. Trình bày chi tiết danh mục chỉ tiêu theo dõi, quy trình vệ sinh - sát trùng chuồng trại, quy trình chăm sóc hàng ngày của kỹ thuật viên và công nhân (giao nhận ca, đập lợn, cào phân, lau sàn nhựa bằng chổi riêng cho ô khỏe và ô bệnh, thay giặt thảm úm, rắc vôi bột lối đi, cho ăn cám 550SF, lịch tiêm phòng và phác đồ theo dõi lâm sàng).

Phần 4: Kết quả và phân tích kết quả

Chương này tập trung toàn bộ các số liệu thực nghiệm thu thập được tại trại:

  • Đánh giá năng suất chăn nuôi đàn nái qua 3 năm (2015 - 2017) với xu hướng tăng dần về số nái sinh sản và sản lượng lợn con cai sữa.
  • Kết quả theo dõi 3.838 lợn con theo mẹ trong 6 tháng thực tập: phân tích biến động đàn theo tháng và theo 3 giai đoạn tuổi (sơ sinh - 7 ngày, 8 - 14 ngày, 15 - 21 ngày).
  • Đánh giá việc chấp hành quy trình vệ sinh phòng bệnh, công tác khử trùng chuồng trại theo bảng phân công ngày trong tuần, quy trình ngâm xử lý tấm đan bằng NaOH 10%.
  • Kết quả thực hiện tiêm phòng vắc xin đạt tỷ lệ tuyệt đối 100% cho toàn bộ 3.838 lợn con theo dõi (vắc xin cầu trùng, viêm phổi và dịch tả).
  • Thống kê tỷ lệ mắc 3 chứng bệnh phổ biến trên đàn lợn con gồm phân trắng lợn con (13,00%), viêm khớp (10,00%) và viêm phổi (4,01%), cùng các phân tích nguyên nhân về hộ lý, trình độ công nhân và yếu tố thời tiết mùa vụ.

Phần 5: Kết luận và đề nghị

Đúc kết các chỉ số sản xuất đạt được của trại và hiệu quả của quy trình nuôi dưỡng, phòng trị bệnh lợn con theo mẹ; đồng thời đề xuất trang trại cần tăng cường nhân lực có tay nghề và hoàn thiện đồng bộ trang thiết bị kỹ thuật để đáp ứng định hướng mở rộng quy mô lên 2.000 nái sinh sản.


Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã ghi nhận và tổng hợp các số liệu sản xuất thực tế tại trang trại, minh chứng qua các bảng số liệu trích xuất từ văn bản:

Bảng 1: Kết quả sản xuất của trại lợn giai đoạn 2015 – 2017

STT Chỉ tiêu theo dõi Năm 2015 Năm 2016 Năm 2017 (6 tháng đầu năm)
1 Tổng số nái sinh sản trung bình (con) 1.291 1.322 1.325
2 Tổng số lượt phối giống (lượt) 3.464 3.551 2.187
3 Tổng số lượt phối đạt (lượt) 3.120 3.236 2.005
4 Tỷ lệ phối đạt (%) 90,07 91,13 91,68
5 Tổng số nái xuống đẻ (con) 3.120 3.236 2.005
6 Tổng số lợn con sinh ra (con) 37.564 39.058 26.065
7 Trung bình số lợn con sinh ra/nái (con) 12,04 12,07 13,00
8 Tổng lợn con chết sơ sinh (con) 3.009 2.707 1.428
9 Tỷ lệ lợn con chết sơ sinh (%) 8,01 6,93 5,48
10 Trung bình số lợn con còn sống/nái (con) 11,08 11,23 12,29
11 Tổng số lợn con chết theo mẹ (con) 2.471 2.540 1.608
12 Tỷ lệ lợn con chết theo mẹ (%) 7,15 7,00 6,53
13 Trung bình số con cai sữa/nái (con) 10,29 10,45 11,49
14 Số lứa đẻ/nái/năm (lứa) 2,40 2,42 2,45
15 Số con cai sữa/nái/năm (con) 24,70 25,29 28,15
16 Số lợn con xuất bán trung bình/tháng (con) 2.468 2.542 2.618

Trong 6 tháng thực tập trực tiếp, tác giả đã theo dõi quá trình sinh trưởng và biến động số lượng trên đàn lợn con theo mẹ từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi với tổng số 3.838 con:

Bảng 2: Số lượng lợn con trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng tại trại qua các tháng

Tháng theo dõi Số lượng lợn theo dõi (con) Sơ sinh - 7 ngày tuổi (con) Từ 8 - 14 ngày tuổi (con) Từ 15 - 21 ngày tuổi (con)
12/2016 754 261 252 241
01/2017 696 243 230 223
02/2017 731 255 244 232
03/2017 687 241 227 219
04/2017 649 227 214 208
05/2017 321 112 106 103
Tổng cộng 3.838 1.339 1.273 1.226

Về công tác phòng bệnh đặc hiệu bằng vắc xin và chế phẩm sinh học, tác giả cùng đội ngũ kỹ thuật đã tiêm phòng đạt tỷ lệ 100% trên toàn bộ đàn theo dõi:

  • Phòng bệnh thiếu sắt: Tiêm Fe-Dextran bổ sung cho 3.838 lợn con lúc 2 - 3 ngày tuổi (đạt 100%).
  • Phòng bệnh cầu trùng: Cho uống Totrazil lúc 3 - 6 ngày tuổi cho 3.838 con (đạt 100%).
  • Phòng bệnh viêm phổi do Mycoplasma: Tiêm chủng cho 3.838 con trong giai đoạn 7 - 21 ngày tuổi (đạt 100%).
  • Phòng bệnh dịch tả lợn: Tiêm vắc xin nhược độc Coglapest cho 3.838 con lúc 18 - 21 ngày tuổi (đạt 100%).

Về tình hình dịch tễ lâm sàng, kết quả theo dõi 3 bệnh thường gặp trên 3.838 lợn con được ghi nhận:

Bảng 3: Tình hình mắc bệnh trên đàn lợn con nuôi tại trại

STT Tên bệnh Số lợn con theo dõi (con) Số lợn con mắc bệnh (con) Tỷ lệ mắc bệnh (%)
1 Bệnh phân trắng lợn con 3.838 499 13,00
2 Bệnh viêm khớp 3.838 384 10,00
3 Bệnh viêm phổi 3.838 154 4,01
Tổng cộng 3.838 1.037 27,01

Đóng góp và đề xuất của tác giả:

  • Khóa luận đã hệ thống hóa và chứng minh tính hiệu quả của quy trình chăn nuôi khép kín áp dụng theo tiêu chuẩn của Công ty Cổ phần Chăn nuôi C.P. Việt Nam tại trang trại quy mô trên 1.200 nái sinh sản.
  • Chỉ ra nguyên nhân chính khiến tỷ lệ mắc bệnh phân trắng còn ở mức 13,00% là do khâu hộ lý đỡ đẻ của công nhân mới chưa thuần thục, chuồng úm có thời điểm bị ảnh hưởng bởi biến động thời tiết chuyển mùa (tháng 4, tháng 5) và việc vệ sinh bầu vú mẹ trước khi đẻ chưa triệt để.
  • Kiến nghị trang trại cần bổ sung đủ định biên công nhân, tổ chức tập huấn kỹ thuật hộ lý sơ sinh, đồng thời đầu tư bổ sung trang thiết bị chuồng nuôi nhằm hiện thực hóa mục tiêu nâng tổng đàn lên 2.000 nái sinh sản.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu được xác định từ nội dung văn bản:

  • Đội ngũ công nhân tại trại còn thiếu về số lượng và chưa đồng đều về tay nghề, ảnh hưởng trực tiếp đến tính chuẩn xác và đồng bộ trong các thao tác hộ lý sơ sinh (cắt rốn, bấm nanh, cố định vú, vệ sinh chuồng úm), dẫn đến tỷ lệ lợn con mắc bệnh phân trắng và viêm khớp còn tương đối cao (chiếm lần lượt 13,00% và 10,00%).
  • Cơ sở vật chất và trang thiết bị vật tư của trang trại còn thiếu, chưa hoàn toàn đáp ứng tối đa nhu cầu của quy trình kỹ thuật chuẩn trong giai đoạn cao điểm.
  • Yếu tố thời tiết diễn biến phức tạp, đặc biệt là giai đoạn chuyển mùa nắng nóng vào các tháng 4 và tháng 5 năm 2017, làm gia tăng áp lực mầm bệnh và gây bất lợi cho sức đề kháng của lợn con theo mẹ.
  • Nghiên cứu chỉ dừng lại ở phạm vi chẩn đoán lâm sàng thông qua quan sát triệu chứng, thân nhiệt và màu sắc phân; chưa thực hiện được các xét nghiệm vi sinh vật học chuyên sâu (như phân lập vi khuẩn, kiểm tra độc lực plasmid hay làm kháng sinh đồ) do điều kiện thực địa tại trang trại sản xuất.

Hướng nghiên cứu và can thiệp tiếp theo:

  • Đẩy mạnh công tác đào tạo chuyên môn cho đội ngũ công nhân chăn nuôi trực tiếp tại các chuồng nái đẻ.
  • Nghiên cứu tối ưu hóa chế độ tiểu khí hậu chuồng nuôi (nhiệt độ, ẩm độ và tốc độ gió) trong các tháng thời tiết bất lợi để giảm tỷ lệ hao hụt lợn con.
  • Tiếp tục theo dõi, đánh giá hiệu quả kinh tế - kỹ thuật khi trang trại mở rộng quy mô lên 2.000 lợn nái sinh sản theo quy hoạch phát triển.

Giá trị tham khảo

Báo cáo khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng:

  • Sinh viên chuyên ngành Chăn nuôi, Thú y, Bác sĩ Thú y: Cung cấp một tài liệu mô tả chi tiết quy trình thực tế từ thao tác đỡ đẻ, lau dịch nhớt, cắt rốn, bấm nanh, tiêm sắt, tập ăn sớm bằng cám hỗn hợp hoàn chỉnh 550SF đến kỹ thuật cai sữa lúc 21 ngày tuổi.
  • Kỹ thuật viên và người quản lý trại lợn công nghiệp: Cung cấp quy trình an toàn sinh học chi tiết, đặc biệt là quy trình sát trùng chuồng trại định kỳ theo các ngày trong tuần (Bảng 4.3), quy trình xử lý tẩy uế tấm đan sàn nhựa bằng dung dịch NaOH 10% kết hợp vôi xút, và lịch dùng thuốc/vắc xin phòng bệnh nghiêm ngặt cho lợn con bú sữa.
  • Người thực hiện đề tài tốt nghiệp liên quan: Cung cấp khung phương pháp thu thập chỉ tiêu sản xuất của đàn nái sinh sản (tỷ lệ phối đạt, số con sơ sinh sống/nái, số con cai sữa/nái/năm) và phương pháp tính toán tỷ lệ mắc bệnh lâm sàng trên quy mô đàn lớn.

Câu hỏi thường gặp

1. Trại lợn Trần Văn Tuyên hoạt động theo phương thức nào và quy mô cơ sở vật chất ra sao?

Trang trại hoạt động theo hình thức gia công cho Công ty Cổ phần Chăn nuôi C.P. Việt Nam: chủ trại đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và thuê công nhân; công ty C.P. cung cấp giống lợn, thức ăn, thuốc thú y và cán bộ kỹ thuật giám sát. Trang trại có tổng diện tích 4,2 ha tại xã Đoàn Kết, huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình, được quy hoạch cho 1.200 lợn nái cơ bản, bao gồm 3 chuồng nái đẻ, 2 chuồng nái chửa, 1 chuồng nuôi 34 lợn đực giống (khai thác tinh các giống Landrace, Yorkshire, Duroc) và 4 chuồng cách ly nuôi lợn hậu bị.

2. Quy trình xử lý ngoại khoa và bổ sung vi chất cho lợn con sơ sinh tại trại được thực hiện như thế nào?

Ngay sau khi sinh, lợn con được lau khô nhớt, cắt rốn và bấm răng nanh. Đến 2 - 3 ngày tuổi, lợn con được bấm số tai, cắt đuôi bằng kìm điện (để lại 2,5 - 3 cm, sát trùng cồn iod 70°), thiến lợn đực thương phẩm lúc 8 - 10 ngày tuổi. Về vi chất, lợn con được tiêm bổ sung sắt bằng chế phẩm Ferri-Dextran (Fe + B12) với liều 200 mg/con vào vùng cơ cổ vào ngày thứ 3 sau khi sinh để phòng ngừa hiện tượng bần huyết và tiêu chảy do thiếu sắt.

3. Quy trình vệ sinh tiêu độc chuồng nái đẻ và tấm đan sàn nhựa sau khi cai sữa được tiến hành ra sao?

Sau khi cai sữa lợn con và chuyển lợn mẹ đi, toàn bộ tấm đan sàn nhựa được tháo rời và ngâm ngập trong hố sát trùng chứa dung dịch NaOH 10% trong vòng 1 ngày, sau đó cọ sạch và phơi khô. Khung chuồng được cọ rửa, xịt dung dịch NaOH loãng và quét vôi xút; gầm chuồng được tiêu độc khử trùng kỹ rồi rắc vôi bột. Ô chuồng được để khô 1 ngày trước khi lắp lại tấm đan và để trống tối thiểu 5 ngày mới tiếp nhận lứa lợn nái chờ đẻ tiếp theo. Hàng ngày chuồng nuôi được phun sát trùng bằng Omnicide tỷ lệ 320 ml/1.000 lít nước (2 lần/ngày).

4. Tỷ lệ mắc các bệnh thường gặp trên đàn lợn con theo mẹ trong thời gian thực tập là bao nhiêu?

Trên tổng số 3.838 lợn con theo dõi trong 6 tháng, có 1.037 con mắc bệnh (tỷ lệ 27,01%). Trong đó, bệnh phân trắng lợn con có tỷ lệ mắc cao nhất với 499 con (13,00%), tiếp theo là bệnh viêm khớp với 384 con (10,00%), và thấp nhất là bệnh viêm phổi với 154 con (4,01%). Toàn bộ đàn lợn con theo dõi đều được tiêm phòng vắc xin dịch tả lợn Coglapest, vắc xin viêm phổi và uống phòng cầu trùng Totrazil đạt tỷ lệ 100%.

5. Vì sao trang trại áp dụng tập ăn sớm cho lợn con từ 4 - 6 ngày tuổi?

Tập cho lợn con ăn sớm bằng thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh chất lượng cao 550SF nhằm kích thích bộ máy tiêu hóa bài tiết sớm các enzyme phân giải glucid, lipid, protid và hoàn thiện cấu trúc đường ruột. Việc này giúp bù đắp lượng dinh dưỡng thiếu hụt khi sản lượng sữa mẹ bắt đầu suy giảm mạnh sau tuần tiết sữa thứ 3, hạn chế hiện tượng lợn con nhấm nháp chất bẩn dưới sàn chuồng gây tiêu chảy, đồng thời giảm sự khai thác sữa kiệt quệ làm hao mòn lợn mẹ, tạo điều kiện thuận lợi để tiến hành cai sữa sớm lúc 21 ngày tuổi.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lê Phạm Thị Hồng đã phản ánh trung thực và chi tiết quy trình công nghệ chăm sóc, nuôi dưỡng và an toàn sinh học áp dụng trên đàn lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi tại cơ sở chăn nuôi gia công quy mô công nghiệp của Công ty Cổ phần Chăn nuôi C.P. Việt Nam. Dữ liệu thực nghiệm trên 3.838 lợn con cùng chuỗi số liệu sản xuất đàn nái giai đoạn 2015 - 2017 khẳng định hiệu quả của việc kiểm soát chặt chẽ quy trình hộ lý sơ sinh, tiêm sắt, tập ăn sớm và phòng bệnh chủ động bằng vắc xin. Công trình là nguồn tư liệu thực tiễn có giá trị chuyên môn cao đối với sinh viên chuyên ngành Chăn nuôi - Thú y và các cán bộ kỹ thuật tham gia quản lý trang trại lợn nái sinh sản khép kín.