Đặt vấn đề Chăn nuôi lợn hiện đang giữ một vị trí quan trọng trong ngành nông nghiệp của Việt Nam. Con lợn được xếp hàng đầu trong số các vật nuôi, cung cấp phần lớn thực phẩm cho nhân dân và phân bón cho sản xuất nông nghiệp. Đồng thời có tầm quan trọng đặc biệt trong việc làm tăng kim ngạch xuất khẩu, đây cũng là nguồn thu nhập ngoại tệ đáng kể cho nền kinh tế quốc dân. Lợn rất quen thuộc với con người, bởi vì nó đáp ứng một số nhu cầu khác nhau của con người.
Phạm vi phân bố của lợn rộng khắp nơi, điều này là do sự gắn bó gần gũi của nó đối với đời sống con người. Con người khám phá và đi đến các phần khác nhau của thế giới thông qua các phương tiện như thuyền, đi bộ, trong quá trình đó họ thường mang theo heo cùng với các vật nuôi được thuần hoá khác cũng như các loại giống cây trồng. Khi họ định canh trên một vùng đất mới nào đó, họ tiến hành trồng trọt và chăn nuôi các loại gia súc, gia cầm và trồng các loại cây mà họ mang theo, đồng thời họ tiến hành các thử nghiệm các giống cây trồng và vật nuôi mới. Giống nào có hiệu quả thi được giữ lại và phát triển, còn các giống khác thì bị loại thải.
Lợn là một vật nuôi được duy trì hàng ngàn đời nay. Điều này chứng tỏ rằng nó có quan hệ chặt chẽ với con người và hệ thống nông nghiệp. Tuy có rất nhiều thuận lợi nhưng ngành chăn nuôi lợn ở nước ta hiện nay vẫn đang gặp rất nhiều khó khăn, nhất là trong tình hình đất nước ta gia nhập hiệp định TPP thì càng yêu cầu ngành chăn nuôi trong nước phải có bước phát triển mạnh. Ngoài việc cung cấp lượng thực phẩm phục vụ nhu cầu hàng ngày, chúng ta còn phải cạnh tranh với các nước trên thế giới nhất là khi ngành chăn nuôi của chúng ta còn lạc hậu chưa phát triển.
Luan van 2 Đứng trước yêu cầu đó, ngành chăn nuôi nói chung cũng như ngành chăn nuôi lợn nói riêng phải có một bước phát triển mới để sánh kịp với các nước khác trên thế giới. Đặc biệt hiện nay tình hình chăn nuôi lợn gặp rất nhiều khó khăn nên chúng ta phải thực hiện nghiêm túc quy trình chăm sóc và nuôi dưỡng, quy trình phòng và trị bệnh khắt khe. Trước thực tế đó em thực hiện chuyên đề: “Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại trại Việt Anh - xã Hiệp Hòa - huyện Vĩnh Bảo - TP. Hải Phòng”.
Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề 1. Mục tiêu - Đánh giá tình hình chăn nuôi tại trang trại Việt Anh - xã Hiệp Hòa - huyện Vĩnh Bảo - thành phố Hải Phòng - Thực hiện được quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng lợn nái sinh sản. - Đánh giá tỷ lệ mắc một số bệnh trên đàn lợn nái và hiệu quả điều trị bệnh. Yêu cầu của chuyên đề - Nắm được tình hình chăn nuôi tại trang trại Việt Anh - xã Hiệp Hòa - huyện Vĩnh Bảo - Hải Phòng - Áp dụng được quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn nái sinh sản tại cơ sở.
- Biết được tỷ lệ mắc bệnh trên đàn lợn nái và hiệu quả điều trị bệnh. Luan van 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Điều kiện cơ sở nơi thực tập 2. Điều kiện tự nhiên * Vị trí địa lý Hiệp Hòa là một xã thuộc huyện Vĩnh Bảo với diện tích tự nhiên 5,05km2.
Địa hình Vĩnh Bảo là đồng bằng, đất nông nghiệp chiếm 67% tổng diện tích. Quốc lộ 37 và quốc lộ 5B chạy qua địa bàn huyện. Khoảng cách giữa huyện Vĩnh Bảo đến các địa điểm khác: + Cách TP. Hải Phòng khoảng 50 km + Cách Hà Nội, Sân bay quốc tế Nội Bài khoảng 102 km.
Thái Nguyên khoảng 190 km. Vị trí địa lí tiếp giáp của trang trại: + Phía Đông giáp xã Hồng Hưng, huyện Vĩnh Bảo, TP. Hải Phòng. + Phía Tây giáp xã Lê Lợi, huyện Vĩnh Bảo - TP.
Hải Phòng. + Phía Nam giáp Đoàn Thượng - huyện Vĩnh Bảo – TP Hải Phòng. + Phía Bắc giáp TT Vĩnh Bảo - huyện Vĩnh Bảo - TP Hải Phòng. * Điều kiện địa hình, đất đai Địa hình huyện Vĩnh Bảo là đồng bằng không có đồi núi, địa hình tương đối bằng phẳng với độ dốc nhỏ nhìn trung địa hình nghiêng từ Tây – Tây Bắc - Đông - Đông Nam.
Huyện có một số tài nguyên khoáng sản như: than, cát, muối. * Giao thông vận tải Huyện Vĩnh Bảo có đường giao thông thuận lợi đi qua các tỉnh lân cận như Thái Bình, Hải Dương. Huyện có 2 quốc lộ đi qua (quốc lộ 10 và quốc lộ Luan van 4 37), giao cắt tại thị trấn Vĩnh Bảo thuận lợi trong phát triển kinh tế, xã hội và giao lưu hàng hóa. * Văn hóa và xã hội Có nhiều sự đổi mới và có tiến bộ khoa học trong các lĩnh vực như: giáo dục và đào tạo, công tác y tế, truyền thanh, truyền hình, bưu chính viễn thông, điện lưới quốc gia 2.
Điều kiện cơ sở nơi thực tập * Quá trình thành lập Trại lợn Việt Anh được xây dựng năm 2010 là trại liên kết với công ty CP với quy mô 600 nái. Trại được xây dựng taị xã Hiệp Hòa thuộc huyện Vĩnh Bảo - TP. Hải Phòng. * Cơ sở vật chất Tổng diện tích trại khoảng 46.
Trong đó: - Diện tích chuồng: 13.000 m2 - Diện tích đất trồng cây: 5.000 m2 - Diện tích đất xây dựng: 2.000 m2 - Ao hồ chứa nước và nuôi cá: 25.000 m2 Trang trại đã dành 2.000m2 đất để xây dựng nhà điều hành, nhà ở cho công nhân, bếp ăn và các các công trình phục vụ cho công nhân và các hoạt động khác của trang trại. Trang trại nằm trên địa bàn xã Hiệp Hòa, có địa hình chủ yếu là đồng bằng đường giao thông đã được nâng cấp, thuận tiện cho việc đi lại, vận chuyển. * Cơ sở hạ tầng Để đảm bảo công tác phát triển sản xuất chăn nuôi và sinh hoạt của công nhân, trại được trang bị: Khu nhà điều hành, khu nhà ở cho công nhân, bếp ăn tập thể, các công trình phục vụ cho công nhân và các hoạt động khác của trại. Luan van 5 Khu chăn nuôi có hàng rào bao bọc xung quanh và có cổng vào riêng.
Chuồng trại được quy hoạch, bố trí xây dựng phù hợp với hướng chăn nuôi công nghiệp, hệ thống chuồng nuôi lồng, nền sàn bê tông cho lợn nái, lợn đực, sàn nhựa cho lợn con cùng với hệ thống vòi nước tự động và máng ăn. Chuồng nuôi được xây dựng đảm bảo đủ cho 600 nái cơ bản, bao gồm: + 3 chuồng nái đẻ: mỗi chuồng gồm khu A và khu B, mỗi khu có 2 dãy, mỗi dãy có 28 ô chuồng được thiết kế sàn nhựa cho lợn con và sàn bê tông cho lợn mẹ. + 1 chuồng nái chửa: Chuồng gồm 6 dãy, mỗi dãy có 89 ô để nuôi và chăm sóc lợn nái trong thời gian mang thai, được sắp xếp theo các kỳ mang thai khác nhau: Dãy 1 được thiết kế cho lợn nái chờ phối, có khu thử lợn, ép lợn và dãy 2 có khu làm nơi thụ tinh nhân tạo cho lợn nái. + 1 chuồng cách ly: dùng để nuôi lợn hậu bị được nhập từ các trại gia công lợn hậu bị của công ty cổ phần Chăn nuôi CP Việt Nam, chuồng có thể nuôi được từ 100 - 140 lợn hậu bị (mật độ tiêu chuẩn 2m2/1 nái hậu bị) Lợn được nuôi ở đây trong thời gian ít nhất là 60 ngày, thời gian này lợn được theo dõi tình trạng sức khỏe và sử dụng vắc xin đầy đủ trước khi được đưa lên làm lợn nái sinh sản.
Hệ thống chuồng được xây dựng khép kín hoàn toàn. Phía đầu chuồng là hệ thống giàn mát, cuối chuồng được thiết kế quạt hút gió, có hệ thống điện chiếu sáng và bóng đèn hồng ngoại để sưởi ấm, úm lợn con, đảm bảo thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông bằng cách điều chỉnh hệ thống quạt, giàn mát và bóng đèn sưởi ấm trong chuồng. Mỗi chuồng được lắp đặt máy bơm nước để tắm cho lợn và vệ sinh chuồng trại hằng ngày, cuối chuồng có hệ thống thoát phân và nước thải. Bên cạnh chuồng lợn đực có xây dựng phòng pha chế tinh, với đầy đủ dụng cụ và thiết bị như: kính hiển vi, nhiệt kế, đèn cồn, máy ép ống tinh, tủ lạnh bảo quản tinh, nồi hấp, panh, kéo… Trong khu chăn nuôi, Luan van 6 đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu khác đều được đổ bê tông và có các chậu nước sát trùng để trước cửa ra vào chuồng.
Nhìn chung khu vực chuồng nuôi được xây dựng khá hợp lý, thuận lợi cho việc chăm sóc, đi lại, đuổi lợn giữa các dãy chuồng. Ngay tại cổng vào khu chăn nuôi có xây dựng 3 phòng tắm sát trùng cho cán bộ kỹ thuật và công nhân trước khi ra, vào chuồng chăm sóc lợn, 1 kho thuốc, 1 kho cám, 1 phòng ăn và 2 phòng nghỉ trưa cho công nhân. Một số thiết bị khác cũng được trang bị đầy đủ: tủ lạnh bảo quản vắc xin, tủ thuốc để bảo quản và dự trữ thuốc của trại, xe chở cám từ nhà kho xuống các dãy chuồng, máy nén khí phun sát trùng di động khu vực trong và ngoài chuồng nuôi. Cơ cấu tổ chức của trại Cơ cấu tổ chức gồm: ►Chủ trại: 01 ►Kỹ sư: 01 ►Công nhân: 11 ►Sinh viên thực tập: 05 Với đội ngũ nhân công trên, trại phân ra làm các tổ khác nhau như tổ chuồng nái đẻ, tổ chuồng nái chửa.
Các tổ có bảng chấm công riêng cho từng công nhân trong tổ, ngoài ra các tổ trưởng có nhiệm vụ đôn đốc, quản lý các thành viên trong tổ nhằm nâng cao tinh thần trách nhiệm và thúc đẩy sự phát triển của trang trại. Tình hình sản xuất của trang trại * Công tác chăn nuôi Nhiệm vụ chính của trang trại là sản xuất con giống và chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật. Hiện nay, trung bình lợn nái của trại sản xuất được 2,45 lứa/năm. Số con sơ sinh là 12,69 con/đàn, số con cai sữa là 11,56 con/đàn lợn Luan van 7 con theo mẹ được nuôi đến 21 ngày tuổi, chậm nhất là 26 ngày thì tiến hành cai sữa và chuyển sang các trại chăn nuôi lợn giống của công ty CP.
Theo đánh giá của công ty cổ phần Chăn nuôi CP Việt Nam thì mức độ sản xuất của trại vào loại trung bình khá Trang trại có 11 con lợn đực giống. Các lợn đực giống này được nuôi nhằm mục đích kích thích động dục cho lợn nái và khai thác tinh để thụ tinh nhân tạo.