CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỂN VỀ CHẤT LƯỢNG NGUỒN LAO ĐỘNG NÔNG THÔN VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU LAO ĐỘNG NÔNG THÔN 1. Một số khái niệm về chất lượng nguồn lao động nông thôn 1. Khái niệm nguồn nhân lực Theo định nghĩa của Viện Nghiên cứu con người: Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một tổ chức, một địa phương một quốc gia trong tổng thể thống nhất hữu cơ năng lực xã hội (thể, trí, nhân cách) và tính năng động xã hội của con người, nhóm người, tổ chức, địa phương, vùng, quốc gia. Tính thống nhất đó được thể hiện ở quá trình biến đổi nguồn lực con người thành vốn con người đáp ứng yêu cầu phát triển.Stivastava (Ấn Độ) đã đưa ra định nghĩa về nguồn nhân lực dưới góc độ kinh tế như sau: “ Nguồn nhân lực được hiểu là toàn bộvốn nhân lực bao gồm thểlực, trí tuệ, kỹ năng nghề nghiệp mà mỗi cá nhân sở hữu.
Vốn nhân lực được hiểu là con người dưới dạng một nguồn vốn, thậm chí là nguồn vốn quan trọng nhất đối với quá trình sản xuất, có khả năng sản sinh ra các nguồn thu nhập trong tương lai hoặc như là nguồn của cải có thể làm tăng sự phồn thịnh về kinh tế. Nguồn vốn này là tập hợp những kỹ năng, kiến thức, kinh nghiệm tích lũy được nhờ vào quá trình lao động sản xuất. Do vậy, các chi phí về giáo dục, đào tạo, chăm sóc sức khỏe và dinh dưỡng,…để nâng cao khả năng sản xuất của nguồn nhân lực được xem như chi phí đầu vào của sản xuất, thông qua đầu tư vào con người” [35]. Theo Nguyễn Hữu Dũng đã luận giải bản chất của nguồn nhân lực dưới các lát cắt khá rộng sau: - Nguồn nhân lực là tiềm năng của con người có thể khai thác cho sự phát triển kinh tế - xã hội; - Nguồn nhân lực là số lượng và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực, phẩm chất và kinh nghiệm sống; 7 - Là tổng thể những tiềm năng, những lực lượng thể hiện sức mạnh và sự tác động của con người trong việc cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội; - Là sự kết hợp giữa trí lực và thể lực của con người trong sản xuất tạo ra năng lực sáng tạo và chất lượng, hiệu quả của hoạt động lao động [10].
Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) cho rằng phải hiểu phát triển nguồn nhân lực theo nghĩa rộng, không chỉ là sự hành nghề của dân cư hoặc bao gồm ngay cả vấn đề đào tạo nói chung (trình độ dân trí, trình độ chuyên môn kỹ thuật) mà còn là phát triển năng lực và sử dụng năng lực đó của con người để tiến tới có việc làm hiệu quả, cũng như thoả mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân. Nói cách khác phát triển nguồn nhân lực bao gồm 2 khía cạnh chính: phát triển về số lượng bao gồm phát triển lực lượng nguồn nhân lực và phát triển chất lượng bao gồm phát triển các yếu tố về văn hoá, sức khỏe, hay trình độ chuyên môn kỹ thuật. của nguồn nhân lực. Từ khái niệm phát triển nguồn nhân lực nói chung có thể rút ra khái quát về phát triển nguồn nhân lực là sự đầu tư vào con người, nguồn nhân lực thông qua các hoạt động giáo dục, đào tạo nghề, tăng cường kỹ năng và chăm sóc sức khỏe.
Khái niệm nguồn nhân lực nông thôn Nguồn nhân lực nông thôn (NNL) là một bộ phận của nguồn nhân lực nói chung, được phân bố ở nông thôn và làm việc trong các lĩnh vực kinh tế-xã hội trên địa bàn nông thôn, bao gồm: sản xuất nông, lâm, thủy sản, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ và các hoạt động phi nông nghiệp khác diễn ra ở nông thôn. NNL nông thôn phản ánh khía cạnh cơ cấu dân cư và lao động trong các ngành, các vùng, cơ cấu lao động đã qua đào tạo, cơ cấu trình độ lao động, cơ cấu độ tuổi trong lực lượng lao động nông thôn và cơ cấu nguồn lao động dự trữ ở nông thôn, phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn. NNL nông thôn là khái niệm phản ánh phương diện chất lượng của LLLĐ ở nông thôn trong hiện tại và trong tương lai gần thể hiện qua hàng loạt các yếu tố như: sức khỏe cơ thể và sức khỏe tinh thần; mức sống; trình độ giáo dục, đào tạo về văn hóa và về chuyên môn nghề nghiệp; năng lực sáng tạo, khả năng thích nghi, kỹ 8 năng và văn hóa lao động, các khía cạnh tâm lý, đạo đức, lối sống v., trong đó thể lực, trí lực và đạo đức là những yếu tố quan trọng nhất. Bên cạnh đó, nó cũng nói lên sự biến đổi và xu hướng của sự biến đổi về số lượng, chất lượng, cơ cấu dân cư và lực lượng lao động ở nông thôn.
Phát triển nguồn nhân lực nông thôn là giải quyết vấn đề phát triển người lao động nông thôn, phát triển nông dân và cơ cấu xã hội ở nông thôn. Phát triển NNL nông thôn là sự biến đổi số lượng và chất lượng NNL nông thôn về các mặt: cơ cấu, thể lực, kỹ năng, kiến thức và tinh thần. cần thiết cho công việc, nhờ vậy mà phát triển được năng lực của họ, ổn định công ăn việc làm, nâng cao địa vị kinh tế, xã hội và đóng góp cho sự phát triển xã hội. Phát triển NNL nông thôn trong quá trình CNH, HĐH là hoạt động nhằm tạo ra NNL có số lượng và chất lượng đáp ứng yêu cầu kinh tế - xã hội của giai đoạn CNH, HĐH đất nước.
Phát triển NNL nông thôn chính là quá trình làm gia tăng giá trị cho con người nông thôn trên các mặt như đạo đức, trí tuệ, kỹ năng, tâm hồn, thể lực, làm cho họ trở thành những người lao động có những năng lực và phẩm chất mới và cao, đáp ứng được những yêu cầu to lớn của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước. Từ những điều trình bày trên có thể khẳng định rằng phát triển NNL nông thôn là quá trình nâng cao năng lực của con người nông thôn về mọi mặt; đồng thời, phân bố, sử dụng và khai thác có hiệu quả nhất NNL nông thôn thông qua hệ thống phân công lao động và giải quyết việc làm ở nông thôn. Đặc điểm nguồn nhân lực nông thôn Quá trình phát triển đòi hỏi phải phân tích, đánh giá đúng và đầy đủ những đặc điểm của NNL nông thôn. Trên cơ sở phân tích đó, xác định phương hướng và giải pháp hợp lý, có hiệu quả nhằm sử dụng và phát triển nguồn tiềm năng quan trọng này.
Qua việc phân tích thực trạng NNL nông thôn và những vấn đề đang đặt ra ra đối với NNL nông thôn trong quá trình phát triển kinh tế xã hội. Ta thấy NNL nông thôn hiện nay có những đặc điểm sau: - Nguồn nhân lực ở nông thôn nước ta chiếm tỷ trọng lớn và tăng nhanh Do dân số nước ta phần lớn sống ở nông thôn nên NNL nông thôn hiện nay khá đông. Theo Tổng Cục Thống kê năm 2011, lao động nông thôn đạt 36,15 triệu 9 người, chiếm 70,33% lực lượng lao động cả nước (xem bảng 1. Mặc dù trong những năm gần đây tỷ lệ lao động ở nông thôn đã có xu hướng giảm, nhưng nhìn chung NNL nông thôn vẫn còn chiếm tỷ trọng lớn.1: Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động theo thành thị nông thôn ở Việt Nam giai đoạn 2000 – 2011 Năm Tổng số LĐ Thành thị Nông thôn Tỷ trọng Tỷ trọng Số lượng (%) Số lượng (%) 2000 38.203,1 69,87 (Nguồn: Niên giám thống kê và Kho dữ liệu điều tra biến động dân số và KHHGĐ-Tổng cục thống kê năm 2013) Đặc điểm này cho thấy tiềm năng nhân lực ở nông thôn nước ta rất to lớn và dồi dào.
Chỉ tính trong 5 năm (2007-2011) lao động nông thôn đã tăng lên 1.395,3 nghìn người. Đây là lực lượng lao động trẻ khỏe, có khả năng tiếp thu và nắm bắt kỹ thuật mới nhanh, sử dụng công nghệ mới, tiếp thu kiến thức kinh doanh tốt, nếu được bồi dưỡng và đào tạo chu đáo. 10 Tuy nhiên, NNL chiếm tỷ trọng lớn và tăng nhanh, cùng với quá trình đô thị hóa và mất dần đất nông nghiệp (nhất là vùng đồng bằng đông dân và vùng ven đô thị.) diễn ra tương đối nhanh như hiện nay, trong khi chưa đủ điều kiện để chuyển họ sang làm ngành nghề phi nông nghiệp và dịch vụ sẽ dẫn tới tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm tiềm tàng ở nông thôn là rất lớn, gây sức ép lớn về giải quyết việc làm và thu nhập, xóa đói giảm nghèo ở nông thôn, làm cho mâu thuẫn giữa khả năng tạo việc làm còn hạn chế với nhu cầu giải quyết việc làm quá lớn vốn đã căng thẳng lại càng căng thẳng hơn. Vì vậy vấn đề khắc phục mất cân đối cung- cầu về lao động ở nước ta phải giải quyết bắt đầu từ nông nghiệp, nông thôn.
- Nguồn nhân lực nông thôn nước ta phân bố không đều giữa các ngành và các vùng. Thực tế cho thấy, cơ cấu NNL nông thôn nước ta hiện nay phân bố chưa hợp lý và còn nhiều bất cập. Xét theo cơ cấu ngành thì ngành nông nghiệp là ngành chiếm tỷ trọng việc làm lớn nhất của nước ta. Năm 2011 có 24,36 triệu người có việc làm trong ngành này, chiếm 48,39% tổng số người có việc làm (xem hình 1.
Tỷ trọng này đã giảm đáng kể trong giai đoạn vừa qua, so với năm 2000 đã giảm được 16,71%. Lao động ngành dịch vụ cả nước tiếp tục tăng trưởng trong hơn 10 năm qua, từ năm 2000 đến năm 2011 số lượng lao động của ngành dịch vụ đã tăng lên gần gấp đôi từ 8,1 triệu người năm 2000 lên 15,3 triệu người năm 2011, nâng tỷ trọng từ 21,80% năm 2000 lên 30,33% năm 2011. Lao động công nghiệp, mặc dù còn khiêm tốn về quy mô so với ngành nông nghiệp và dịch vụ, đang có sự tăng trưởng cũng khá ấn tượng. Đến năm 2011, lao động công nghiệp cả nước đạt 10,75 triệu người tăng hơn gấp đôi so với năm 2000 (4,9 triệu người) và chiếm 21,29% tổng số lao động.
Tăng trưởng việc làm ở trong nước chủ yếu là kết quả của việc chuyển dịch lao động từ ngành nông nghiệp sang hai ngành công nghiệp và dịch vụ.1: Tỷ trọng việc làm phân theo ngành kinh tế, 2000 – 2011 (Nguồn: Niên giám thống kê năm 2010 và năm 2011) Lao động trong nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn, công nghiệp và dịch vụ đã có những bước phát triển mới nhưng tốc độ phát triển còn chậm.