Chương 1 tác giả cũng giới thiệu tóm tắt bố cục của luận văn gồm 05 chương đồng thời định hướng nội dung thực hiện cho những chương sau. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương 2 tác giả trình bày các lý thuyết có liên quan làm cơ sở cho việc xây dựng các giả thuyết nghiên cứu và mô hình nghiên cứu. Chương này gồm các lý thuyết về tự chủ đại học, cạnh tranh, năng lực cạnh tranh, lợi thế cạnh tranh, các nghiên cứu trước đây liên quan đến năng lực cạnh tranh. Từ đó, tác giả xây dựng các giả thuyết nghiên cứu và mô hình nghiên cứu.
Lý thuyết về tự chủ đại học Theo từ điển Tiếng Việt thì: “Tự chủ là tự điều hành, quản lí mọi công việc của mình, không bị ai chi phối”. Hay nói cách khác, tự chủ là khả năng tự điều hành và quản lý mọi công việc của một cá nhân hay một tổ chức nhằm thực hiện nhiệm vụ được giao đạt hiệu quả cao nhất có thể. Theo hai tác giả Anderson and Johnson (1998), Tự chủ đại học (university autonomy) được định nghĩa là sự tự do của một cơ sở giáo dục đại học trong việc điều hành các công việc của trường mà không có sự chỉ đạo hoặc tác động từ bất cứ cấp chính quyền nào. Còn theo báo cáo đề dẫn của Debreczeni (2002) trong Hội thảo quốc tế “Tự chủ và tự chịu trách nhiệm của tổ chức” thì tự chủ thể chế (institutional autonomy) là điều kiện cho phép một tổ chức giáo dục đại học điều hành hoạt động của tổ chức mà không có sự can thiệp từ bên ngoài.
Tự chủ của cơ sở giáo dục đại học hoàn toàn không có nghĩa là nó nằm ngoài sự chi phối của luật pháp. Nó là tự chủ có điều kiện và các điều kiện này được xác định bởi mối quan hệ giữa Nhà nước, xã hội và cơ sở giáo dục đại học (Nguyễn Trọng Tuấn, 2018). Tự chủ đại học không phải là một sản phẩm tự thân mà nó gắn liền với các chế độ xã hội khác nhau. Tự chủ đại học sẽ tạo động lực để các cơ sở giáo dục đại học đổi mới nhằm đạt hiệu quả cao hơn trong hoạt động của mình, đồng 9 thời cũng làm tăng tính cạnh tranh, tạo điều kiện để đa dạng hóa các hoạt động giáo dục.
Mức độ tự chủ đại học gắn liền với mô hình tự chủ và luôn được thay đổi cho phù hợp với bối cảnh kinh tế - xã hội của từng quốc gia. Điển hình trong báo cáo tổng quan về xu thế quản trị đại học trên thế giới của World Bank 2008, báo cáo đã khái quát bốn mô hình quản trị đại học với các mức độ tự chủ khác nhau, từ mô hình Nhà nước kiểm soát hoàn toàn (state control) như ở Malaysia, đến các mô hình bán tự chủ (semi-autonomous) như ở Pháp và New Zealand, mô hình bán độc lập (semi-independent) ở Singapore, và mô hình độc lập (independent) ở Anh, Úc. Dù mô hình và mức độ tự chủ có khác nhau nhưng với mục tiêu tự chủ mở ra cho các cơ sở giáo dục đại học nâng cao tính chủ động, sáng tạo trong quản lý nguồn tài chính, tiết kiệm chi phí và huy động được các nguồn lực tài chính trong xã hội nhằm nâng cao các điều kiện giảng dạy, nghiên cứu khoa học trong công tác đào tạo. Một khái niệm khác cho rằng: “Tự chủ là một hệ giải pháp có cấu trúc chặt chẽ nhắm đến việc cải thiện môi trường giáo dục để nâng cao chất lượng dạy và học.
Hạt nhân của khái niệm tự chủ là văn hoá quản lý phân quyền. Sự phân cấp về trách nhiệm công việc và trách nhiệm giải trình trong học thuật cũng như là trong các chức năng quản lý được tiến hành đồng thời là điều thiết yếu để đảm bảo sự thành công trong tự chủ” Lê Tấn Huỳnh Cẩm Giang (2009). Tại Hội thảo “Cơ chế tự chủ trong đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, 2019” tác giả Nguyễn Đình Hưng đã phát biểu trao quyền tự chủ cho các cơ sở giáo dục đại học công lập đã trở thành mối quan tâm trên toàn thế giới. Trong đó, tự chủ đại học gồm 4 nội dung: (i) Tự chủ về tổ chức, (ii) Tự chủ về tài chính, (iii) Tự chủ về học thuật, (iv) Tự chủ về nhân sự, hoặc theo (Berdahl, 1990; Raza, 2009) tự chủ đại học gồm: tự chủ toàn diện và tự chủ về quy trình.
Tự chủ toàn diện bao gồm các khía cạnh của học thuật và nghiên cứu, còn tự chủ về quy trình bao gồm những lĩnh vực phi học thuật liên quan nhiều đến vấn đề tài chính. 1 Có thể thấy nội dung tự chủ được quan niệm theo các cách khác nhau, nhưng nhìn chung đều cho rằng tự chủ tài chính là một nội dung quan trọng để thực hiện tự chủ trong các cơ sở giáo dục đại học công lập. Để tự chủ, các cơ sở giáo dục đại học công lập cần phải được tự chủ tài chính, bởi các cơ sở giáo dục đại học công lập tự chủ về nguồn tài chính càng cao thì được tự chủ cao trong triển khai thực hiện nhiệm vụ về tổ chức bộ máy và nhân sự, về quản lý, sử dụng kết quả tài chính và ngược lại. Tự chủ trong học thuật là sự tự do của cơ sở giáo dục đại học trong việc quyết định những vấn đề thuộc về học thuật như là chương trình, tài liệu giảng dạy, phương pháp sư phạm, kỹ thuật đánh giá thành quả học tập của sinh viên.
Tự chủ trong quản trị là sự tự do của cơ sở đào tạo trong việc sắp xếp và tổ chức các sự kiện, các mối quan hệ liên quan đến công việc lập kế hoạch, tổ chức và điều phối. Sự tự do trong công việc như vậy sẽ thúc đẩy sự năng động và sự phát triển của từng cá nhân và kéo theo đó là sự vững mạnh của cơ sở giáo dục đại học. Sự tự chủ về tài chính là sự tự do của cơ sở đào tạo trong việc sử dụng các nguồn lực tài chính theo chiến lược ưu tiên mà mình lựa chọn. Tự chủ và tự chịu trách nhiệm là hai mặt của một vấn đề duy nhất.
Trách nhiệm giải trình khiến các cơ sở giáo dục đại học phải điều chỉnh sự tự do đã được trao cho họ theo con đường của sự tự chủ. Tóm lại, quyền tự chủ là quyền của cơ sở giáo dục đại học được tự xác định mục tiêu và lựa chọn cách thức thực hiện mục tiêu; tự quyết định và có trách nhiệm giải trình về hoạt động chuyên môn, học thuật, tổ chức, nhân sự, tài chính, tài sản và hoạt động khác trên cơ sở quy định của pháp luật và năng lực của cơ sở giáo dục (Luật Giáo dục đại học, 2018). Lý thuyết về cạnh tranh, lợi thế cạnh tranh, năng lực cạnh tranh 2. Cạnh tranh 1 Cạnh tranh là một thuật ngữ được dùng phổ biến nhưng cũng tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau.
Việc nghiên cứu hiện tượng cạnh tranh đã có từ lâu và lý thuyết về cạnh tranh cũng xuất hiện từ rất sớm với các trường phái nổi tiếng như: lý thuyết cạnh tranh cổ điển, lý thuyết cạnh tranh của trường phái tân cổ điển và lý thuyết cạnh tranh hiện đại. Các lý thuyết này đã làm rõ bản chất của cạnh tranh, vai trò và tác động của cạnh tranh, các phương thức cạnh tranh v. Ngoài các nhà kinh tế cổ điển và các nhà kinh điển, các lý thuyết cạnh tranh gắn với các tên tuổi nổi tiếng của trường phái cạnh tranh hoàn hảo như w. và trường phái cạnh tranh hiện đại như E.Aglietta, Micheal Porter, Micheal Eairbank.
Tiếp cận dưới góc độ chủ thể của cạnh tranh, từ điển Bách khoa của Việt Nam ghi nhận: “Cạnh tranh trong kinh doanh là hoạt động ganh đua giữa những người sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối bởi quan hệ cung - cầu nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất”. Theo Porter (1985, 1998) cạnh tranh là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có. Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả là giá cả có thể giảm đi.
Cạnh tranh là nguồn gốc tạo ra động lực cho sự phát triển. Cạnh tranh không phải để diệt trừ đối thủ mà là để nâng cao chất lượng chính bản thân doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển trong môi trường luôn vận động và biến đổi. Trên cơ sở kết hợp giữa quan niệm truyền thống với hiện đại, tác giả Nguyễn Mạnh Tuân (2019) đưa ra khái niệm cạnh tranh kinh tế nên tiệm cận với 1 quan điểm cạnh tranh dưới góc độ sinh học của Darwin. Nghĩa là, cạnh tranh là tập hợp các hành vi của các chủ thể kinh tế nhằm thích ứng với môi trường kinh doanh để tồn tại và phát triển.
Lợi thế cạnh tranh Lợi thế cạnh tranh là sở hữu những giá trị đặc thù, có thể sử dụng được để “nắm bắt cơ hội” và kinh doanh có lãi. Nói đến lợi thế cạnh tranh là nói đến lợi thế mà một doanh nghiệp, một quốc gia đang có so với các đối thủ cạnh tranh của họ. Trong nghiên cứu này, khái niệm lợi thế cạnh tranh được khởi phát từ quan điểm của Giáo sư Michael E. Porter – một trong những chiến lược gia hàng đầu của thế giới hiện đại, dựa theo hai tác phẩm nổi tiếng: Lợi thế cạnh tranh (1985) và Lợi thế cạnh tranh quốc gia (1990).
Ông cho rằng, nếu một công ty chỉ tập trung vào hai mục tiêu tăng trưởng và đa dạng hóa sản phẩm thì không đảm bảo cho sự thành công lâu dài. Một công ty cần xây dựng lợi thế cạnh tranh bền vững. Lợi thế cạnh tranh là một khái niệm vừa có tính vi mô (cho doanh nghiệp), vừa có tính vĩ mô (ở cấp quốc gia). Lợi thế cạnh tranh bền vững là doanh nghiệp phải liên tục cung cấp cho thị trường một giá trị đặc biệt mà không có đối thủ cạnh tranh nào có thể cung cấp được (M.
Lợi thế cạnh tranh bền vững của doanh nghiệp có 4 đặc trưng: (1) Nó có giá trị, có thể giúp doanh nghiệp tạo ra giá trị, giảm giá thành, nâng cao hiệu quả kinh doanh. (2) Nó có tính độc đáo, kết hợp với các nguồn lực bằng một phương thức độc đáo.