Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH 1. Cơ sở lý luận về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh 1. Khái niệm cạnh tranh Cạnh tranh là một trong những đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường. Hoạt động của nó không bị giới hạn bởi không gian và thời gian.
Cạnh tranh là động lực của sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế.[14] Theo quan điểm của Các Mác: Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản để giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch. Theo cuốn Từ điển rút gọn về kinh doanh đã định nghĩa như sau: Cạnh tranh là sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm giành giật cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình. Giới lý luận phương Tây nghiên cứu lý luận cạnh tranh trên các mặt kinh tế, chính trị và xã hội đã xoay quanh 4 vấn đề cốt lõi của cạnh tranh là: Cạnh tranh hoặc quy tắc có phải là cơ sở đúng đắn và thích hợp với tổ chức xã hội không? Cạnh tranh và hợp tác có phải là phương thức tự nhiên của hành vi con người hay không? Đứng trước vấn đề cạnh tranh, người ta có sự lựa chọn nào khác không? Hành vi cạnh tranh có thể cùng tồn tại một cách hòa thuận với phương thức hành vi xã hội hoặc hành vi tập thể được tuân theo một cách rộng rãi hay không?. Kinh tế học của P.
Samuelson định nghĩa: “Cạnh tranh là sự tranh giành thị trường để tiêu thụ sản phẩm giữa các nhà doanh nghiệp”. Theo các tác giả của cuốn Các vấn đề pháp lý về thể chế, về chính sách cạnh tranh và kiểm soát độc quyền kinh doanh thì: “Cạnh tranh có thể được hiểu là sự ganh đua giữa các doanh nghiệp trong việc giành một số nhân tố LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 sản xuất hoặc khách hàng nhằm nâng cao vị thế của mình trên thị trường, để đạt được mục tiêu kinh doanh cụ thể”. Ở Việt Nam, khi đề cập đến “cạnh tranh” người ta thường nói đến vấn đề giành lợi thế về giá cả hàng hóa, dịch vụ mua bán và đó là phương thức để giành lợi nhuận cao hơn cho các chủ thể kinh tế. Trên quy mô toàn xã hội, cạnh tranh là phương thức phân bổ các nguồn lực một cách tối ưu và do đó nó trở thành động lực bên trong thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Mặt khác, với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận của các chủ thể kinh doanh, cạnh tranh cũng dẫn đến yếu tố thúc đẩy quá trình tích lũy và tập trung tư bản không đều ở các doanh nghiệp. Cạnh tranh còn có tác dụng thúc đẩy quá trình sản xuất phát triển. Bởi vì thông qua cạnh tranh, sẽ kích thích các doanh nghiệp nghiên cứu và ứng dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ mới vào sản xuất để tạo ra được những sản phẩm tốt hơn, giá rẻ hơn và dịch vụ tốt hơn. Để không bị đào thải, cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải luôn đổi mới, nâng cao sự linh hoạt và sáng tạo trong hoạt động kinh doanh của mình.[14] Từ những nhận định trên, khái niệm cạnh tranh trong kinh doanh có thể hiểu như sau: Cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau tìm mọi biện pháp, cả nghệ thuật lẫn thủ đoạn để đạt được mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng, cũng như các điều kiện sản xuất, thị trường có lợi nhất.
Mục đích cuối cùng của các chủ thể kinh tế trong quá trình cạnh tranh là tối đa hóa lợi ích. Đối với người sản xuất kinh doanh là lợi nhuận, đối với người tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng và sự tiện lợi. Vai trò của cạnh tranh trong doanh nghiệp Vai trò, tác dụng tích cực của cạnh tranh thể hiện ở những điểm sau: Thứ nhất, đối với nền kinh tế, cạnh tranh làm sống động nền kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng và tạo ra áp lực buộc các doanh nghiệp phải sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, qua đó góp phần tiết kiệm các nguồn lực chung của LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 nền kinh tế. Mặt khác, cũng tạo ra áp lực buộc các doanh nghiệp phải đẩy nhanh tốc độ quay vòng vốn, sử dụng lao động hiệu quả, tăng năng suất lao động, góp phần thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế quốc dân.
Thứ hai, đối với quan hệ đối ngoại, cạnh tranh giúp thúc đẩy doanh nghiệp mở rộng thị trường ra khu vực và thế giới, tìm kiếm thị trường mới, liên kết liên doanh với các doanh nghiệp nước ngoài, qua đó tham gia sâu vào phân công lao động và hợp tác kinh tế quốc tế, tăng cường giao lưu vốn, lao động, khoa học công nghệ với các nước trên thế giới. Thứ ba, đối với các chủ thể sản xuất kinh doanh, cạnh tranh tạo áp lực buộc họ phải thường xuyên tìm tòi sáng tạo, cải tiến phương pháp sản xuất và tổ chức quản lý kinh doanh, đổi mới công nghệ, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, phát triển các sản phẩm mới, tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm. Qua đó, nâng cao trình độ của công nhân và các nhà quản lý các cấp trong doanh nghiệp. Mặt khác, cạnh tranh giúp sàng lọc khách quan đội ngũ những nhân viên không có khả năng thích ứng với sự thay đổi của thị trường.
Thứ tư, đối với người tiêu dùng, cạnh tranh tạo ra một áp lực liên tục đối với giá cả, buộc các doanh nghiệp phải tìm cách hạ giá thành sản phẩm để nhanh chóng bán được sản phẩm, qua đó người tiêu dùng được hưởng các lợi ích từ việc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cung cấp cùng một loại sản phẩm, dịch vụ. Mặt khác, cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải mở rộng sản xuất, đa dạng hóa về chủng loại, mẫu mã vì thế người tiêu dùng có thêm nhiều lựa chọn theo nhu cầu và thị hiếu của mình.[12] Bên cạnh các mặt tích cực của cạnh tranh, luôn luôn tồn tại những hạn chế, tiêu cực, những khó khăn trở ngại đối với các doanh nghiệp mà đôi khi doanh nghiệp không thể tránh khỏi. Thứ nhất, cạnh tranh tất yếu dẫn đến tình trạng các doanh nghiệp yếu sẽ bị phá sản, gây nên tổn thất chung cho tổng thể nền kinh tế. Mặt khác, sự phá sản của các doanh nghiệp dẫn đến tình trạng hàng loạt người lao động bị thất LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 nghiệp, tạo nên gánh nặng lớn cho xã hội, buộc Nhà Nước phải tăng trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ việc làm.
Bên cạnh đó cũng làm nảy sinh nhiều tệ nạn xã hội khác gây ảnh hưởng đến đời sống xã hội. Thứ hai, cạnh tranh tự do tạo nên một thị trường sôi động nhưng ngược lại cũng dễ gây nên tình trạng hỗn loạn, gây rối nền kinh tế xã hội. Điều này dễ dẫn đến tình trạng để đạt được mục đích, một số nhà kinh doanh có thể bất chấp mọi thủ đoạn “phi kinh tế”, “phi đạo đức kinh doanh”, bất chấp pháp luật và đạo đức xã hội để đánh bại đối thủ bằng mọi giá, gây hậu quả lớn về mặt kinh tế, xã hội. Chức năng của cạnh tranh trong doanh nghiệp Cạnh tranh là yếu tố tích cực giúp cho doanh nghiệp phát triển và là động lực của nền kinh tế thị trường.
Chức năng của cạnh tranh trong doanh nghiệp thể hiện ở: - Cạnh tranh giúp đảm bảo điều chỉnh quan hệ cung cầu. - Cạnh tranh giúp điều khiển sao cho những nhân tố sản xuất sẽ được sử dụng hiệu quả nhất, làm giảm chi phí sản xuất, giảm tổng giá thành của sản xuất xã hội. - Cạnh tranh tạo tiền đề thuận tiện nhất cho sản xuất thích ứng với cầu và công nghệ sản xuất. - Cạnh tranh thúc đẩy sự đổi mới được coi là một chức năng cạnh tranh năng động trong những thập kỷ gần đây.
Một số vấn đề lý luận về năng lực cạnh tranh trong doanh nghiệp 1. Khái niệm năng lực cạnh tranh * Năng lực cạnh tranh Năng lực cạnh tranh là một quan điểm chưa có sự thống nhất, nói đến năng lực cạnh tranh phải nói đến các chủ thể của cạnh tranh, do đó không có khái niệm năng lực cạnh tranh nói chung mà năng lực cạnh tranh được định nghĩa với hai cấp độ: Cấp độ vĩ mô là năng lực cạnh tranh quốc gia hoặc cả LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 khu vực và cấp độ vi mô bao gồm năng lực cạnh tranh của công ty và năng lực cạnh tranh của sản phẩm.[9] * Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Ở cấp độ vi mô, có quan điểm cho rằng: “Những công ty có khả năng cạnh tranh là những công ty đạt được mức tiến bộ cao hơn mức trung bình về chất lượng hàng hóa và dịch vụ hoặc có khả năng cắt giảm các chi phí tương đối cho phép họ tăng được lợi nhuận và thị phần. Michael Porter cũng thừa nhận không thể đưa ra một khái niệm tuyệt đối về năng lực cạnh tranh. Theo ông, “Để có thể cạnh tranh thành công, các công ty phải có được lợi thế cạnh tranh dưới hình thức hoặc là có chi phí sản xuất thấp hơn hoặc là có khả năng khác biệt hóa sản phẩm để đạt được các mức giá cao hơn trung bình.
Để duy trì lợi thế cạnh tranh, các công ty cần ngày càng đạt được những lợi thế cạnh tranh tinh vi hơn, qua đó có thể cung cấp những hàng hóa hay dịch vụ có chất lượng cao hơn hoặc sản xuất có hiệu suất cao hơn”. Quan điểm này của Michael Porter đã đề cập đến vấn cạnh tranh còn bao hàm cả việc công ty phải liên tục duy trì lợi thế cạnh tranh của mình.[6] Theo mô hình xác định 5 lực lượng cạnh tranh ảnh hưởng đến quyết định, phương án sản phẩm của doanh nghiệp: Các đối thủ tiềm năng Người cung ứng Các đối thủ cạnh tranh Người mua tranh hiện tại Sản phẩm thay thế Theo Aldington Report (1985): “Công ty có năng lực cạnh tranh là công ty có thể sản xuất sản phẩm và dịch vụ với chất lượng vượt trội và giá cả thấp hơn các đối thủ cạnh tranh trong nước và quốc tế. Khả năng cạnh tranh đồng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 nghĩa với việc đạt được lợi ích lâu dài của công ty và khả năng bảo đảm thu nhập cho người lao động và chủ công ty”[6].