Chương 1: CO SỞ LÝ LUẬN VE CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CANH TRANH TRONG DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm và vai trò của cạnh tranh trong kinh doanh 1.1 Khát niệm của cạnh tranh trong kinh doanh Khái niệm cạnh tranh: Đề định nghĩa cạnh tranh, nó là một khái niệm rất rộng. Cạnh tranh xuất hiện ở hầu như mọi lĩnh vực trong cuộc sống hàng ngày, từ cạnh tranh trong thị trường, cạnh tranh về chính trị, thể thao. và tồn tại ở hầu như mọi ngóc ngách của cuộc sống.
Nếu xét theo từ điển tiếng Việt, “cạnh tranh” là sự ganh đua giữa các đối thủ, nhằm dành lấy ưu thế và thăng lợi về phía mình, có thể là giừa người với người, giữa các công ty hay giữa các nhóm lợi ích hoạt động trong xã hội. Cạnh tranh trong kinh doanh: Dựa trên khái niệm được phổ cập tại wikipedia và nhiều nguồn uy tín khác nhau, nhìn chung việc cạnh tranh trong kinh tế là việc các chủ thể, cá thể kinh tế(công ty, nhà sản xuất, khách hàng, thương lái,.) ganh đua với nhau dé đạt được lợi thé hơn về thương mại, thị phần nhằm thu lại lợi ích cao nhất cho mình. Như vậy, có thể thấy cạnh tranh đóng vái trò vô cùng quan trọng trong quá trình sản xuất ra sản phẩm hàng hóa và dịch vụ và trong cả toàn bộ nên kinh tế, cạnh tranh đóng vai trò là động lực để doanh nghiệp, nhà sản xuất tập trung phát triển, nâng cao chất lượng các sản phẩm dich vụ va phúc lợi cho nguồn nhân lực lao động, góp phần trực tiếp vào phát triển niên kinh tế. Ngoài ra, cạnh trang cũng mang lại vô cùng nhiều lợi ích cho bộ phận khách hang, người tiêu dùng dich vụ.
Trong kinh doanh, dé có thé lôi kéo khách hàng crac sản phẩm cần ngày càng phong phú, đa dạng, chất lượng tốt hơn và giá thành rẻ hơn, quy trình sản suất cần ở mức tối ưu. Vậy mới có thé tồn tại trên thị trường ngày càng khốc liệt như hiện nay.2 Các công cụ cạnh tranh Đối với thị trường kinh doanh, có rất nhiều công cụ mà nhà phân phối, chủ thể kinh tế có thể khai thác để làm công cụ cạnh tranh cho mình. Các công cụ cạnh tranh chính có thé ké đến bao gồm: Chất lượng sản phẩm, dịch vụ: Chất lượng, sản phâm dịch vụ là một công cụ cạnh tranh quan trong của mỗi doanh nghiệp, công ty. Chất lượng sản pham, dịch vụ càng tốt, đồng nghĩa với việc khách hàng sẽ yêu thích và thỏa mãn khi mua và tiêu 3 dùng sản pham dich vụ.
Ngày này, các công ty hoạt động và kinh doanh cùng một loại mặt hàng dịch vụ là rất nhiều, nên việc đầu tư về phát triển chất lượng vô cùng quan trọng, khi khách hang sử dụng một sản pham mà họ không hài lòng, không thỏa mãn, thì hầu như khách hàng đó sẽ không quay lại nữa. Một sản pham chất lượng tốt cần phù hợp, đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng. Giá cả: Giá cả của hàng hóa, dịch vụ là một trong những yếu tố quan trọng bậc nhac góp phần vào quyết định sẽ mua hay không của khách hàng khi đứng trước một sản, phâm dịch vụ nào đó. Với hai hàng hóa có chất lượng sản phẩm tương tự nhau, giá cả sẽ là yêu tổ được mang ra so sánh.
Cạnh tranh bằng giá cả sẽ phụ thuộc vào tùy loại mặt hàng theo từng phân khúc sản phẩm va khả năng chi trả của khách hàng, những xét về phần lớn, giá cả càng phải chăng, mức độ cạnh tranh sẽ càng cao. Việc áp dụng giá cả vào cạnh tranh, có thé thông qua các chính sách như: chính sách giảm giá, chính sách giá bán phân biệt, chính sách phá giá,. đều mang lại hiệu quả tốt. Hệ thống phân phối: Việc đưa sản phẩm lên các kênh phân phối cũng đóng góp vào trò như một công cụ cạnh tranh của doanh nghiệp.
Việc lựa chon kênh phân phối phù hợp với công ty cũng như thị trường, đối tượng khách hàng và tâm lý khách hàng giúp sản phẩm dịch vụ của công ty được day bán và tiêu thụ nhanh chóng, nhờ đó mang về lợi nhuận để có thê tái đầu tư, thúc đây khả năng sản xuất, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Các công ty, doanh nghiệp cần nghiêm túc nghiên cứu, phân tích và khai thác day mạnh cho sản phẩm dịch vụ của minh dé chọn được cho mình một hoặc nhiều kênh phân phối hợp lý. Phương thức thanh toán: Phương thức thanh toán của doanh nghiệp càng đa dang, càng có thé tiếp cận được nhiều thể loại khách hang. Phương thức thanh toán càng nhanh gọn, chính xác càng mang lại thuận lợi trong quá trình mua ban, trao đôi hàng hóa của doanh nghiệp với đối tác và khách hàng.
Hậu mãi: Các dịch vụ sau bán hàng cần được thực hiện một cách bài bản và chuyên nghiệp, vì nó góp phần xây dựng nên uy tín của công ty và là sự thỏa mãn của khách hàng sau quá trình tiêu thụ sản pham dich vụ. Chế độ hậu mãi tốt, hop lý sẽ góp phần khiến khách hàng quyết định quay trở lại.3 Các hình thức cạnh tranh Cạnh tranh tự do: cạnh tranh tự do là hình thức cạnh tranh mà không có sự can thiệp hay điều tiệp của nhà nước hiện hành. Cạnh tranh tự do là khi các chủ thể kinh tế tham gia cạnh tranh một cách chỉ động và được hoàn toàn tự do trong việc tạo ra và thực hiện há các chiến lược của mình. Theo Adam Smith(1723 -1790), sự phat triển kinh tế nên phải tuân theo quy luật kinh tế khách quan tự phát va luôn được điều tiết đưới một bàn tay vô hình, Điều này sẽ mang lại lợi ích cho thị trường.
Bàn tay vô hình này sẽ khiến các chủ thể kinh doanh phải nỗ lực tối đa và vận hành một cách tối ưu các nguồn lực, từ đó giúp nền kinh tế phát triển. Việc can thiệp của nhà nước sẽ tác động ngược đến sự tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân. Cạnh tranh dưới sự điều tiết của nhà nước: Cạnh trah dưới sự điều tiết của nhà nước là hình thức cạnh tranh mà qua đó, các doanh nghiệp trong nền kinh tế sẽ vận động và phát triển dưới một chính sách được đề ra và áp dụng bởi nhà nước. Điều này sẽ giúp môi trường duy trì được tính công bằng và bình đăng.
Với việc nền kinh tế phát triển, các doanh nghiệp va chủ thé độc lập đều muốn tối đa hóa lợi nhuận và gianh phan lon thi phan, việc thức hiện các hoạt động cạnh tranh không lành mạnh hay thậm chí là tiêu cực có thể diễn ra, khi đó có thé dẫn đến các tình trạng như độc quyền hoặc những hoạt động gây tôn hại đến môi trường, xã hội thông qua việc tối thiêu hóa chỉ phí sản xuất, khi này sẽ cần một thế lực hữu hình đưa ra những chính sách, biện pháp chung dé khắc phục và ngăn chặn những tinh trạng xấu trên xảy ra Cạnh tranh hoàn hảo: Cạnh tranh hoàn hảo hay còn có cách gọi khác là cạnh tranh thuần túy, là loại hình cạnh tranh diễn ra khi thị phần của người bán và sức mua, khả năng tiêu thụ của người tiêu dùng nhỏ đến mức cả hai không thê trực tiếp tác động đến giá cả của thị trường. Cung nhiều cầu ít hay cung ít cầu nhiều sẽ tác động và quyết định giá cả hàng hóa. Cạnh tranh không hoàn hảo: Là hình thức xảy ra khi thị trường có sự khuyết đi của một trong những yếu tô của cạnh tranh hoàn hảo, ở đó thành viên của thị trường có một sức mạnh nhất định để tác động được tới giá cả của sản phẩm, được chia thành hai loại: Cạnh tranh độc quyền và độc quyền nhóm Cạnh tranh lành mạnh: là loại hình cạnh tranh công khai, công bằng, phù hợp với chính sách và luật pháp cũng như khía cạnh đạo đức. Những hoạt động cạnh tranh lành mạnh truyền thống bao gồm: tối ưu chất lượng sản phẩm, chất lượng dịch vụ, phát triển hệ thống kinh doanh, áp dụng tiễn bộ khoa học kỹ thuật,.
Cạnh tranh lành mạnh giúp phát triển nền kinh tế xã hội và mang lại lợi ích cho nhóm người tiêu dùng. Cạnh tranh không lành mạnh: Cạnh tranh không lành mạnh là những phương thức, hoạt động trong kinh doanh trái với đạo đức, làm hại đối thủ cạnh tranh hoặc khách hàng, điều tương tự có thê xảy ra với nền kinh tế. Mục tiêu của kinh doanh là mang lại lợi nhuận sau cùng cho doanh nghiệp, khi cạnh tranh không lành mạnh, công ty nhắm vào việc triệt tiêu, loại bỏ đối thủ hay đơn giản hơn là các chính sách, hành động gây bất lợi. Các hoạt động cạnh tranh không lành mạnh có thể kế đến như: khuyến mãi, phá giá hàng hóa nhắm lôi kéo khách hàng, Tung tin sai sự thật nhằm triệt hạ đối thủ cạnh tranh, liên kết các nhà cung cấp để đây giá dịch vụ hàng hóa tạo bat lợi cho người mua,.
Phương thức cạnh tranh này tác động xấu đến môi trường kinh tê, cân được ngăn cản và xóa bỏ.2 Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 1.1 Khát niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Năng lực cạnh tranh (Competitiveness): là một thuật ngữ được sử dụng phổ biến, có thể hiểu ngắn gọn là khả ăng cạnh tranh trên thị trường hoặc trong một cuộc thi dua nào đó của một cá nhân, tập thé hay doanh nghiệp. Năng lực cạnh tranh có thé đánh giá, đo đạc thông qua kết quả cạnh tranh. Năng lực cạnh tranh trong doanh nghiệp: Theo quan điểm của Michael Porter (1990), năng lực cạnh tranh đề cập đến khả năng tạo dựng, duy trì, sử dụng và sáng tạo mới các lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp dé tạo ra sản phẩm chất lượng và năng suất vượt trội hơn so với đối thủ cạnh tranh. Đồng thời, doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh sẽ chiếm lĩnh được thị phần lớn hơn cũng như khả năng phát trién bền vững cho tổ chức và tạo ra thu nhập cao cho người lao động.
Michael Porter cũng nhận định, năng suất lao động là thước đo duy nhất dé đo lường năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Con theo Aldington Report (1980), doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh là doanh nghiệp có thể sản xuất hàng hóa, dịch vụ với chất lượng vượt trội với mức giá cả cạnh tranh hơn so với các đối thủ cạnh tranh trong nước và quốc tế. Năng lực cạnh tranh sẽ mang lại lợi ích lâu dài và khả năng bảo đảm thu nhập cho chủ doanh nghiệp và người lao động. Quan điểm tổng hop của Van duren, Martin và Westgren cũng nhận định năng lực cạnh tranh là khả năng tạo ra và duy trì lợi nhuận, thị phần trên các thị trường trong và ngoài nước.