Chương 1: Một số vấn đề lý luận về đào tạo nguồn lao động xuất khẩu. Chương 2: Thực trạng đào tạo nguồn lao động xuất khẩu của tỉnh Hải Dương giai đoạn 2010 - 2015. Chương 3: Định hướng và giải pháp tăng cường đào tạo nguồn lao động xuất khẩu lao động của tỉnh Hải Dương. 7 CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠONGUỒN LAO ĐỘNG XUẤT KHẨU 1.
Nguồn lao động xuất khẩu và sự cần thiết, vai trò của đào tạo nguồn lao động xuất khẩu ở các địa phƣơng 1. Khái niệm về nguồn lao động và nguồn lao động xuất khẩu Nguồn lao động: Theo các nhà kinh tế học ngoài nước (Begg, Fischer, Dornbusch), nguồn lao động là toàn bộ trình độ chuyên môn mà con người tích luỹ được, nó được đánh giá cao vì tiềm năng đem lại thu nhập trong tương lai. Giống như nguồn lực vật chất, nguồn lao động là kết quả đầu tư trong quá khứ với mục đích tạo ra thu nhập trong tương lai. Mc Shane có sự phân biệt rõ hơn sự khác biệt giữa nguồn lao động với các nguồn lực khác ở chỗ: mỗi con người lao động có những năng lực, (bao gồm tư chất, kiến thức và kỹ năng), tính cách, nhận thức vai trò và sự khác biệt về kinh nghiệm, động cơ và sự cam kết mà nguồn lực vật chất khác không có.
Theo các nhà kinh tế trong nước, nguồn lao động theo nghĩa rộng: là tổng thế tiềm năng của con người của một quốc gia, một vùng lãnh thổ, một địa phương, được chuẩn bị ở mức độ nào đó, có khả năng huy động vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước hoặc một vùng, một địa phương cụ thể trong một thời kỳ nhất định, có thể cho 1 năm, 5 năm, 10 năm… phù hợp với chiến lược và kế hoạch phát triển. Theo nghĩa hẹp: Nguồn lao động là tiềm năng của con người được lượng hoá theo một chỉ tiêu nhất định do luật định hoặc chỉ tiêu thống kê căn cứ vào độ tuổi và khả năng lao động. Trong kinh tế thị trường, khái niệm lực lượng lao động được sử dụng phổ biến chỉ nhóm dân số hoạt động kinh tế thường xuyên, bao gồm những người trong độ tuổi lao động theo luật định, có khả năng lao động, thực tế có việc làm và những người thất nghiệp. Theo Giáo trình Kinh tế phát triển của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (2012): “Nguồn lao động là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật có khả năng lao động, có nguyện vọng tham gia lao động và những người ngoài độ tuổi lao động (trên độ tuổi lao động) đang làm việc trong các ngành 8 kinh tế quốc dân”.
Việc quy định độ tuổi lao động giữa các quốc gia có sự khác nhau. Do điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, trình độ phát triển, có quốc gia lấy tuổi lao động tối thiểu từ 15, 16, có nước 18 tuổi; tuổi lao động tối đa có nước quy định là 60, có nước nâng lên 65 tuổi. Ở Việt Nam, theo Quy định của Luật lao động(Luật lao động số 10/2012/QH13 có hiệu lực từ ngày 01/5/2013) độ tuổi lao động được tính từ thời điểm bắt đầu đủ tuổi lao động đến tuổi nghỉ hưu. Tuổi lao động được tính từ đủ 15 tuổi.
Tuổi nghỉ hưu được xác định: Người lao động bảo đảm điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội được hưởng lương hưu khi nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi;Trường hợp người lao động làm công tác quản lý và một số trường hợp đặc biệt khác, người lao động có thể nghỉ hưu ở tuổi cao hơn nhưng không quá 05 năm. Ngoài ra, còn có cách hiểu khác về nguồn lao động, đó là là tổng hợp cá nhân những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về vật chất và tinh thần được huy động vào quá trình lao động. Tóm lại, nguồn lao động là tổng thể tiềm năng về trình độ chuyên môn, tay nghề (trí lực) và sức khoẻ (thể lực) của con người của một quốc gia, một vùng lãnh thổ, một địa phương, được chuẩn bị ở mức độ nào đó, có khả năng huy động vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước hoặc một vùng, một địa phương cụ thể trong một thời kỳ nhất định phù hợp với chiến lược và kế hoạch phát triển. Nguồn lao động được lượng hoá là tổng thể dân số đủ 15 tuổi trở lên có việc làm và dân số trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng đang thất nghiệp, đang đi học, đang làm công việc nội trợ trong gia đình, không có nhu cầu làm việc và những người thuộc tình trạng khác (nghỉ hưu trước tuổi quy định…).
Từ khái niệm về nguồn lao động, có thể rút ra khái niệm về nguồn lao động xuất khẩu. Nguồn lao động xuất khẩu là tổng thể tiềm năng của con người của một quốc gia, một vùng lãnh thổ, một địa phương, được chuẩn bị ở mức độ nào đó, có khả năng huy động vào hoạt động XKLĐ vào một thời kỳ nhất định.Vậy để hiểu rõ hơn về khái niệm này, ta cũng cần hiểu thêm về khái niệm XKLĐ. 9 Xuất khẩu lao động (XKLĐ): Có nhiều khái niệm khác nhau về XKLĐ, dưới đây là một số khái niệm cơ bản về XKLĐ. XKLĐ hiểu một cách đơn giản là một loại hình di chuyển quốc tế sức lao động.
Di chuyển quốc tế sức lao động là hiện tượng người lao động di chuyển ra nước ngoài nhằm mục đích tìm việc làm để có thu nhập. Khi ra khỏi một nước, người đó được gọi là người xuất cư, còn sức lao động của người đó được gọi là sức lao động xuất khẩu. Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO): XKLĐ là hoạt động kinh tế của một quốc gia thực hiện việc cung ứng lao động cho một quốc gia trên cơ sở những hiệp định hoặc hợp đồng có tính chất hợp pháp quy định được sự thống nhất giữa các quốc gia đưa và nhận người lao động. XKLĐ là hoạt động trao đổi, mua bán hay thuê mướn hàng hoá sức lao động giữa Chính phủ một quốc gia hay tổ chức, cá nhân cung ứng sức lao động của nước đó với Chính phủ, tổ chức, cá nhân sử dụng sức lao động nước ngoài trên cơ sở Hiệp định hay hợp đồng cung ứng lao động.
Khi hoạt động XKLĐ được thực hiện sẽ có sự di chuyển lao động có thời hạn và có kế hoạch từ nước này sang một nước khác.Trên thực tế, quan điểm về XKLĐ ở những nước khác nhau có những nét riêng, trình độ của lao động xuất khẩu ở các nước khác nhau cũng khác nhau. Đối với những nước phát triển, có xu hướng gửi lao động kỹ thuật cao sang các nước chậm phát triển và đang phát triển để lấy thêm ngoại tệ, tìm kiếm lợi nhuận ở nước ngoài. Đối với những nước chậm phát triển và đang phát triển, XKLĐ có xu hướng gửi lao động phổ thông, lao động tay nghề bậc trung để thu tiền công, tăng thu nhập, tích luỹ ngoại tệ và giảm bớt sức ép về nhu cầu việc làm trong nước. XKLĐ là một hoạt động xuất khẩu đặc biệt và là một bộ phận của kinh tế đối ngoại.
Tính đặc biệt của hoạt động XKLĐ nằm ở chính đặc trưng cơ bản của loại hàng hoá xuất khẩu: hàng hoá sức lao động của con người. Về mặt kinh tế, giá cả của sức lao động phụ thuộc vào chất lượng của lao động trước hết là các yếu tố về trình độ chuyên môn, tay nghề được đào tạo, mức độ giao tiếp về ngôn ngữ, văn hoá, phẩm chất của cá nhân như tính cần cù, kỹ năng, tinh xảo, khéo léo… và khả 10 năng hội nhập, giao lưu với các nền văn hoá, tôn giáo khác. Giá cả của sức lao động còn phụ thuộc vào nhu cầu của nước nhập khẩu lao động. Về mặt chính trị, XKLĐ là tiến hành hợp tác góp phần hỗ trợ, xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội của nước nhập khẩu lao động.
Khác với các loại hình hàng hoá dịch vụ khác, đối với người đi XKLĐ, ngoài yếu tố cơ bản về phẩm chất cá nhân, trình độ chuyên môn, trình độ văn hoá, ngoại ngữ, thì khả năng hoà đồng cũng hết sức quan trọng để đảm bảo cho tương lai của người lao động ở nước ngoài. Bởi vậy, người lao động cần phải thực sự tôn trọng luật pháp và hoà hợp tốt với cộng đồng dân cư nước sở tại. Điều đó sẽ bảo đảm cho vị trí cá nhân được khẳng định, được quý mến, góp phần nâng cao uy tín, vị thế quốc gia, góp phần củng cố, tăng cường tình hữu nghị, đoàn kết, thân thiện cộng đồng quốc tế giữa hai nước. Hơn nữa, quá trình XKLĐ không kết thúc ở việc người mua nhận hàng và thanh toán mà sau một thời hạn nhất định công ty, tổ chức sử dụng lao động xuất khẩu phải đưa công nhân lao động về nước.
Nước đưa lao động đi gọi là nước XKLĐ, nước tiếp nhận lao động là nước nhập khẩu lao động và đôi khi cũng xuất hiện nước thứ ba làm nhiệm vụ trung gian. Tóm lại, XKLĐ là một hoạt động kinh tế dưới dạng dịch vụ cung ứng sức lao động của con người cho nước ngoài.Hoạt động XKLĐ không chỉ mang lại thu nhập cao cho người lao động mà còn đóng một vai trò rất lớn trong sự phát triển của mỗi quốc gia. Trong chỉ thị số 41-CT/TW ngày 29/9/1998 của Bộ Chính trị khẳng định: “Xuất khẩu lao động và chuyên gia là một hoạt động KT-XH góp phần phát triển nguồn nhân lực, giải quyết việc làm, tạo thu nhập và nâng cao trình độ tay nghề cho người lao động, tăng thu ngoại tệ cho đất nước và tăng cường quan hệ hợp tác quốc tế giữa nước ta với các nước”. Bên cạnh khái niệm XKLĐ, hiện nay trên thế giới trong các văn kiện, tài liệu, công trình nghiên cứu sử dụng rất nhiều khái niệm đồng nghĩa với XKLĐ như: Trao đổi quốc tế về sức lao động; Hợp tác quốc tế về lao động; Tạo việc làm ngoài nước; Đưa người lao động và chuyên gia đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài; Đưa người đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng… Tuy nhiên những thuật ngữ này, 11 có thuật ngữ không phản ánh được đầy đủ bản chất và nội dung của XKLĐ theo cơ chế thị trường, có thuật ngữ chỉ dùng trong một khoảng thời gian nhất định.
Sự cần thiết và vai trò của đào tạo nguồn lao động xuất khẩu ở các địa phương 1.