Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Dạy học Quá trình dạy học gồm có nhiều thành tố, trong đó GV và hoạt động dạy, SV và hoạt động học là những thành tố cơ bản nhất trong đó. Với tư cách như một hệ thống, mối quan hệ dạy - học trong quá trình dạy học, GV đóng vai trò chủ đạo với tư cách là chủ thể tác động sư phạm, SV không chỉ là đối tượng chịu sự tác động sư phạm đó mà còn là chủ thể nhận thức, chủ thể của hoạt động học tập. Chỉ khi nào thực sự là chủ thể nhận thức thì SV mới tiếp thu một cách có ý thức và có hiệu quả sự tác động sư phạm.
Vai trò chủ thể nhận thức đòi hỏi SV phải tự giác, tích cực, độc lập trong hoạt động học tập của mình. Dạy học là quá trình tác động qua lại giữa người dạy và người học nhằm giúp cho người học lĩnh hội được những tri thức khoa học, kỹ năng hoạt động nhận thức và thực tiễn, phát triển các năng lực hoạt động sáng tạo, trên cơ sở đó hình thành thế giới quan và các phẩm chất nhân cách của người học theo mục đích giáo dục [21;22]. Theo quan điểm của các nhà sư phạm nói chung và sư phạm âm nhạc nói riêng thì quá trình dạy học có mục đích trang bị cho người học hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo phát triển năng lực hoạt động trí tuệ và hình thành thế giới quan khoa học giáo dục phẩm chất đạo đức. Hoạt động nhận thức của loài người và họat động dạy học thế hệ trẻ diễn ra trong suốt quá trình phát triển của xã hội.
Hoạt động nhận thức của loài người đi trước hoạt động dạy học, còn hoạt động dạy học diễn ra trong môi trường sư phạm có sự hướng dẫn và điều khiển của giáo viên. 8 Vậy, xét về bản chất của quá trình dạy học phải xét đến mối quan hệ giữa dạy và học, giữa thầy và trò. Dạy và học là hai hoạt động đặc trưng cơ bản của quá trình dạy học, hai mặt đó có mối quan hệ thống nhất và biện chứng với nhau. Thanh nhạc Thanh nhạc, tức âm nhạc có lời ca, là loại hình lâu đời nhất của nghệ thuật âm nhạc.
Những hình thức đầu tiên, đơn giản nhất của thanh nhạc, đã ra đời giữa buổi bình minh của xã hội loài người, khi con người bắt đầu biết dùng ngôn ngữ làm phương tiện giao tiếp. Chính thanh nhạc đã là người đồng hành của con người trên mọi chặng đường trong cuộc sống. Từ thời xa xưa đến nay nghệ thuật âm nhạc đã trải qua một chặng đường dài biết bao thế kỷ, ngày càng phong phú hơn với những phương tiện biểu cảm mới lạ. Tiếng nói cũng như tiếng hát, đều do thanh đới của con người tạo nên, được tiếp thu qua thính giác nhưng tiếng hát thường được coi là mang tính nhạc cao hơn so với tiếng nói.
Bên cạnh những định nghĩa về tiếng nói và tiếng hát còn có hát như nói và cũng có nói như hát. Tiếng hát cùng với tiếng nói đã có rất sớm, xuất phát từ lao động, tôn giáo và giải trí. Trong lịch sử xã hội của loài người, lúc đầu chủ yếu dùng ngôn ngữ để thông đạt cho nhau những ý nghĩ, tình cảm của mình. Dần dần, con người tìm cách diễn đạt tư tưởng tình cảm một cách khéo léo hơn, tài tình hơn, tức là có nghệ thuật hơn qua các bài văn, bài thơ.
Thanh nhạc đã ra đời như vậy, dựa trên ngôn ngữ của từng dân tộc, và nó càng ngày càng được phát triển cùng với các bộ môn nghệ thuật khác như văn thơ, hội hoạ, sân khấu, vũ đạo và âm nhạc… Ca hát là bộ môn nghệ thuật phối hợp giữa ngôn ngữ và âm nhạc, gọi là thanh nhạc, nó khác với khí nhạc là loại âm nhạc viết riêng cho nhạc cụ diễn tấu. Ai trong chúng ta cũng đã từng hát, hoặc ít nhất cũng đã từng 9 nghe người khác hát. Một người hát gọi là đơn ca, hai, ba người hát gọi là song ca, tam ca… nhiều người cùng hát một lời ca, một giai điệu là đồng ca. Còn nếu hát theo nhiều bè, nhiều giai điệu khác nhau gọi là hợp ca… Tiếng hát, bắt nguồn từ tiếng nói, gồm có âm điệu, có nội dung nhằm biểu hiện các trạng thái, nhằm đánh động tâm hồn người nghe.
Muốn đi sâu vào trái tim người nghe, thì tiếng hát trước hết phải xuất phát từ tâm hồn người sáng tác, người diễn tấu, và như vậy ta mới thấy “Tiếng hát thực sự là tiếng nói của tâm hồn”. Muốn đạt đến cái hay, cái đẹp trong ca hát, bất cứ người diễn tấu nào, người ca sĩ nào, người ca viên nào cũng phải tìm cho ra cái hồn của bài hát, rồi truyền đạt nó đến tai người nghe bằng một giọng hát điêu luyện nhất. Dạy học thanh nhạc Khác với việc dạy học các môn khoa học xã hội, dạy học âm nhạc đòi hỏi người học phải có năng khiếu về âm nhạc như: thẩm âm, tiết tấu, xướng âm, ca hát. từ đó, người thày mới có thể trang bị kiến thức âm nhạc cơ bản, những kỹ năng, kỹ xảo, tạo điều kiện hình thành năng lực cảm thụ, khơi dậy những khả năng sáng tạo trong hoạt động nghệ thuật âm nhạc cho người học [29;24].
Ca hát là môn nghệ thuật phối hợp giữa nhạc và lời ca. Có được một chất giọng tự nhiên tốt chưa đủ, muốn trở thành một ca sĩ chuyên nghiệp cũng như một giảng viên Thanh nhạc giỏi thì phải trải qua một quá trình học tập và rèn luyện. Một trong những vấn đề quan trọng đó là cần học tập kỹ thuật Thanh nhạc, trước hết cần nắm vững những kĩ thuật cơ bản, làm chủ được giọng hát của mình để từ đó từng bước phát triển giọng hát. Việc dạy học thanh nhạc là việc làm phức tạp và hết sức khó khăn, bởi nghệ thuật ca hát được tạo ra từ một nhạc cụ sống - cơ thể con người, mọi sự thay đổi về tâm, sinh lý của người ca sĩ đều ảnh hưởng đến chất 10 lượng của việc ca hát.
Bên cạnh đó còn rất nhiều kỹ thuật ca hát khác như: hơi thở, mở khẩu hình, cách phát âm, xử lý ngôn ngữ. cần phải học để tạo nên chất lượng học tập thanh nhạc. Trong việc dạy học Thanh nhạc tại Việt Nam hiện nay, người ta thường chia làm ba dòng khác nhau, đó là dòng Opera - Thính phòng, dòng dân gian (ca khúc có âm hưởng dân gian) và dòng nhạc nhẹ như Pop, Rock, Ballade. Nhìn chung, trong các cơ sở đào tạo Thanh nhạc tại Việt Nam, các giảng viên đều chú ý tới nghệ thuật hát có xuất xứ từ châu Âu và nghệ thuật hát dân gian truyền thống.
Nghệ thuật hát có xuất xứ từ châu Âu đã xuất hiện hơn 5 thế kỷ trước đây và đặc biệt nổi tiếng tại Italia và Pháp. Từ những yêu cầu phát triển của nền âm nhạc chính thống tại châu Âu, nhiều trường có dạy học Thanh nhạc đã ra đời. Từ những cơ sở đào tạo nói trên, nhiều trường phái Thanh nhạc đã xuất hiện và phát triển cho đến ngày nay. Nội dung và phương pháp dạy học Thanh nhạc ở Việt Nam hiện này cũng đã kế thừa những phương pháp từ châu Âu và đã lan tràn khắp thế giới, trong đó phải kể tới lối hát Bel canto.
Bên cạnh những phương pháp từ châu Âu, trong các cơ sở đào tạo Thanh nhạc chuyên nghiệp tại Việt Nam còn rất chú trọng tới việc kế thừa và phát huy cách hát của Thanh nhạc truyền thống như “vang, rền, nền, nảy”. Các làn điệu dân ca các dân tộc Việt Nam có sự ảnh hưởng sâu sắc từ văn thơ, từ ca từ của bài hát, chính vì vậy để dạy học tốt các bài bản dân ca này, người giảng viên cần rất chú ý tới các cách phát âm của vùng miền, của các tộc người cũng những cách luyện láy và việc sử dụng các từ phụ. Chính bởi sự kết hợp “Đông - Tây” trong dạy học Thanh nhạc nên chúng ta cần chú ý tới các vấn đề kỹ thuật cụ thể nhằm vừa nâng cao tính học thuật những vẫn bảo tồn và phát huy vốn cổ dân tộc trong nghệ thuật 11 Thanh nhạc. Điều này theo chúng tôi không chỉ quan trọng đối với lực lượng giảng viên mà còn rất quan trọng trong ý thức học tập của sinh viên.
Như vậy, dạy học thanh nhạc là quá trình GV truyền đạt các kiến thức về các kỹ thuật thanh nhạc qua các phương pháp dạy học cho học sinh/ sinh viên. Phân loại giọng hát Phân loại giọng hát là việc làm đầu tiên vô cùng quan trọng đối với quá trình đào tạo một giọng hát sau này. Người GV cần tìm hiểu cẩn thận khi phân loại giọng hát để từ đó đưa ra những phương pháp dạy thích hợp. Căn cứ vào những đặc tính của các loại giọng để phân loại.
Những đặc tính của các loại giọng có thể kể đến như âm vực, âm sắc, nốt chuyển giọng. Vì có nhiều loại giọng hát khác nhau mang những đặc điểm riêng nên có những giọng hát ngay lập tức giảng viên có thể phân loại được, tuy nhiên cũng có những trường hợp cần phải có thời gian luyện tập sau đó mới phân định được. Theo nhà sư phạm Trung Kiên cách phân loại giọng hát thông qua âm sắc, âm vực và vị trí các nốt chuyển giọng như sau: [9;70] - Giọng nữ cao (Soprano): bao gồm giọng nữ cao kịch tính, nữ cao trữ tình và nữ cao màu sắc. Trong các loại giọng nữ cao này lại phân ra các trường hợp cụ thể hơn như: nữ cao siêu kịch tính, nữ cao trữ tình màu sắc, nữ cao kịch tính màu sắc.
Âm vực của giọng thường từ nốt c1 đến c3 Những nốt chuyển giọng Những nốt chuyển giọng Hiếm 12 - Giọng nữ trung (Mezzo): là loại giọng hát trung gian giữa giọng nữ cao và nữ trầm. Giọng nữ trung cũng được chia ra thành giọng nữ trung cao, nữ trung trung, nữ trung trầm. Âm vực của giọng hát thường từ nốt a đến a2, có những trường hợp hát tới nốt b2, nhưng là rất hiếm. Đặc tính về âm sắc của giọng nữ trung thường ấm áp, dày, khỏe, vang rền đều đặn.
Những nốt chuyển giọng Những nốt chuyển giọng Hiếm - Giọng nữ trầm (Alto): đây là giọng hát có âm sắc rất đẹp ở các nốt thấp, trầm ấm rất dày, đầy đặn nhưng cũng là loại giọng hiếm. Âm vực của giọng thường từ nốt f đến f2, có những trường hợp giọng hát lên tới nốt a2, nhưng đó là trường hợp rất đặc biệt.