Phần mở đầu, phần nội dung khoa học, phần kết luận và khuyến nghị, cuối luận văn là danh mục các tài liệu tham khảo, phụ lục. Phần nội dung khoa học có 3 chƣơng. Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của việc quản lý các lớp đào tạo bậc đại học theo hình thức liên kết. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 2: Thực trạng quản lý các lớp đào tạo bậc đại học theo hình thức liên kết tại Trung tâm giáo dục thƣờng xuyên tỉnh Bắc Giang.
Chƣơng 3: Những biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lƣợng các lớp đào tạo bậc đại học theo hình thức liên kết tại Trung tâm giáo dục thƣờng xuyên tỉnh Bắc Giang. Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC QUẢN LÝ CÁC LỚP ĐÀO TẠO BẬC ĐẠI HỌC THEO HÌNH THỨC LIÊN KẾT 1.Vài nét về lịch sử của vấn đề đào tạo liên kết Nền giáo dục Đại học XHCN của nƣớc ta bắt đầu đƣợc xây dựng từ 1956, sau chiến thắng Điện Biên Phủ (1954), Miền Bắc đƣợc giải phóng, đất nƣớc chuyển sang giai đọan "Xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc, giải phóng Miền Nam thống nhất đất nƣớc". Đại hội Đảng lần thứ III (Năm 1960) đề ra chủ trƣơng "Vừa đào tạo tập trung, vừa đào tạo tại chức". 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thuật ngữ đại học tại chức đƣợc sử dụng với nghĩa là học không tập trung toàn thời gian, vừa học vừa làm việc, có các văn bằng đại học với từ ghi thêm trong ngoặc là hệ "tại chức".
Năm 1975, đất nƣớc đƣợc thống nhất. Đại hội IV (năm 1976) chỉ rõ: " Phải tích cực xây dựng hệ thống đào tạo bồi dƣỡng tại chức với nhiều hình thức học tập đảm bảo cho mọi ngƣời lao động có thể suốt đời tham gia học tập, trau dồi nghề nghiệp mở rộng kiến thức". [8, tr 298] Công tác, Đào tạo ĐH Tại chức phát triển mạnh mẽ, Nghị quyết XIV của Bộ Chính trị về cải cách giáo dục (1979) đã nhấn mạnh: "Hệ thống mạng lƣới tại chức phải đƣợc tổ chức rộng khắp, bao gồm nhiều hình thức học tập linh hoạt thuận tiện cho ngƣời học. Hệ thống đó phải gắn liền với hệ thống đào tạo tập trung nhƣng có tổ chức và ngƣời phụ trách riêng".[8, tr 299] Trong 10 năm 1975-1985, tuyển vào hệ đại học tại chức khoảng 60.000 sinh viên và 80 % số tỉnh từ Bắc chí Nam có các trung tâm đào tạo bồi dƣỡng tại chức.[8,tr 299] Nhƣ vậy đã xuất hiện cụm từ "đào tạo và bồi dƣỡng tại chức", "mạng lƣới tại chức "với nghĩa của học tại chức là học không tập trung toàn thời gian và có thể cấp hoặc không cấp văn bằng.
Nghị quyết 73 năm 1983 của hội đồng Bộ trƣởng đã cho phép thành lập trung tâm đào tạo, bồi dƣỡng tại chức tỉnh trên cơ sở các tổ chức đa dạng ở địa phƣơng đã hình thành từ trƣớc. Đây là một mô hình cơ sở giáo dục mới dựa trên sự liên kết của các trƣờng đại học với các tỉnh, thƣờng là một trung tâm tỉnh liên kết với nhiều trƣờng. Đây là một sáng kiến rất quan trọng, tạo một bƣớc tiến của công tác đào tại chức cao, bồi dƣỡng đại học tại chức từ xa. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Sự liên kết này là một kinh nghiệm hay cần tổng kết và phát huy, nâng cao vai trò của trung tâm giáo dục thƣờng xuyên trong đào tạo liên kết ở các bậc học, cấp học, hình thức học khác nhau.
Với đƣờng lối đổi mới đƣợc đề ra tại đại hội VI (năm 1986), đối với lĩnh vực giáo dục, nghị quyết Đại hội đã ghi: "Phải bố trí hợp lí cơ cấu hệ thống giáo dục, thể hiện tính thống nhất của quá trình giáo dục, bao gồm nhiều hình thức đào tạo và bồi dƣỡng chính quy và không chính quy, tập trung tại chức. Từ những năm 1988-1991, đã thí điểm hệ đào tạo đại học không chính quy với những hình thức mới đi đôi với những tên gọi mới nhƣ đại học mở rộng, tự học có hƣớng dẫn, đào tạo từ xa, Đại học mở (thành lập 2 viện Đại học mở). Nghị định 90/ CP ngày 24/11/1993 của chính phủ thừa nhận giáo dục thƣờng xuyên là một trong 5 thành phần của hệ thống giáo dục quốc dân. Luật giáo dục (Quốc hội thông qua ngày 2/12/1998) coi "giáo dục không chính quy là một phƣơng thức giáo dục giúp mọi ngƣời vừa làm vừa học, học liên tục, học suốt đời nhằm hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ để cải thiện chất lƣợng cuộc sống, tìm việc làm và thích nghi với đời sống xã hội".
Với quan niệm nhƣ vậy thì khái niệm giáo dục không chính quy đồng nghĩa với giáo dục thƣờng xuyên. Trong luật giáo dục đã đƣợc Quốc hội nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 14/ 06/ 2005 đã khẳng định: "Hệ thống giáo dục quốc dân gồm giáo dục chính quy và giáo dục thƣờng xuyên". "Nhà nƣớc có chính sách phát triển giáo dục thƣờng xuyên, thực hiện giáo dục cho mọi ngƣời, xây dựng xã hội học tập". 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Báo cáo của Chính phủ trƣớc Quốc hội tháng 10/2004: "Các chƣơng trình giáo dục từ xa vẫn đang trong quá trình xây dựng, tiến độ còn chậm, chất lƣợng còn thấp; cơ sở vật chất còn nghèo nàn, điều kiện tổ chức thực hành thực nghiệm còn rất hạn chế.
Việc quản lí lỏng lẻo đối với các hệ liên kết đào tạo có cấp văn bằng đã dẫn đến tình trạng "học giả bằng thật". Đây là một khâu yếu nghiêm trọng của giáo dục không chính quy ở nƣớc ta". Những năm gần đây, trong các báo, tạp chí thuộc chuyên ngành giáo dục nhƣ tạp chí Giáo dục, tạp chí Phát triển giáo dục, tạp chí Dạy và học, báo Giáo dục và thời đại.hay trong các báo cáo tổng kết công tác giáo dục thƣờng xuyên hàng năm của Bộ giáo dục và đào tạo đều cũng đã đề cập tới công tác quản lí các lớp đại học hệ liên kết, nhƣng hiện nay còn có rất ít công trình nghiên cứu có hệ thống, có thực nghiệm tại một cơ sở giáo dục cụ thể. Trong luận văn này, chúng tôi cố gắng phân tích một cách tƣơng đối toàn diện, có hệ thống thực trạng của sự liên kết giữa Trung tâm GDTX Tỉnh với các trƣờng Đại học mà Trung tâm liên kết.
Bƣớc đầu đề xuất và khảo nghiệm các biện pháp quản lí nhằm kết hợp hai đơn vị này chặt chẽ để nâng cao chất lƣợng đào tạo các lớp đại học theo hình thức liên kết tại Trung tâm. Đó cũng là cái mới của luận văn này. Những khái niệm liên quan đến đề tài 1. Khái niệm về quản lý Quản lý là một hiện tƣợng xã hội, là một dạng hoạt động đặc thù của con ngƣời, là sản phẩm và là yếu tố gắn chặt với hợp tác lao động.Mác thì bất cứ lao động xã hội nào hay lao động chung trực tiếp nào cũng đều ít nhiều cần đến sự quản lí.
9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Một cách hình ảnh, Mác đã lột tả bản chất của quản lí là hoạt động lao động để điều khiển lao động. Ông đã nói: "Một nghệ sĩ vĩ cầm thì tự điều khiển mình, còn dàn nhạc thì cần nhạc trƣởng" để nêu bật lên sự tất yếu và vô cùng quan trọng của hoạt động quản lí trong quá trình phát triển của xã hội loài ngƣời. Có thể nói hoạt động quản lí vừa là một khoa học vừa là một nghệ thuật. Nó điều khiển một hệ thống động xã hội ở tầm vi mô cũng nhƣ vĩ mô.
Vì vậy quản lí đƣợc tiếp cận bằng nhiều cách khác nhau. Theo PGS-TS Nguyễn Thị Mỹ Lộc và TS Nguyễn Quốc Chí thì quản lí là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, lãnh đạo và kiểm tra.[19] Bất luận một tổ chức nào có mục đích gì, cơ cấu và quy mô ra sao đều cần phải có sự quản lí và có ngƣời quản lí để tổ chức hoạt động và đạt đƣợc mục đích của mình. Ngƣời quản lí là nhân vật có trách nhiệm phân bố nhân lực và các nguồn lực khác, chỉ dẫn sự vận hành của một bộ phận hay toàn bộ tổ chức để tổ chức hoạt động có hiệu quả và đạt đến mục đích. Trên phƣơng diện hoạt động của một tổ chức thì: "quản lí là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lí đến tập thể những ngƣời lao động nói chung là khách thể quản lí nhằm thực hiện những mục tiêu dự kiến".
[32, tr24] Hoặc "Hoạt động quản lí là tác động có định hƣớng, có chủ đích của chủ thể quản lí (ngƣời quản lí) đến khách thể quản lí (ngƣời bị quản lí) trong một tổ chức, nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt đƣợc mục đích của tổ chức". [8,tr1] Có thể nói: "Quản lý là sự tác động liên tục, có định hƣớng của chủ thể quản lí ( ngƣời quản lí hay tổ chức quản lí ) lên khách thể (đối tƣợng ) quản lí 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com về mặt chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế. bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phƣơng pháp và biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trƣờng và điều kiện cho sự phát triển của đối tƣợng". [26, tr7] Theo PGS-TS Đặng Quốc Bảo: Hoạt động quản lí bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động.
Chính sự phân công hợp tác lao động nhằm đạt đến hiệu quả nhiều hơn, năng suất cao hơn. Trong công việc đòi hỏi phải có sự chỉ huy, phối hợp, điều hành, kiểm tra, chỉnh lý. [17] Theo Henri Fayol (1841-1925) là một kỹ nghệ gia ngƣời Pháp, cống hiến lớn nhất của Fayol là xuất phát từ các loại hình"hoạt động quản lý", ông là ngƣời đầu tiên phân biệt chúng thành 5 chức năng cơ bản: kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra. Theo quan điểm hình thức trong quản lý cho rằng các hành động quản lý thích hợp phụ thuộc vào các tham số riêng của mỗi tình huống cụ thể.
Do đó thay vì tìm kiếm những nguyên lý phổ quát áp dụng cho mọi tình huống, mọi hoàn cảnh, nên xác định các nguyên lý tình huống cho phép vạch ra cách thức hành động tùy thuộc vào đặc điểm của mỗi tình thế, hoàn cảnh cụ thể nhất định. Quan điểm tình huống có thể mạnh ở cách tiếp cận, có tính chẩn đoán của mình, khác với cách tiếp cận: "Một biện pháp tốt nhất" do các thuyết khác đề xƣớng.