Chương 1: Cơ sở lý luận của việc xác lập các giải pháp xã hội hoá giáo dục đối với quản lý các trường phổ thông ngoài công lập Chương 2: Thực trạng xã hội hoá giáo dục trong quản lý trường phổ thông ngoài công lập ở tỉnh Bắc Giang 4 z Chương 3: Giải pháp tăng cường xã hội hoá giáo dục trong quản lý trường phổ thông ngoài công lập tỉnh Bắc Giang trong giai đoạn hiện nay Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC XÁC LẬP CÁC GIẢI PHÁP XÃ HỘI HOÁ GIÁO DỤC ĐỐI VỚI QUẢN LÝ CÁC TRƢỜNG PHỔ THÔNG NGOÀI CÔNG LẬP 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Giáo dục xuất hiện cùng với đời sống của xã hội loài người. Sự tồn tại và phát triển của giáo dục luôn chịu sự chi phối của trình độ phát triển kinh tế xã hội và ngược lại với chức năng của mình giáo dục lại có vai trò to lớn trong việc phát triển kinh tế xã hội. Xã hội loài người coi giáo dục là công cụ, phương tiện để cải biến xã hội.
Giáo dục được coi vừa là động lực, vừa là mục tiêu cho việc phát triển tiếp theo của xã hội. Khi xã hội phát triển lên một mức mới, chính xã hội lại tạo điều kiện mới cho giáo dục và “đặt hàng mới” cho giáo dục nói chung, nhà trường nói riêng và buộc giáo dục phải tự nâng mình lên để một mặt đáp ứng yêu cầu và nguyện vọng mới của xã hội, mặt khác tận dụng tốt những điều kiện mà xã hội mới tạo cho. Cứ như thế tính chất vòng tròn của mối quan hệ giữa giáo dục và cộng đồng xã hội thường xuyên được diễn ra trong sự cân bằng động và phát triển đi lên theo đường xoắn ốc cùng với quá trình phát triển của xã hội loài người. Để phát triển sự nghiệp giáo dục đào tạo, chúng ta phải tiến hành công tác xã hội hoá giáo dục.
Xã hội hoá giáo dục là “Huy động toàn xã hội làm giáo dục, động viên các tầng lớp nhân dân đóng góp sức xây dựng nền giáo dục quốc dân dưới sự quản lý của nhà nước”. 5 z Xã hội hoá giáo dục là tạo cơ hội học tập cho mọi người, tạo nên một xã hội học tập, cộng đồng hoá trách nhiệm của giáo dục và của cộng đồng, xã hội, đa dạng hoá loại hình, hình thức giáo dục, đa phương hoá nguồn lực và huy động cộng đồng, thể chế hoá chủ trương xã hội hoá giáo dục để chủ trương này nhanh chóng đi vào cuộc sống. Bằng việc đối chiếu sự tác động các nội dung xã hội hoá giáo dục lên các mục tiêu quản lí giáo dục, quản lí nhà trường, chúng ta cảm thấy rất rõ vai trò của quá trình xã hội hoá giáo dục đối với việc thực hiện các mục tiêu quản lí giáo dục nói chung và quản lí nhà trường nói riêng. Xã hội hoá giáo dục nhằm mục tiêu “giáo dục cho mọi người”, làm cho mọi thành viên của cộng đồng được hưởng thụ giáo dục một cách thường xuyên, liên tục, được đào tạo suốt đời.
Các lực lượng xã hội được huy động vào đa dạng hoá các hình thức giáo dục và các loại hình nhà trường, nhằm mở ra khả năng huy động nhiều lực lượng xã hội tham gia vào công tác giáo dục, tạo điều kiện cho giáo dục phát triển mạnh mẽ hơn, thực hiện có hiệu quả hơn nhiệm vụ “nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”. Mở rộng các nguồn đầu tư, khai thác tiềm năng về nhân lực, vật lực, tài lực trong xã hội, phát huy và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của nhân dân tạo điều kiện cho giáo dục phát triển. Sức mạnh tổng hợp của các ngành có liên quan đến giáo dục được huy động vào việc phát triển sự nghiệp giáo dục. Xã hội hoá giáo dục là chủ trương đúng đắn mang tính chiến lược của Đảng, là một trong những phương diện quan trọng của xã hội hoá hoạt động quản lý Nhà nước để phát triển giáo dục - đào tạo nước ta trong giai đoạn hiện nay.
Chủ trương xã hội hoá giáo dục được đặt ra từ Nghị quyết TW4 khóa VII, Nghị quyết TW2 khoá VIII. Đặc biệt đến Nghị quyết TW 6 khoá IX Đảng khẳng định: "Đẩy mạnh XHHGD, xây dựng xã hội học tập, coi giáo dục là sự nghiệp của toàn dân là một giải pháp quan trọng để tiếp tục phát triển giáo dục". 6 z Chủ trương XHHGD của Đảng được thể chế hoá vào Hiến pháp 1992, tại Điều 35, ."Phát triển các hình thức trường quốc lập, DL và các hình thức GD khác". Điều 12 của Luật giáo dục 2005 khẳng định: " Xã hội hoá sự nghiệp giáo dục để thực hiện đa dạng hoá các loại hình trường và các hình thức giáo dục; khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục".
Trên cơ sở quan điểm của Đảng, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 90/CP ngày 21/8/1997 về phương hướng và chủ trương XHH các hoạt động giáo dục. nhằm cụ thể hoá chủ trương, nội dung, biện pháp XHH hoạt động giáo dục - đào tạo. Ngày 18/4/2005 Chính phủ ban hành Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP về đẩy mạnh xã hội hoá các hoạt động GD, văn hoá, y tế, TDTT. Tiếp đó, ngày 24/6/2005, Bộ GD&ĐT đã ban hành Quyết định số 20/2005/QĐ-BGD&ĐT phê duyệt Đề án "Quy hoạch phát triển xã hội hoá giáo dục giai đoạn 2005 - 2010".
Bên cạnh chủ trương của Đảng, Nhà nước nêu trên, các nhà khoa học, nhà quản lý giáo dục nước ta cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về xã hội hoá công tác giáo dục. Đáng lưu ý là các công trình nghiên cứu bàn về công tác XHH các hoạt động giáo dục của các tác giả Phạm Minh Hạc, Phạm Tất Dong, Đặng Quốc Bảo. Đặng Quốc Bảo đưa ra quan niệm: "Xã hội hoá giáo dục phản ảnh bản chất của luận đề: Giáo dục cho tất cả mọi người, tất cả cho sự nghiệp giáo dục" (Education for all, All for Eduction EFA-AFE). Vậy việc huy động toàn xã hội làm GD, động viên các tầng lớp nhân dân góp sức xây dựng nền giáo dục quốc dân dưới sự quản lý của Nhà nước không phải là một ý tưởng mới lạ [8,tr 6].
Xã hội hoá giáo dục không chỉ là chủ trương ở các nước kém phát triển mà ngay cả những nước giàu, nước phát triển cũng đã từng thực hiện nhiều giải pháp đẩy mạnh XHHGD để phát triển sự nghiệp GD, bởi vì XHHGD là một hệ thống định hướng hoạt động của mọi người, mọi lực lượng xã hội, nhằm hoàn lại bản chất xã hội của giáo dục cho giáo dục và trả lại nhiệm vụ GD của xã hội cho chính xã hội, để tiến tới xây dựng một xã hội học tập. Tổ 7 z chức văn hoá giáo dục Liên hiệp quốc (Unesco) đã khuyến nghị: giáo dục không chỉ bó hẹp trong nhà trường. phải cải tổ toàn diện nền giáo dục. Giáo dục phải trở thành phong trào quần chúng thực hiện.
Vấn đề xã hội hoá giáo dục đã được nghiên cứu cả về lý luận lẫn thực tiễn khá sâu rộng và lâu dài, trong lịch sử nước ta và các nước trên thế giới. Một số tác giả như Phạm Minh Hạc, Nguyễn Thanh Bình…đã có nhiều công trình nghiên cứu. Bên cạnh đó các công trình nghiên cứu khoa học về công tác XHHGD trong những năm gần đây được nhiều cán bộ quản lý GD nước ta quan tâm, có những luận văn Thạc sĩ đã đề cập đến và nêu ra nhiều giải pháp tăng cường công tác XHHGD như Luận văn thạc sỹ của tác giả Hoàng Duy Đỉnh với đề tài Các biện pháp tăng cường quản lý nhằm đẩy mạnh XHH giáo dục cấp THPT ở Hải Phòng, luận văn Thạc sĩ của Lê Ngọc Quân về một số giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý trường chuẩn quốc gia THCS huyện Lâm Thao, Phú Thọ, đề tài tác động của chính sách xã hội hoá giáo dục đối với loại hình trường PT ngoài công lập ở Hà Nội của Đinh Thị Minh Châu…Tuy nhiên đó là những vấn đề cụ thể có tính chuyên sâu, gắn với công tác quản lý nảy sinh ở từng địa phương và phạm vi công tác, các hoạt động của xã hội hoá giáo dục là vấn đề rộng lớn, do vậy việc nghiên cứu xã hội hoá giáo dục vẫn có ý nghĩa thực tiễn lớn lao. Các khái niệm cơ bản có liên quan đến vấn đề nghiên cứu 1.
Giáo dục Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt trong lịch sử nhân loại, là một trong những lĩnh vực hoạt động xã hội nhằm kế thừa, duy trì và phát triển nền văn hoá xã hội, văn minh nhân loại. Giáo dục là nhân tố cốt lõi và tồn tại khách quan trong mọi giai đoạn phát triển xã hội. Theo nghĩa chung nhất: "GD là quá trình truyền đạt và lĩnh hội những tri thức, kỹ năng, kỷ xảo và những kinh nghiệm nhằm chuẩn bị cho con người bước vào cuộc sống lao động và sinh hoạt xã hội; là một nhu cầu tất yếu của xã hội loài người, đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của con người và xã hội" [37, tr. Giáo dục là điều kiện để con người gắn bó và gắn bó với nhau một cách có hiệu quả theo mục tiêu đổi mới điều kiện sinh tồn, bởi vì hành động của bất kỳ cá nhân nào cũng bị hạn chế do khả năng và kinh nghiệm của riêng 8 z người đó.
Chính nhờ giáo dục, kết quả những cố gắng của mỗi thế hệ được truyền lại cho thế hệ sau rồi cứ thế tích luỹ lại và ngày càng phong phú. Giáo dục chuẩn bị cho mỗi cá nhân hoà nhập vào cộng đồng và khẳng định được vị thế vai trò với cộng đồng. Giáo dục là con đường đặc trưng cơ bản để loài người tồn tại và phát triển. Là một hiện tượng xã hội đặc biệt, được hình thành tồn tại và phát triển trong môi trường xã hội cụ thể, nên mọi hoạt động giáo dục đều vì sự tiến bộ xã hội.
Không có xã hội nào có thể tồn tại mà không có giáo dục và mọi sự giáo dục đều nhằm mục đích phục vụ cho sự tiến bộ của xã hội. Mối quan hệ biện chứng ấy trong thời đại kinh tế tri thức được thể hiện rất sinh động. Mỗi quốc gia đều quan tâm đến việc đổi mới nền GD của mình để phù hợp với thay đổi của xã hội và sự tiến bộ chung. Thế giới ngày nay coi GD là con đường cơ bản để khỏi tụt hậu, để tiến lên "GD là khâu cực kỳ quan trọng trong quy trình từ khoa học đến sản xuất, nhất là trong thời đại công nghiệp hoá" [27, tr.