CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHÍNH QUYỀN NHÂN DÂN, MỐI QUAN HỆ GIỮA CHÍNH QUYỀN VÀ NHÂN DÂN TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC 1. Chính quyền nhân dân và mối quan hệ giữa chính quyền và nhân dân 1. Chính quyền nhân dân và chủ quyền nhân dân qua các bản Hiến pháp Hồ Chí Minh quan niệm rằng: “Nhân dân ta là bộ phận gồm đông đảo những người thuộc nhiều giai cấp, tầng lớp khác nhau, chủ yếu là những người lao động trong xã hội”. Các tầng lớp, giai cấp nhân dân này đoàn kết thành một khối như năm cánh ngôi sao vàng trên nền đỏ Quốc kỳ Việt Nam và là nền tảng của quốc dân Việt Nam.
Ngoài các tầng lớp, giai cấp lao động, thì dưới chế độ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa những người khác yêu nước cụ thể những nhân sỹ yêu nước là người trí thức có danh vọng và những thân sỹ yêu nước là người có học thức, thuộc tầng lớp trên của xã hội cũ, cũng trong địa vị nhân dân. Tất cả người dân Việt Nam đều được hưởng đầy đủ mọi quyền lợi của một công dân Việt Nam do luật pháp Việt Nam quy định. Trên thực tế cách mạng Việt Nam, sự đoàn kết của nhân dân là sức mạnh vĩ đại, góp phần đưa cách mạng Việt Nam giành thắng lợi to lớn trong công cuộc đấu tranh giành độc lập. Tư tưởng lấy dân làm gốc của Hồ Chí Minh không chỉ có ý nghĩa trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc mà còn có ý nghĩa vô cùng to lớn trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt là trong công cuộc đổi mới đất nước do Đảng khởi xướng và lãnh đạo.
Bác là người có tư tưởng đầy đủ và đúng đắn về vai trò, sức mạnh của quần chúng Nhân dân. Người đánh giá rất cao vai trò, sức mạnh của Nhân dân trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Người coi Nhân dân là lực lượng vô tận của cách mạng và nguyên nhân thắng lợi của cách mạng là do Đảng ta đã biết tổ chức và phát huy được lực lượng đó. Thắng lợi của cách mạng Việt Nam chính là nhờ ở sức dân.
Hồ Chí Minh đã thừa nhận và đánh giá đúng khả năng to lớn của 8 Nhân dân mà không có lực lượng nào có thể sánh kịp. Người khẳng định: “Có dân là có tất cả”, tin ở dân, dựa vào dân, tập hợp và phát huy sức mạnh của toàn dân là nguyên tắc cơ bản trong chiến lược cách mạng của Người. Nguyên tắc quan trọng này bắt nguồn từ các giá trị trong truyền thống dân tộc: “Chở thuyền là dân, làm lật thuyền cũng là dân. Thực tế cho thấy, không có sự ủng hộ đồng lòng của nhân dân thì sự nghiệp cách mạng không thể thành công.
Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Người luôn coi trọng lực lượng nhân dân, vì nhân dân là nguồn sức mạnh vĩ đại bảo vệ Đảng, bảo vệ cách mạng thành công. Trí tuệ và năng lực sáng tạo của Đảng đều bắt nguồn từ quần chúng nhân dân. Người thường xuyên nhắc nhở “Dân chúng đồng lòng, việc gì cũng làm được. Dân chúng không ủng hộ, việc gì cũng không làm nên”; “nước lấy dân làm gốc”; “Gốc có vững, cây mới bền.
Xây lầu thắng lợi trên nền Nhân dân”. Con người là vốn quý nhất, là nhân tố quyết định để làm nên lịch sử. Vì vậy, con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp cách mạng. Bởi vậy, Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở cán bộ, đảng viên không bao giờ được quên "dân là chủ", "mọi quyền hành đều ở nơi dân", Nhân dân thật sự là ông chủ tối cao của chế độ mới.
Trong tư tưởng của Bác Hồ, dân chủ là một nội dung lớn, là chìa khóa vạn năng có thể giải quyết được mọi khó khăn. Có phát huy cao độ thì mới động viên được tất cả lực lượng của Nhân dân đưa cách mạng tiến lên. Phải thực hiện quyền làm chủ của Nhân dân để phát huy tính tích cực, tự giác và sáng tạo của Nhân dân. Năm 1946, sau một năm thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Quốc hội khóa I thống nhất ban hành Hiến pháp (Hiến pháp 1946).
Hiến pháp ghi nhận "Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt giống nòi, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo", khẳng định nguồn gốc của quyền lực nhà nước, chủ quyền nhân dân. Nhân dân là người làm chủ đất nước của mình. Quyền lực nhân dân là tối cao, để thực hiện quyền lực của mình nhân dân ủy quyền, trao một phần quyền lực của mình cho nhà nước thực hiện thông qua các thể 9 chế nhà nước. Tất cả các quy định của Hiến pháp đã thể hiện sự phân biệt giữa chủ quyền nhân dân với nhà nước, một thể chế do nhân dân thành lập và đồng thời thể hiện quan điểm về sự kiểm soát của chủ quyền nhân dân đối với quyền lực nhà nước.
Từ những điều được ghi nhận trong Hiến pháp này có thể thấy, tinh thần nhà nước của dân, do dân, vì dân bao gồm: Một là, nhà nước đó do nhân dân lập ra thông qua tổng tuyển cử phổ thông đầu phiếu và kín; Hai là, nhà nước đó hoạt động theo nguyên tắc vì lợi ích của nhân dân, “việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh”; Ba là, mọi hoạt động của Nhà nước phải đặt dưới sự kiểm tra, giám sát của nhân dân; Bốn là, nhân dân có quyền tỏ tín nhiệm hay bất tín nhiệm đối với Chính phủ; “Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ”; Năm là, tự nó, mọi cơ quan nhà nước không có quyền; mọi quyền lực mà Nhà nước có được đều do nhân dân uỷ quyền cho nó. Hiến pháp năm 1959 trên cơ sở quan điểm về chủ quyền nhân dân đã được thiết lập ở Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Điều 4 Hiến pháp quy định: "Tất cả quyền lực trong nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đều thuộc về nhân dân"; "Nhân dân sử dụng quyền lực của mình thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân". Quyền lực nhà nước thực chất là quyền lực của nhân dân được trao cho nhà nước thực hiện; còn Quốc hội và HĐND là những thể chế đại diện của nhân dân nhận quyền lực trực tiếp từ nhân dân bằng cơ chế pháp lý, được nhân dân ủy quyền để thực hiện quyền lực nhân dân và phải chịu trách nhiệm trước nhân dân về việc thực hiện quyền lực đó. Hiến pháp năm 1959 tuy vẫn kế thừa quan điểm quyền lực nhân dân, quyền lực nhà nước trong Hiến pháp năm 1946, nhưng không có quy định rõ ràng về sự phân định giữa hai loại quyền lực nhà nước và quyền lực nhân dân, dường như có xu hướng "hợp nhất" giữa quyền lực nhà nước và quyền lực nhân dân.
Quyền lực 10 nhà nước dường như không bị hạn chế, làm cho quyền lực nhân dân hay chủ quyền nhân dân có phần bị lu mờ. Đến Hiến pháp năm 1980, Điều 6 quy định: "Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội và HĐND các cấp do nhân dân bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân". Thực tế cho thấy quan điểm này chưa đầy đủ, vì nhân dân sử dụng quyền lực của mình thông qua bộ máy nhà nước và các thiết chế xã hội khác.
Bên cạnh đó, quan điểm tập quyền, tập trung quyền lực nhà nước vào Quốc hội được thể hiện rõ khi quy định: Quốc hội có thể đặt cho mình những nhiệm vụ, quyền hạn mới và khi cần Quốc hội có thể trao cho Hội đồng Nhà nước và Hội đồng Bộ trưởng những nhiệm vụ, quyền hạn mới. Cơ chế này có thể dẫn đến nhận thức là: quyền lực của Quốc hội không bị hạn chế bởi Hiến pháp và pháp luật. Quan điểm này dẫn đến hệ quả là không phát huy được vị trí, vai trò của các cơ quan nhà nước trong thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đã được pháp luật quy định. Những nội dung về sự giám sát của quyền lực nhân dân đối với nhà nước vốn được ghi nhận trong Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm 1959 nhưng không được đề cập trong Hiến pháp năm 1980.
Điều đó bắt nguồn từ quan niệm Nhà nước ta là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, chủ quyền thuộc về nhân dân, nên mọi hoạt động nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, do đó nhân dân không cần giám sát đối với các cơ quan nhà nước. Những quy định về quyền phúc quyết của nhân dân, quyền trưng cầu ý dân không được ghi nhận trong Hiến pháp năm 1980. Đây là hạn chế lớn nhất của Hiến pháp năm 1980 về chủ quyền nhân dân. Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) khác với Hiến pháp năm 1980, vấn đề tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước - một bộ phận của quyền lực nhân dân, được khái quát hóa thành quan điểm tổng quát "Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Quyền lực nhà nước là thống nhất có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong 11 việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp". Việc trưng cầu ý dân được thực hiện trên toàn quốc hoặc vùng lãnh thổ. Khi trưng cầu ý dân trên quy mô toàn lãnh thổ quốc gia thì đó mới là quyền lực nhân dân theo đúng nghĩa; còn trưng cầu ý dân ở một cộng đồng lãnh thổ chỉ là ý chí của cộng đồng lãnh thổ dân cư nhất định.
Tuy nhiên, việc quy định này nhằm tránh tình trạng quyền lực nhà nước - quyền lực thể chế cộng đồng chung xâm phạm tới lợi ích của cộng đồng lãnh thổ dân cư. Nhưng cần phải thấy rằng: Hiến pháp không liệt kê những vấn đề cần phải được đưa ra để trưng cầu ý dân. Thêm vào đó, sự giám sát của quyền lực nhân dân đối với quyền lực nhà nước vẫn chưa được thể hiện rõ trong Hiến pháp năm 1992 và còn thiếu nhiều quy định của pháp luật để thực hiện trên thực tế, chẳng hạn như chưa có luật về trưng cầu ý dân.