CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MÔ HÌNH LIÊN KẾT GIỮA BỆNH VIỆN VÀ DOANH NGHIỆP Sự thành công trong phát triển khoa học và công nghệ (KH&CN) nói chung và chuyển giao tri thức và thương mại hóa kết quả nghiên cứu công nói riêng đã, đang và sẽ còn có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với sự phát triển nhanh và bền vững của mỗi quốc gia. Thực tế đã cho thấy từ nhiều thập kỷ qua, đặc biệt là những thập kỷ gần đây, việc sáng tạo, chuyển giao tri thức và thương mại hóa kết quả nghiên cứu KH&CN từ các trường đại học và các tổ chức nghiên cứu công đến doanh nghiệp đã góp phần tạo nên sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế - xã hội của các quốc gia như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc và một số nước EU. Các trường đại học và các tổ chức nghiên cứu công là nguồn chính để tạo ra tri thức và các sáng chế có thể thương mại hóa.
Sự thành công của hoạt động này được biểu hiện ở những công bố khoa học, số lượng bằng sáng chế được công bố, li-xăng, các doanh nghiệp KH&CN mới được thành lập, lượng việc làm được tạo ra, sự luân chuyển lao động nghiên cứu, ở mức độ đóng góp cho tăng trưởng kinh tế và các lợi ích xã hội khác. Hiện nay nhiều quốc gia trên thế giới đã áp dụng một tập hợp các biện pháp trực tiếp và gián tiếp để hỗ trợ từ sáng tạo tri thức đến chuyển giao tri thức và thương mại hóa kết quả nghiên cứu công. Nhờ đó, cách thức mà các trường đại học và các tổ chức nghiên cứu công ở Việt Nam hiện nay tham gia với doanh nghiệp để biến khoa học từ phòng thí nghiệm ra thị trường đang được đẩy nhanh. Đặc biệt trong lĩnh vực y tế đang cần sự thay đổi mạnh mẽ về tư duy, cách thức và sự hỗ trợ rất lớn từ phía Nhà nước và sự mạnh dạn của các doanh nghiệp để cho kết quả nghiên cứu khoa học trong ngành y tế đem lại lợi ích thiết thực cho người dân.
Bởi vậy, luận văn này dựa vào thực tế của bệnh viện công đề xuất giải pháp xây dựng mô hình liên kết bệnh viện với doanh nghiệp nhằm 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nâng cao hiệu quả sử dụng các phương tiện kỹ thuật phục vụ cho chẩn đoán và điều trị được nghiên cứu tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương. Những khái niệm cơ bản có liên quan đến khoa học và công nghệ 1. Khái niệm khoa học Khoa học là hệ thống những tri thức về mọi loại quy luật của vật chất và sự vận động của vật chất, những quy luật của tự nhiên, xã hội, tư duy. Khoa học là một hoạt động xã hội nhằm tìm tòi, phát hiện quy luật của sự vật và hiện tượng và vận dụng các quy luật ấy để sáng tạo ra nguyên lý các giải pháp tác động vào các sự vật và hiện tượng nhằm biến đổi trạng thái của chúng.
Khoa học là một hình thái ý thức xã hội, tồn tại mang tính độc lập tương đối với các hình thái ý thức xã hội khác (ở đối tượng và hình thức và hình thức phản ánh và mang một chức năng xã hội riêng biệt). Sheldon (1997) cho rằng khoa học là một hoạt động trí tuệ được thực hiện bởi con người, được thiết kế để khám phá cách thức hoạt động, tồn tại của sự vật – hiện tưởng. Theo Vũ Cao Đàm khoa học còn được hiểu là một hoạt động xã hội nhằm tìm tòi, phát hiện quy luật của sự vật và hiện tượng và vận dụng các quy luật ấy để sáng tạo ra nguyên lý các giải pháp tác động vào sự vật hoặc hiện tượng, nhằm biến đổi trạng thái của chúng. Nghiên cứu khoa học (NCKH) là sự tìm kiếm những điều mà khoa học chưa biết; hoặc là phát hiện bản chất sự vật, phát triển nhận thức khoa học về thế giới; hoặc là sáng tạo phương pháp mới và phương tiện kỹ thuật mới để làm biến đổi sự vật phục vụ cho mục tiêu hoạt động của con người.
NCKH là loại hoạt động đặc biệt. Nó đặc biệt ở chỗ đó là công việc tìm kiếm những điều chưa biết và người nghiên cứu hoàn toàn không thể hình dung được, hoặc không thể hình dung thật chính xác kết quả dự kiến. Có thể nói, NCKH là sự tìm tòi, khám phá trong một thế giới hoàn toàn chưa được biết đến, và kết quả tìm kiếm ra sao cũng không thể dự kiến trước một cách chi tiết. NCKH gồm có nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng.
14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nghiên cứu cơ bản là những nghiên cứu nhằm phát hiện thuộc tính, cấu trúc, động thái của sự vật, tương tác trong nội bộ sự vật và mối liên hệ giữa sự vật và các sự vật khác. Nghiên cứu ứng dụng là sự vận dụng quy luật được phát hiện từ nghiên cứu cơ bản để giải thích một sự vật; tạo ra những nguyên lý mới về các giải pháp và áp dụng chúng vào sản xuất và đời sống. Giải pháp có thể được hiểu theo nghĩa rộng có thể là một giải pháp về công nghệ, về vật liệu, về tổ chức và quản lý. Babbie (1986), NCKH là cách thức: (1) Con người tìm hiểu các hiện tượng khoa học một cách có hệ thống; và (2) Là quá trình áp dụng các ý tưởng, nguyên lý để tìm ra các kiến thức mới nhằm giải thích cá sự vật hiện tượng.
Theo Armstrong và Sperry (1994), NCKH dựa vào việc ứng dụng các phương pháp khoa học để phát hiện ra những cái mới về bản chất sự vật, về thế giới tự nhiên và xã hội, và để sáng tạo phương pháp và phương tiện kỹ thuật mới cao hơn, giá trị hơn. Hình thức nghiên cứu này cung cấp thông tin và lý thuyết khoa học nhằm giải thích bản chất và tính chất của thế giới. Kết quả của NCKH tạo ra những ứng dụng cho thực tiễn. Hoạt động NCKH được tài trợ bởi các cơ quan chính quyền, các tổ chức tài trợ xã hội.
Hoạt động NCKH được phân loại tùy lĩnh vực học thuật và ứng dụng. NCKH là một tiêu chí được sử dụng rộng rãi trong đánh giá vị thế của các cơ sở học thuật. Như vậy, NCKH là hoạt động tìm hiểu, xem xét, điều tra hoặc thử nghiệm, dựa trên những số liệu, tài liệu, kiến thức đạt được từ thực nghiệm, để phát hiện ra cái mới về bản chất sự vật, về thế tự nhiên và xã hội. Trong điều kiện ngày nay, khoa học đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc tạo ra cơ sở vật chất của xã hội, hoàn thiện các quan hệ xã hội và hình thành con người mới.
NCKH có mục tiêu chủ yếu là tìm kiếm câu trả lời cho các câu hỏi đặt ra, nói cách khác là tìm kiếm kiến thức và sự hiểu biết. Tuy nhiên, nếu ta có 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thể chia sẻ, phổ biến thông tin, kiến thức mà ta có được thông qua nghiên cứu sẽ có hiệu quả cao hơn rất nhiều. Nói cách khác, bản chất của NCKH là một quá trình vận dụng các ý tưởng, nguyên lý và phương pháp khoa học để tìm ra các kiến thức mới nhằm mô tả, giải thích hay dự báo các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan. Nghiên cứu có nghĩa là trả lời những câu hỏi mang tính học thuật hoặc thực tiễn; làm hoàn thiện và phong phú thêm các tri thức khoa học; đưa ra các câu trả lời để giải quyết các vấn đề trong thực tiễn.
Với cách nhìn như vậy, NCKH còn có vai trò làm thay đổi cách nhìn nhận vấn đề của người đọc, thuyết phục người đọc tin vào bản chất khoa học và kết quả thực nghiệm nhằm đưa người đọc đến quyết định và hành động phù hợp để cải thiện tình hình của các vấn đề đặt ra theo chiều hướng tốt hơn. Hoạt động NC&TK theo UNESCO là một chuỗi các hoạt động bao gồm nghiên cứu, triển khai và đổi mới công nghệ. Trong đó: - Nghiên cứu bao gồm NCCB và NCƯD, trong đó NCCB chia thành NCCB thuần túy và NCCB định hướng; NCCB định hướng lại chia thành NCCB nền tảng và nghiên cứu chuyên đề. - Triển khai bao gồm 3 giai đoạn: tạo vật mẫu - prototype, tạo quy trình - làm pilot để tạo công nghệ và làm thí điểm loạt nhỏ - sản xuất thử loạt 0 hay làm “Sêri 0”.
- Đổi mới công nghệ bao gồm CGCN và phát triển công nghệ. Theo UNESCO: “NC&TK là các hoạt động sáng tạo được thực hiện một cách có hệ thống để tăng cường vốn tri thức, bao gồm tri thức về con người, văn hóa, xã hội và sử dụng vốn tri thức này để tìm ra các ứng dụng mới”. Hoạt động NC&TK còn bao hàm một loại hình hoạt động khác nữa có chức năng phục vụ cho tất cả các loại hình hoạt động KH&CN nói trên, đó là hoạt động dịch vụ KH&CN. Có nhiều cách phân loại NCKH, trong đó có 3 cách phân loại thường dùng là: phân loại theo chức năng của nghiên cứu (mô tả, giải thích, giải pháp, dự báo), phân loại theo phương pháp thu thập thông tin phục vụ 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nghiên cứu (thư viện, điền dã, labô) và phân loại theo tính chất của sản phẩm nghiên cứu (NCCB, NCƯD và triển khai thực nghiệm).
Khái niệm công nghệ Công nghệ là tập hợp những hiểu biết để tạo ra các giải pháp kỹ thuật được áp dụng vào sản xuất và đời sồng. Ngày nay công nghệ được coi là sự kết hợp giữa phần cứng và phần mềm. Phần cứng là trang thiết bị, phần mềm là bao gồm: thành phần con người, thành phần thông tin, thành phần tổ chức. Công nghệ là sự thay đổi, việc sử dụng, và kiến thức về các công cụ, máy móc, kỹ thuật, kỹ năng nghề nghiệp, hệ thống, và phương pháp tổ chức, nhằm giải quyết một vấn đề, cải tiến một giải pháp đã tồn tại, đạt một mục đích, hay thực hiện một chức năng cụ thể.
Công nghệ cũng có thể chỉ là một tập hợp những công cụ như vậy, bao gồm máy móc, những sự sắp xếp, hay những quy trình. Công nghệ ảnh hưởng đáng kể lên khả năng kiểm soát và thích nghi của con người cũng như của những động vật khác vào môi trường tự nhiên của mình. Thuật ngữ có thể được dùng theo nghĩa chung hay cho những lĩnh vực cụ thể, ví dụ như "công nghệ xây dựng", "công nghệ thông tin".