Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ lịch sử với đề tài "Lực lượng dân quân tự vệ miền Bắc Việt Nam trong thời kỳ chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ (1965-1973)" do nghiên cứu sinh Ngô Hoàng Nam thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Đinh Quang Hải, bảo vệ năm 2019 tại Học viện Khoa học xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam, Mã số: 92 29 013).

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả khẳng định việc kế thừa truyền thống "cả nước chung sức", "trăm họ đều là binh", "ngụ binh ư nông" đã hình thành nên chủ trương vũ trang công nông của Đảng từ cao trào 1930-1931 và Nghị quyết về Đội tự vệ ngày 28-3-1935 tại Đại hội lần thứ nhất ở Ma Cao. Trong giai đoạn 1965-1973, trước hai cuộc chiến tranh phá hoại (CTPH) bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ, lực lượng Dân quân tự vệ (DQTV) miền Bắc phát triển đỉnh cao về quy mô tổ chức và nghệ thuật tác chiến, khẳng định vai trò là một bộ phận của lực lượng vũ trang ba thứ quân (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ và du kích). Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: dù đã có nhiều công trình trong và ngoài nước đề cập đến cuộc kháng chiến chống Mỹ hoặc các trận đánh cục bộ, nhưng cho đến nay vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu toàn diện, có hệ thống và chuyên sâu về lực lượng DQTV miền Bắc giai đoạn 1965-1973 trên các mặt cơ cấu tổ chức, xây dựng lực lượng, công tác huấn luyện, trang bị vũ khí, hoạt động chiến đấu và phục vụ chiến đấu.

Mục đích nghiên cứu của luận án là nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống về quá trình xây dựng và hoạt động của lực lượng DQTV miền Bắc Việt Nam từ năm 1965 đến năm 1973.

Để đạt được mục đích trên, luận án giải quyết 5 nhiệm vụ cụ thể được đánh số theo văn bản:

  1. Nghiên cứu tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài.
  2. Phân tích bối cảnh lịch sử, âm mưu tiến hành CTPH của đế quốc Mỹ; trình bày chủ trương của Đảng, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về tổ chức, xây dựng lực lượng DQTV từ năm 1965 đến năm 1973.
  3. Trình bày quá trình xây dựng, trang bị, công tác huấn luyện và nhiệm vụ của lực lượng DQTV từ năm 1965 đến năm 1973.
  4. Trình bày hoạt động của lực lượng DQTV từ năm 1965 đến năm 1973 trên các lĩnh vực chiến đấu (gồm: chiến đấu, phục vụ bộ đội chiến đấu, vây bắt phi công) và phục vụ chiến đấu (gồm: tổ chức phòng không sơ tán; đảm bảo giao thông vận tải; đảm bảo trật tự trị an; tham gia lao động sản xuất; tham gia khắc phục hậu quả chiến tranh).
  5. Nêu lên những đặc điểm, làm rõ những thành tựu, hạn chế và rút ra những kinh nghiệm từ thực tiễn hoạt động của lực lượng DQTV miền Bắc Việt Nam từ năm 1965 đến năm 1973.

Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Lực lượng DQTV miền Bắc Việt Nam từ năm 1965 đến năm 1973, được phân định rõ thành hai bộ phận: Dân quân (tổ chức ở xã, phường, thị trấn, làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc tại địa phương) và Tự vệ (tổ chức ở cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, tổ chức kinh tế, chính trị, xã hội).
  • Phạm vi thời gian: Từ ngày 7-2-1965 (đế quốc Mỹ chính thức mở đầu cuộc CTPH lần thứ nhất) đến ngày 15-1-1973 (chấm dứt cuộc CTPH lần thứ hai).
  • Phạm vi không gian: Toàn bộ lãnh thổ, lãnh hải miền Bắc Việt Nam từ vĩ tuyến 17 trở ra phía Bắc, trong đó tập trung vào các địa bàn trọng điểm đánh phá ác liệt gồm Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình.
  • Phạm vi nội dung: Quá trình tổ chức và xây dựng lực lượng; hoạt động tác chiến và bảo đảm chiến đấu; đánh giá thành tựu, hạn chế, nguyên nhân; đúc kết đặc điểm và bài học kinh nghiệm lịch sử.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả đã tiến hành khảo sát và phân loại các công trình nghiên cứu đi trước thành 3 nhóm chính:

Nhóm 1: Các công trình nghiên cứu về cuộc kháng chiến chống Mỹ, CTPH và cuộc chiến đấu chống CTPH miền Bắc. Nhóm này gồm các công trình tổng kết kinh nghiệm chiến tranh nhân dân như: Văn Tiến Dũng, Đặng Tính, Phùng Thế Tài (1968), Chiến tranh nhân dân đánh thắng chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ; Bắt giặc lái Mỹ và đánh máy bay địch đến cứu (Nxb QĐND, 1971); Khâm Thiên (Sở Văn hóa Thông tin Hà Nội, 1973); Võ Nguyên Giáp (1975), Nắm vững đường lối chiến tranh nhân dân đánh thắng chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ; bộ sách 2 tập Chiến tranh nhân dân đánh thắng chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, 1981, 1983); lịch sử các quân khu như Quân khu 3 những năm đánh Mỹ (1989), Thủ đô Hà Nội - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) (1991), Quân khu IV - Lịch sử kháng chiến... (1994), Quân khu 3 - Lịch sử... (1995), Lịch sử lực lượng vũ trang Quân khu 2 (1946-2016) (2016); các bộ tổng kết toàn quốc như Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước - thắng lợi và bài học (1995), Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945-1975, thắng lợi và bài học (2000); sách chuyên đề Chống Mỹ phong tỏa sông biển vùng Hải Phòng (1999); các tài liệu tổng kết của Bộ Tổng Tham mưu (BTTM) năm 2001 về công tác phòng tránh, khắc phục hậu quả, bắn máy bay tầm thấp tại Hà Nội và chỉ đạo lực lượng phòng không địa phương; Lịch sử Quân sự Việt Nam (tập 11) (2005); Lịch sử Hải quân nhân dân Việt Nam 1955-2005 (2005); Cảnh Dương và Đông A (2007), Bí mật các chiến dịch không kích của Mỹ vào miền Bắc Việt Nam; sách của Bộ Tư lệnh Thủ đô (2010); Nguyễn Thị Huệ Chi (2013); Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) các tập IV và VII (2013); Lịch sử Việt Nam (tập 13) do Nguyễn Văn Nhật chủ biên (2014); Lịch sử tư tưởng quân sự Việt Nam (tập 4) (2014); cùng các luận án tiến sĩ của Phạm Thanh Hải (2008), Trương Thị Mai Hương (2010), Nguyễn Quang Liệu (2010), Nguyễn Thị Chinh (2014), Đặng Thị Thanh Trâm (2015), Nguyễn Doãn Thuận (2015).

Nhóm 2: Các công trình nghiên cứu về lực lượng DQTV miền Bắc. Tiêu biểu là các nghiên cứu chuyên ngành của Lê Kinh Lịch (1960, 1961); Chu Văn Tấn (1962) về DQTV miền núi; Đồng Sĩ Nguyên và Nguyễn Hữu Mai (1964) về phòng chống biệt kích; Vương Thừa Vũ (1964) về DQTV vùng ven biển; Nguyễn Hữu Mai (1966); các tác phẩm của Đại tướng Võ Nguyên Giáp (1967, 1974) khẳng định vai trò chiến lược của DQTV; sách hướng dẫn chiến thuật của Hoàng Điệp, Hoàng Giang, Vũ Xuân Sinh (1991); Lê Văn Hựu, Nguyễn Sơn Cao, Phan Minh Châu (1997) về Quân khu 4; chuyên đề DQTV biển (1997); các công trình tổng kết của BTTM năm 2000 về cách đánh của dân quân du kích, tự vệ và năm 2001 về lực lượng pháo binh DQTV; các ấn phẩm của Cục Dân quân tự vệ gồm Biên niên sự kiện (1947-2000) (2001), Dân quân tự vệ các dân tộc Việt Nam (2006), Lịch sử Cục Dân quân tự vệ (1947-2007) (2007), Tổng kết công tác tham mưu chiến lược của Cục Dân quân tự vệ (1947-2007) (2007), Lịch sử dân quân tự vệ Quân khu 4 (1945-2010) (2010), Lịch sử 65 năm ngành Dân quân tự vệ Việt Nam (1947-2012) (2012); các bài nghiên cứu trên Tạp chí Lịch sử Quân sự và Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử của Nguyễn Xuân Thành (1993), Phan Hường (1996), Trịnh Duy Ninh (1997), Quốc Việt (1997), Phạm Việt (2001), Nguyễn Đình Hùng (2011), Nguyễn Hữu Đạo (2011), Nguyễn Trọng Thành (2015); kỷ yếu các hội thảo khoa học toàn quân năm 2005 và 2015.

Nhóm 3: Các công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài về chiến tranh Việt Nam. Bao gồm các công trình dịch thuật của Bruce Palmer (1984), Amter (1985), Robert McNamara (1995), George C. Herring (1998), Larry Berman (2001), Gabriel Kolko (2003), Hồi ký Richard Nixon (2004), Pierre Asselin (2005), Nigel Cawthorne (2007), Charles Fourniau (2007), All Server (2010). Các ấn phẩm này phản ánh giác độ can thiệp, tâm lý phi công, các bước leo thang và thừa nhận thất bại của không quân, hải quân Mỹ.

Khoảng trống và vị trí của luận án: Các công trình đi trước đã làm rõ đường lối chiến tranh nhân dân, âm mưu của Mỹ, giới thiệu những trận đánh tiêu biểu hoặc khảo sát riêng lẻ theo từng địa bàn quân khu, tỉnh, thành phố. Tuy nhiên, chưa có công trình nào tái hiện một cách hệ thống, đồng bộ toàn bộ tiến trình lịch sử của lực lượng DQTV miền Bắc từ năm 1965 đến năm 1973. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng việc hệ thống hóa chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, Bộ Quốc phòng; làm rõ cơ chế tổ chức, trang bị, huấn luyện và tái hiện đầy đủ hai mảng hoạt động chiến đấu và phục vụ chiến đấu, từ đó đúc kết các bài học kinh nghiệm mang tính lịch sử quân sự.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng hệ thống quan điểm, đường lối của Đảng Lao động Việt Nam, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng về chiến tranh nhân dân, xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân.

Luận án là công trình nghiên cứu lịch sử mang tính chất định tính, sử dụng hai phương pháp nghiên cứu chuyên ngành chủ đạo:

  • Phương pháp lịch sử: Tái hiện cụ thể, khách quan, chân thực quá trình hình thành, củng cố tổ chức và hoạt động thực tiễn của lực lượng DQTV miền Bắc theo đúng trình tự thời gian (1965-1968 và 1969-1973) gắn liền với bối cảnh địa bàn tác chiến.
  • Phương pháp logic: Đi sâu phân tích bản chất hiện tượng lịch sử, mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả, làm rõ quy luật vận động nội tại, chỉ ra những đặc điểm, thành tựu, hạn chế và khái quát hóa thành các bài học kinh nghiệm.
  • Các phương pháp bổ trợ: Tổng hợp tư liệu, phân tích văn bản, thống kê lịch sử, so sánh lịch sử, kết hợp điều tra khảo sát thực địa và phỏng vấn nhân chứng lịch sử.

Nguồn tư liệu nghiên cứu được khai thác có chọn lọc từ các cơ quan lưu trữ và nghiên cứu chuyên trách: Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III, Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng, Thư viện Quân đội, Thư viện Quốc gia, bảo tàng và thư viện các địa phương; cùng hệ thống văn kiện, chỉ thị, nghị quyết của Đảng, Nhà nước, Bộ Tổng Tham mưu, Cục Động viên và Dân quân, Cục Dân quân.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Chương 1 hệ thống hóa và phân tích chuyên sâu ba nhóm công trình nghiên cứu trong và ngoài nước. Tác giả đánh giá những nội dung đã được giải quyết: làm rõ tính chất chiến tranh nhân dân đất đối không, tái hiện các trận đánh độc lập hoặc hiệp đồng bắn rơi máy bay Mỹ, ghi nhận sự đóng góp của DQTV trong phục vụ chiến đấu và phòng không sơ tán. Đồng thời, chương 1 xác định những vấn đề luận án tập trung giải quyết: phân tích bối cảnh tác động đến chuyển hướng tổ chức; làm rõ chỉ đạo của Đảng và Bộ Quốc phòng; tái dựng bức tranh toàn diện về xây dựng lực lượng (cơ cấu, trang bị, huấn luyện) và các hoạt động chiến đấu (bắn máy bay, tàu chiến, bắt phi công), phục vụ chiến đấu (giao thông, sơ tán, trị an, sản xuất, khắc phục hậu quả); phân tích thành tựu, hạn chế và đúc kết kinh nghiệm thực tiễn.

Chương 2: Lực lượng dân quân tự vệ miền Bắc Việt Nam từ năm 1965 đến năm 1968

Chương 2 phản ánh quá trình chuyển hướng và xây dựng lực lượng DQTV trong thời kỳ chống CTPH lần thứ nhất. Trước các bước leo thang của Mỹ (ném bom dưới vĩ tuyến 19 trước ngày 15-5-1965, vượt vĩ tuyến 19 từ 15-5 đến 29-6-1965, và ném bom Hà Nội, Hải Phòng từ 29-6-1965; số phi vụ tăng từ vài vụ lên 10-20 vụ, rồi đến cuối năm 1965 đạt 100-200 lượt mỗi tuần), Đảng và Nhà nước đã ban hành các chủ trương chuyển hướng sang thời chiến: Chỉ thị 88-CT/TW (1-1-1965); Nghị quyết Hội đồng Quốc phòng (tháng 1-1965); Nghị quyết Hội nghị Trung ương 11 (tháng 3-1965) và Trung ương 12 (tháng 12-1965); Lệnh động viên cục bộ của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua ngày 21-4-1965 (Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ngày 25-5-1965); Chỉ thị số 127/CT-TW và Quyết định số 014-QĐ/QP (ngày 8-3-1965).

Về cơ quan chỉ đạo, ngày 18-5-1964, Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 60/QĐ-QP sáp nhập Cục Phòng không nhân dân vào Cục Động viên và Dân quân. Đến tháng 6-1965, Cục Động viên và Dân quân đổi tên thành Cục Dân quân, có tổng quân số 55 người, đóng tại phố Hàng Bông, phố Thợ Nhuộm và thành Hoàng Diệu (Hà Nội). Cơ cấu Cục Dân quân gồm 5 phòng/ban: Phòng Tổ chức, Phòng Huấn luyện, Phòng Tác chiến và phòng không, Phòng B-C, Ban Hành chính. Cục trưởng là Vũ Hải, Cục phó là Nguyễn Ngọc Trượng và Võ An Đông; giai đoạn đầu năm 1968 bổ nhiệm thêm Cục phó Lê Như Hoan và Nguyễn Diến. Đối với mặt biển, ngày 17-5-1966 Bộ Quốc phòng ban hành Chỉ thị 71/QĐ, Ban Bí thư ban hành Chỉ thị 141/CT-TW (10-1-1967), và Quân chủng Hải quân ban hành Quyết định số 436/HQ-QĐ (1967) lập Phòng DQTV Mặt nước.

Về phân loại và biên chế, DQTV được chia thành: Lực lượng nòng cốt (chiến đấu, gồm bộ binh cơ động/tại chỗ, các binh chủng phòng không, pháo binh, công binh, trinh sát, thông tin, phòng hóa; DQTV biển) và Lực lượng rộng rãi (phục vụ, gồm công dân nam từ 18 đến 45 tuổi, nữ từ 18 đến 40 tuổi). Quy định biên chế cụ thể như sau:

Lực lượng DQTV Cấp biên chế Quân số quy định
DQTV Bộ binh Tổ 3 – 5 người
Tiểu đội 7 – 11 người
Trung đội 21 – 38 người
Đại đội 70 – 100 người
Tiểu đoàn 250 – 350 người
DQTV Phòng không, Pháo binh Khẩu đội 5 – 30 người
Đại đội 40 – 70 người
DQTV Biển Tiểu đội lên Trung đội, Hải đội Tương đương cấp đại đội
Hải đoàn (nơi có nhiều phương tiện) Tương đương cấp tiểu đoàn

Về trang bị vũ khí, lực lượng kết hợp giữa vũ khí thô sơ tự tạo (đòn gánh, cuốc, thuổng, gậy gộc, mác, dao, kiếm, giáo, chông, cạm bẫy, mìn tự tạo) với vũ khí quân dụng hiện đại:

Nhóm vũ khí Chủng loại trang bị cho DQTV
Súng ngắn K54, K59, P63, Cal.45
Súng trường SKS, SVK, K43, K44, K50, K63, K30, Cacbin
Súng tiểu liên AK, AZVZ
Súng trung liên & đại liên RPK, RP46, K53, K57, K67, M60
Súng máy phòng không 12,7mm; 14,5mm
Pháo phòng không & mặt đất 23mm, 37mm, 57mm (về sau có thêm cỡ 100mm, 105mm)

Công tác huấn luyện quy định thời gian từ 10 đến 30 ngày/năm (chia thành 3 đợt), trong đó dành 2/3 thời gian luyện tập bắn máy bay bay thấp, 1/3 thời gian tập bắn đạn thật vào bia, ném lựu đạn, đánh giáp lá cà và tác chiến bộ binh.

Nhiệm vụ của DQTV được cụ thể hóa theo Thông tư số 350/TTg (19-7-1968) và chỉ thị của BTTM thành 6 nhiệm vụ lớn: sẵn sàng chiến đấu; giữ gìn trị an cơ sở và bảo vệ sản xuất; phòng chống biệt kích thám báo; chống địch phong tỏa biên giới, bờ biển; phòng tránh, bảo đảm giao thông vận tải; bắn máy bay bay thấp, bắt giặc lái và tàu chiến địch. Thực tiễn giai đoạn này ghi nhận chiến công của Trung đội lão dân quân Hoằng Trường (Thanh Hóa) trưa ngày 14-10-1967 dùng 19 viên đạn súng máy cao xạ 12,7mm bắn rơi máy bay F-4H và tiếp tục bắn rơi 1 máy bay AD-6; cùng phong trào thi đua "Ba sẵn sàng", "Ba đảm đang", mô hình "Trung đội Cờ hồng" tại Thái Bình.

Chương 3: Lực lượng dân quân tự vệ miền Bắc Việt Nam từ năm 1969 đến năm 1973

Chương 3 trình bày giai đoạn kiện toàn tổ chức từ sau khi Mỹ tuyên bố ngừng ném bom hoàn toàn miền Bắc (cuối năm 1968) đến khi tiến hành cuộc CTPH lần thứ hai (tháng 4-1972 đến tháng 1-1973).

Giai đoạn 1969-1971, các đơn vị DQTV tập trung củng cố đội ngũ, nâng cao chất lượng huấn luyện hiệp đồng binh chủng, đào tạo chuyên sâu về kỹ thuật rà phá bom từ trường, thủy lôi và kỹ thuật bắn đón máy bay tầm thấp.

Khi đế quốc Mỹ phát động cuộc CTPH lần thứ hai và cao điểm là chiến dịch tập kích đường không bằng máy bay B-52 vào Hà Nội, Hải Phòng (tháng 12-1972), lực lượng DQTV đã phát huy vai trò nòng cốt trong thế trận chiến tranh nhân dân đất đối không. Các đơn vị trực chiến pháo cao xạ, súng máy phòng không của tự vệ các nhà máy, xí nghiệp và dân quân các xã ven đô đã bố trí các trận địa đón lõng tầm thấp, phối hợp chặt chẽ với bộ đội phòng không - không quân chủ lực. Tiêu biểu có Đại đội dân quân gái pháo binh Tiền Hải (Thái Bình) lập chiến công bắn rơi máy bay Mỹ ban đêm (ngày 8-11-1972) và trận độc lập chiến đấu ngày 11-7-1972.

Bên cạnh mặt trận chiến đấu, DQTV gánh vác khối lượng lớn công việc phục vụ chiến đấu: tổ chức sơ tán triệt để nhân dân ra khỏi khu vực trọng điểm đánh phá (như tại phố Khâm Thiên sau đợt rải thảm bom ngày 26-12-1972); trực tiếp đào bới cứu sập, cấp cứu người bị nạn, dập tắt các đám cháy; tham gia bảo đảm huyết mạch giao thông đường bộ, đường sắt và rà phá bom mìn, chống phong tỏa luồng lạch sông biển; tiếp tục thực hiện khẩu hiệu "tay cày tay súng", "tay búa tay súng" nhằm bảo vệ mùa màng, duy trì sản xuất công nghiệp và cung cấp nhân tài, vật lực chi viện cho chiến trường miền Nam.

Chương 4: Nhận xét và một số kinh nghiệm

Chương 4 tổng kết các đặc điểm, chỉ rõ thành tựu, hạn chế và đúc kết 5 bài học kinh nghiệm lịch sử:

  • Đặc điểm: Lực lượng DQTV mang tính chất quần chúng sâu rộng, vừa là lực lượng lao động sản xuất vừa là lực lượng vũ trang tại chỗ; tổ chức thích ứng linh hoạt theo sự biến động của chiến tranh phá hoại.
  • Thành tựu: Góp phần to lớn cùng bộ đội chủ lực đánh bại hai cuộc CTPH của Mỹ; độc lập và phối hợp bắn rơi nhiều máy bay, bắt sống nhiều phi công nhảy dù; vô hiệu hóa các hoạt động phong tỏa sông biển; giữ vững trật tự an ninh hậu phương và bảo đảm dòng chảy chi viện chiến lược cho tiền tuyến.
  • Hạn chế và nguyên nhân: Trong giai đoạn đầu, trang bị vũ khí còn chắp vá, thô sơ, chưa đồng bộ; trình độ kỹ thuật tác chiến của một bộ phận cán bộ, chiến sĩ dân quân chưa đồng đều do kiêm nhiệm sản xuất; việc bảo đảm trang phục và đời sống vật chất cho lực lượng trực chiến tại chỗ có lúc, có nơi còn thiếu thốn.
  • Một số kinh nghiệm:
    1. Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với công tác DQTV.
    2. Quán triệt sâu sắc đường lối chiến tranh nhân dân, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa lao động sản xuất với chiến đấu và phục vụ chiến đấu.
    3. Xây dựng lực lượng DQTV rộng khắp nhưng có trọng điểm, kết hợp chặt chẽ lực lượng nòng cốt với lực lượng rộng rãi, chú trọng phát triển các phân đội binh chủng kỹ thuật (phòng không, pháo binh, công binh, mặt nước).
    4. Nâng cao chất lượng huấn luyện quân sự sát với thực tế chiến đấu; kết hợp nhuần nhuyễn giữa vũ khí thô sơ tự tạo với vũ khí hiện đại; phát huy lối đánh linh hoạt, sáng tạo của chiến tranh nhân dân địa phương.
    5. Thực hiện hiệp đồng tác chiến chặt chẽ giữa dân quân tự vệ với bộ đội địa phương và bộ đội chủ lực trong thế trận phòng thủ chung của từng khu vực tác chiến.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận, luận án góp phần làm sâu sắc thêm quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh nhân dân; cung cấp hệ thống luận cứ khoa học về nghệ thuật tổ chức, xây dựng và phát huy vai trò của lực lượng vũ trang quần chúng trong thế trận chiến tranh nhân dân đất đối không và chống phong tỏa sông biển.

Về mặt thực tiễn, luận án là công trình khoa học đầu tiên phục dựng một cách toàn diện, có hệ thống bức tranh lịch sử về tổ chức và hoạt động của lực lượng DQTV miền Bắc trong thời kỳ chống CTPH (1965-1973). Công trình hệ thống hóa khối tư liệu lưu trữ có độ tin cậy cao; khẳng định vị trí chiến lược của lực lượng DQTV trong ba thứ quân; đồng thời cung cấp các bài học kinh nghiệm lịch sử có giá trị thực tiễn cho công tác quân sự địa phương, xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân trong giai đoạn hiện nay.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, do giới hạn phạm vi đề tài, luận án chỉ tập trung khảo sát không gian miền Bắc từ vĩ tuyến 17 trở ra và đóng khung thời gian từ 1965 đến 1973. Nguồn tư liệu lưu trữ thời chiến ở một số xã, thôn vùng sâu, vùng xa qua thời gian bị thất lạc, dẫn đến mức độ chi tiết về các phân đội cơ sở tại một số địa phương còn chưa hoàn toàn đồng đều.

Về hướng nghiên cứu tiếp, đề tài gợi mở việc tiếp tục khai thác các tài liệu giải mật từ các cơ quan lưu trữ quốc tế; nghiên cứu so sánh chuyên sâu về nghệ thuật tác chiến của DQTV miền Bắc với lực lượng du kích chiến trường miền Nam; hoặc nghiên cứu chuyên đề về công tác bảo đảm hậu cần tại chỗ và hoạt động của các phân đội nữ dân quân trong chiến tranh giải phóng.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao đối với:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên các ngành Lịch sử Việt Nam, Lịch sử Quân sự và Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
  • Giảng viên các học viện, trường sĩ quan quân đội, các trường đại học trong giảng dạy chuyên đề chiến tranh nhân dân và lịch sử nghệ thuật quân sự.
  • Cán bộ làm công tác tham mưu quân sự địa phương, cơ quan quân sự các cấp trong việc nghiên cứu biên chế, tổ chức huấn luyện, xây dựng lực lượng dự bị động viên và DQTV hiện nay. Phần tài liệu đáng tham khảo nhất là Chương 2 và Chương 3 (với các số liệu biên chế, trang bị, quy định huấn luyện) cùng 5 bài học kinh nghiệm ở Chương 4.

Câu hỏi thường gặp

1. Lực lượng DQTV miền Bắc giai đoạn 1965-1968 được phân loại thành những bộ phận nào và quy định độ tuổi ra sao? Văn bản quy định DQTV gồm hai loại hình: Lực lượng nòng cốt (lực lượng chiến đấu gồm bộ binh cơ động/tại chỗ, các phân đội binh chủng phòng không, pháo binh, công binh, trinh sát, thông tin, phòng hóa và DQTV biển); Lực lượng rộng rãi (lực lượng phục vụ chiến đấu, làm dự bị, gồm công dân nam từ đủ 18 đến 45 tuổi và nữ từ đủ 18 đến 40 tuổi).

2. Cơ quan chỉ đạo cao nhất của lực lượng DQTV trực thuộc Bộ Tổng Tham mưu giai đoạn 1965-1968 có cơ cấu tổ chức và quân số như thế nào? Tháng 6-1965, Cục Động viên và Dân quân đổi tên thành Cục Dân quân với tổng quân số 55 người, đóng quân tại phố Hàng Bông, Thợ Nhuộm và thành Hoàng Diệu (Hà Nội). Cơ cấu gồm: Phòng Tổ chức, Phòng Huấn luyện, Phòng Tác chiến và phòng không, Phòng B-C, Ban Hành chính. Cục trưởng là Vũ Hải; các Cục phó gồm Nguyễn Ngọc Trượng, Võ An Đông, Lê Như Hoan và Nguyễn Diến.

3. Quy định về thời gian và nội dung huấn luyện quân sự đối với DQTV miền Bắc trong những năm 1965-1968 được phân bổ cụ thể ra sao? Lực lượng DQTV phải tham gia huấn luyện từ 10 đến 30 ngày/năm, tổ chức thành 3 đợt. Trong một đợt huấn luyện, 2/3 thời gian dành cho tập luyện bắn máy bay tầm thấp, 1/3 thời gian tập luyện các nội dung kỹ thuật chiến đấu bộ binh, bắn đạn thật vào bia, ném lựu đạn và giáp lá cà.

4. Chủng loại vũ khí quân dụng hiện đại chính được trang bị cho DQTV miền Bắc trong thời kỳ chống CTPH gồm những gì? Bên cạnh vũ khí tự tạo thô sơ, DQTV được trang bị: súng ngắn (K54, K59, P63, Cal.45); súng trường (SKS, SVK, K43, K44, K50, K63, K30, Cacbin); tiểu liên (AK, AZVZ); trung liên và đại liên (RPK, RP46, K53, K57, K67, M60); súng máy phòng không (12,7mm, 14,5mm); và các loại pháo phòng không, mặt đất (23mm, 37mm, 57mm, có thời điểm lên đến 100mm và 105mm).

5. Chiến công tiêu biểu nào của lực lượng dân quân xã được ghi nhận trong văn bản thể hiện hiệu quả bắn máy bay Mỹ bằng súng máy phòng không tầm thấp? Tiêu biểu là trận đánh trưa ngày 14-10-1967 của Trung đội lão dân quân xã Hoằng Trường, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa: chỉ bằng 19 viên đạn súng máy cao xạ 12,7mm, đơn vị đã bắn hạ máy bay F-4H của Mỹ và tiếp tục bắn rơi 1 chiếc máy bay AD-6, sau đó được Nhà nước tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Ngô Hoàng Nam là công trình khoa học chuyên khảo tái hiện một cách hệ thống, khách quan toàn bộ tiến trình lịch sử xây dựng và hoạt động của lực lượng dân quân tự vệ miền Bắc Việt Nam từ năm 1965 đến năm 1973. Dựa trên nguồn tư liệu lưu trữ xác thực và phương pháp nghiên cứu lịch sử - logic, luận án đã làm rõ sự phát triển về tổ chức, trang bị, huấn luyện cũng như hai chức năng vừa sản xuất vừa chiến đấu và phục vụ chiến đấu của lực lượng này. Những kết quả tổng kết và bài học kinh nghiệm được rút ra trong luận án có giá trị khoa học vững chắc, đóng góp thiết thực cho công tác nghiên cứu lịch sử quân sự và xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân hiện nay.