Chương 1: Cơ sở lý luận quản lý hệ thống thông tin quản lý giáo dục Chương 2: Thực trạng quản lý hệ thống thông tin quản lý giáo dục đối với các trường Trung học phổ thông tỉnh Vĩnh Phúc. Chương 3: Các biện pháp xây dựng và phát triển hệ thống thông tin quản lý giáo dục đối với các trường Trung học phổ thông tỉnh Vĩnh Phúc. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ HỆ THỐNG THÔNG TIN QUẢN LÝ GIÁO DỤC 1.Tổng quan của vấn đề nghiên cứu Trong những thập niên cuối thế kỷ XX và những năm đầu thế kỷ XXI của nhân loại, một nền kinh tế mới - nền kinh tế tri thức, hay còn gọi là nền kinh tế thông tin, kinh tế mạng, kinh tế dựa trên tri thức đã ra đời. Đã có nhiều bàn luận của các học giả trong nước và ngoài nước, nhiều công trình nghiên cứu xung quanh vấn đề này từ các khía cạnh chính trị - xã hội, kinh tế - sản xuất, văn hoá, khoa học - công nghệ.
Nhìn chung, dù đứng ở góc độ nào, nhà kinh tế hay nhà chính trị; nhà văn hoá hay doanh nhân, mọi người đều thấy nổi lên vai trò to lớn mang tính quyết định của thông tin, của tri thức với tư cách là nhân tố tạo tiền đề, tạo cơ sở và là bà đỡ cho việc ra đời những hình thái kinh tế - xã hội mới, trong đó có xã hội thông tin, kinh tế tri thức. Không phải ngẫu nhiên mà ngày nay vai trò của con người, nguồn vốn con người - một sản phẩm của xã hội và thông tin được đề cao và các chỉ số thông tin luôn luôn là những chỉ số so sánh quan trọng về trình độ phát triển của một quốc gia. Việc nhận dạng những khoảng cách giữa các quốc gia không chỉ về thu nhập đầu người GDP, năng lực khoa học - công nghệ mà còn về thông tin, khoảng cách số, như tỷ lệ dân số sử dụng kết nối Internet, số ấn phẩm thông tin/ đầu người …Trong mọi hoạt động của đời sống kinh tế - xã hội, đặc biệt là xã hội thông tin, thông tin tri thức trở thành nguồn lực quan trọng, một nhân tố quan trọng của các quá trình sản xuất và quản lý. Hệ thống thông tin trở thành yếu tố quan trọng trong hệ thống quản lý của các tổ chức, là chìa khoá giúp các tổ chức quản lý có hiệu quả và góp phần tăng sức cạnh tranh của họ trong môi trường xã hội.
Trên thế giới, những nghiên cứu về hệ thống thông tin quản lý trước đây thường tập trung vào xây dựng lí thuyết hoặc phương pháp. Hiện nay các 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhà quản lý, các nhà hoạch định chính sách, chiến lược quan tâm nhiều đến các yếu tố kỹ thuật, kỹ năng và văn hoá trong một tổ chức. Các vấn đề về hệ thống thông tin quản lý được nghiên cứu qua các giai đoạn phát triển sau: Những năm đầu của thập niên 70: Xây dựng hệ thống quản lý, xây dựng các phương pháp luận, kinh tế và máy tính hoá. Giữa những năm 70: Hệ thống trợ giúp việc ra quyết định, việc thực hiện và những thay đổi về cơ cấu tổ chức quản lý.
Đầu những năm 80: Các công cụ nâng cao năng suất, cơ sở dữ liệu quản lý, những ảnh hưởng của công nghệ tới cơ cấu tổ chức, tin học văn phòng. Giữa những năm 80: Viễn thông, ảnh hưởng cạnh tranh của công nghệ thông tin, các hệ thống chuyên gia … Trong vòng 20 năm trở lại đây, đã bớt dần những nghiên cứu chuyên sâu về kỹ thuật mà tập trung nhiều vào hoạt động thông tin và hiệu quả của các hoạt động này trong tổ chức. Các nhà nghiên cứu coi đây là một hướng công nghệ mới chuyển từ phòng thí nghiệm sang các tổ chức thực tiễn. Năm 1984 tổ chức UNESCO khu vực Châu Á – Thái Bình Dương (UNESCO/ PROAP) đã đưa ra một chương trình hành động với tên gọi “Tăng cường lập kế hoạch và QLGD dựa trên cơ sở thông tin”, thông qua đó phát triển hệ thống TT QLGD khu vực.
Năm 2002 tổ chức trên xuất bản cuốn tài liệu “Hệ thống thông tin QLGD ( Education Management Information System - EMIS)” [39], là một tài liệu có giá trị định hướng cho các nghiên cứu, xây dựng một hệ thống thông tin hoạt động có hiệu quả. Các biện pháp được khuyến nghị tập trung vào việc chuẩn hoá các cơ sở dữ liệu cho công tác QLGD phổ thông theo hướng xây dựng một hệ thống chỉ số giáo dục phù hợp với thực tiễn, áp dụng công nghệ thông tin vào những nơi có đủ điều kiện và tăng cường sự hợp tác trong chia sẻ thông tin giữa các tổ chức giáo dục. Ở Việt Nam, vào thập niên 90 đã có nghiên cứu đánh giá tổng thể về Giáo dục đào tạo và nguồn nhân lực của ngành (VIE 89/02), trong đó khẳng 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com định tầm quan trọng của TT QLGD. Các hoạt động của hệ thống TT QLGD (EMIS) của Việt Nam đang trong quá trình hoàn thiện, đã có thay đổi và cải tiến tuy nhiên chưa nhiều.
Một số công trình nghiên cứu cấp Bộ đề cập đến một số biện pháp tăng cường tiềm năng và nâng cao năng lực cho trung tâm Thông tin quản lý của Bộ GD&ĐT (nay là Cục thông tin QLGD bé GD&§T) lựa chọn để điều hành các hoạt động TT QLGD có hiệu quả hơn. Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu như : “Cải tiến công tác TT QLGD” (Nguyễn Hữu Dân - 1990), “Một số giải pháp về thông tin QLGD (EMIS) đối với trường trung học Việt Nam đầu thế kỷ XXI theo hướng tích hợp và phương pháp dạy học chủ động” (Đặng Quốc Bảo - 1997), “Một số giải pháp hoàn thiện thông tin QLGD và đào tạo Việt Nam” (Vương Thanh Hương, Viện nghiên cứu Phát triển Giáo dục - 2003)… Đây là những công trình bước đầu nghiên cứu cơ sở lý luận của hệ thống TT QLGD, đánh giá hiện trạng và đề xuất một số giải pháp chung để hoàn thiện hệ thống này. Những phân tích trên cho thấy, vấn đề nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống TT QLGD trong nhà trường phổ thông và đặc biệt trong hệ thống các trường THPT ở địa phương còn là vấn đề mới mẻ, chưa được nghiên cứu cụ thể. Trong khi đó, sự vận hành của hệ thống TT QLGD còn ở mức hạn chế, chưa phù hợp với thực tiễn, chưa thích nghi được với từng địa phương, chưa đảm bảo cung cấp thông tin nhanh, chính xác và đáp ứng yêu cầu sử dụng th«ng tin của nhà QLGD các cấp.
Việc nghiên cứu đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống TT QLGD của sở GD&ĐT, của các trường THPT tỉnh Vĩnh Phúc nhằm đáp ứng nhiệm vụ đổi mới giáo dục trong bối cảnh hiện nay thực sự cần thiết và cấp bách. C¸c kh¸i niÖm c¬ b¶n cña ®Ò tµi 1. Quản lý giáo dục - Quản lý: Trong lịch sử phát triển của loài người, từ khi có sự phân công lao động đã xuất hiện một dạng lao động mang tính đặc thù, đó là tổ chức, điều 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khiển các hoạt động lao động theo những yêu cầu nhất định. Dạng lao động mang tính đặc thù đó được gọi là hoạt động quản lý.
Mọi hoạt động của xã hội đều cần tới quản lý. Quản lý vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật trong việc điều khiển một hệ thống xã hội cả ở tầm vĩ mô và vi mô. Đó là những hoạt động cần thiết phải thực hiện khi những con người kết hợp với nhau trong các nhóm, các tổ chức nhằm đạt được những mục tiêu chung. Khái niệm “Quản lý” được định nghĩa khác nhau dựa trên cơ sở những cách tiếp cận khác nhau.
Dưới đây nêu một số định nghĩa về “Quản lý” lấy từ một số tài liệu hiện có. * “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó bằng phương pháp tốt nhất.Taylor, nhà thực hành quản lý lao động và nghiên cứu quá trình lao động trong từng bộ phận của nó, xuất phát từ nhu cầu khai thác tối đa thời gian lao động, sử dụng hợp lý nhất các công cụ và phương tiện lao động nhằm tăng năng suất lao động). * “Quản lý là quá trình chuyển một hệ động lực phức tạp từ trạng thái này sang trạng thái khác nhờ sự tác động vào các phần tử biến thiên của nó.Berg, nhà điều khiển học) * “Quản lý là thiết kế và duy trì một môi trường mà trong đó các cá nhân làm việc với nhau trong nhóm có thể hoàn thành các nhiệm vụ và mục tiêu đã định.” (Harold Koontz và Cyrilodonnell Heinweihrich) Ở Việt Nam, bên cạnh các tác giả trong lĩnh vực khoa học quản lý cũng có một số tác giả trong lĩnh vực khoa học giáo dục đưa ra các định nghĩa khác nhau về “Quản lý”. Ví dụ: * “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể người lao động nói chung (khách thể quản lý), nhằm thực hiện những mục tiêu dự kiến” (Phạm Minh Hạc) Như vậy, có thể nói, quản lý là một quá trình tác động có định hướng (có chủ đích), có tổ chức, có lựa chọn trong số các tác động có thể có, dựa trên 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com các thông tin về tình trạng của đối tượng và môi trường nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục tiêu đã định.
Bản chất của hoạt động quản lý là sự tác động có mục đích của người quản lý (chủ thể quản lý) đến người bị quản lý (khách thể quản lý) nhằm đạt mục tiêu chung. Bản chất đó có thể được thể hiện ở hình 1.1 dưới đây: Hình 1.: Mô hình về quản lý CHỦ THỂ QUẢN KHÁCH THỂ LÝ QUẢN LÝ Mục tiêu quản lý Nội dung Công cụ, quản lý phƣơng pháp quản lý Trong đó: Chủ thể quản lý có thể là một cá nhân, một nhóm hay một tổ chức. Khách thể quản lý là những con người cụ thể và sự hình thành tự nhiên các mối quan hệ giữa những con người, giữa những nhóm người… Công cụ quản lý là phương tiện tác động của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý như: mệnh lệnh, quyết định, luật lệ, chính sách … Phương pháp quản là là cách thức tác động của chủ thể tới khách thể quản lý. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.