CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 1. Mô hình dạy học kết hợp DH kết hợp bắt nguồn từ các quốc gia phát triển sau khi họ khai thác hình thức DH trực tuyến (E-Learning) không đạt kết quả như mong đợi. DH trực tuyến mang lại sự thuận tiện, nhanh gọn và tiết kiệm chi phí nhưng lại làm cho người học dễ dàng mất đi động cơ học tập và mất đi cơ hội giao tiếp trực tiếp như trong các lớp học truyền thống. Chính vì vậy, DH trực tiếp vẫn giữ được nhiều giá trị mà việc DH trực tuyến không thể nào bù đắp được.
Ngược lại, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đã tạo ra nhiều cơ hội đồng thời là thách thức đối với ngành giáo dục. Người học truy cập kho dữ liệu khổng lồ trên mạng, có thể kết nối toàn cầu, có thể tự học, tự nghiên cứu chỉ bằng một chiếc máy tính hoặc một chiếc smart phone. Lúc này, việc học giáp mặt thuần túy không thể đáp ứng được và cũng thể hiện một số hạn chế. Khái niệm B-Learning xuất hiện, với mục đích kết hợp những ưu điểm của hình thức DH giáp mặt và tận dụng thế mạnh của CNTT để người dạy và người học tiếp cận các kiến thức chủ động, toàn diện hơn.
Khái niệm Một số khái niệm về B-Learning tiêu biểu như: Theo Diann Wilson và Ellen M. Smilanich: B-Learning để chỉ cách học kết hợp giữa hình thức lớp học truyền thống và các giải pháp E-Learning, là việc sử dụng các giải pháp đào tạo hiệu quả nhất để đạt được các mục tiêu học tập sẽ đạt được mục tiêu mong muốn [44]. Alvarez cho rằng “B-Learning là sự kết hợp của các phương tiện truyền thông trong đào tạo như công nghệ, các hoạt động và các loại sự kiện nhằm tạo ra một chương trình đào tạo tối ưu cho một đối tượng cụ thể [59]. Theo nhóm Laura Staley thì “BLearning là sự kết hợp (hay pha trộn) giữa các chế độ học tập trực tuyến khác nhau hoặc học trực tiếp và học trực tuyến.
Học tập kết hợp ngày càng trở nên phổ biến với sự sẵn có của cả hai lựa chọn học tập trực tuyến đồng bộ và không đồng bộ [56]. Trong những năm gần đây, khái niệm B-Learning dành cho bậc đại học không có nhiều thay đổi, tuy nhiên, bậc phổ thông thì có nhiều tác giả đã đưa ra những khái niệm 14 khác nhau. Viện Clayton Christenen đã phổ biến một khái niệm nhấn mạnh yếu tố kiểm soát HS theo thời gian, địa điểm, cách thức hoặc tiến độ trong trực tuyến một phần hoặc kết hợp giữa trực tuyến và giáp mặt trực tiếp [57]. Ở Việt Nam, tuy B-Learning đang được xem là hình thức học tập hiện đại của thời kỷ nguyên số và đang dần trở thành một xu thế tất yếu của thế giới nhưng ở Việt Nam, B-Learning còn là một khái niệm còn mới mẻ, chưa được sử dụng rộng rãi và còn gặp những khó khăn nhất định.
Khái niệm“học tập hỗn hợp” được Nguyễn Văn Hiền đưa ra để chỉ hình thức kết hợp giữa cách học truyền thống với học tập có sự hỗ trợ của công nghệ, học tập qua mạng [12]. Trần Trung và cộng sự đưa ra khái niệm cụ thể hơn về B- Learning, đó là “hình thức học tập, triển khai một khóa học với sự kết hợp của hai hình thức học tập trực tuyến và DH giáp mặt truyền thống [37]. Theo Tôn Quang Cường và Phạm Kim Chung thì B-Learning là “sự phối hợp giữa DH giáp mặt trực tiếp với các mô hình DH trực tuyến hiện nay” [6]. Nguyễn Văn Đại và Đào Thị Việt Anh cho rằng “Blended Learning là sự kết hợp thống nhất và bổ sung lẫn nhau giữa DH trực tuyến qua mạng internet với tính tự lực cao của HS và DH trực tiếp trên lớp dưới sự hướng dẫn của GV nhằm giúp HS đạt được mục tiêu học tập đề ra trong quá trình chiếm lĩnh cùng một nội dung học tập [9].
Như vậy, B-Learning là một hình thức tổ chức DH mới, nó không chỉ đơn thuần là phép cộng giữa DH giáp mặt với DH trực tuyến hay phép cộng giữa DH giáp mặt với sử dụng sự hỗ trợ của website DH thông thường. Từ những nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước, theo chúng tôi B-Learning là một hình thức tổ chức DH kết hợp giữa DH giáp mặt truyền thống và DH trực tuyến nhằm phát huy thế mạnh mỗi hình thức để đạt được hiệu quả giáo dục cao nhất. Cấu trúc B-Learning Sự kết hợp giữa DH giáp mặt và trực tuyến cho phép người học linh hoạt hơn trong việc nắm giữ kiến thức, tăng cường khả năng tự học, không làm mất đi động cơ học tập đồng thời vẫn có cơ hội giao tiếp trực tiếp như trong các lớp học truyền thống. Theo Picciano, cấu trúc của B-Learning gồm sáu thành phần [40] như sau: 15 Áp dụng các lý thuyết học tập của Keller, Gagné, Bloom, Merrill, Clark và Gery, Carman đã đề cấu trúc của B-Learning gồm năm thành phần [53] như sau: Từ những nghiên cứu của Picciano và Carman thấy có sự bổ sung và lượt bỏ đi một số thành phần tuy nhiên cả hai cấu trúc đều phản ánh các giá trị giáo dục và góp phần rèn luyện các kĩ năng học tập cần thiết đặc biệt là tăng cường tự học, tự đánh giá qua đó bồi dưỡng NL tự học của HS.
Mô hình B-Learning B-Learning hoàn toàn không phải là sự bổ sung, bù đắp các nhược điểm của DH trực tuyến hay DH giáp mặt. Trên thực tế, đó là một mô hình DH mới hoàn toàn về chất, làm thay đổi căn bản các quan điểm về lý luận DH đã tồn tại từ trước đến nay. Dựa vào những phân tích của nhóm H. Staker và cộng sự về B-Learning [48], nhóm của M.
Horn và cộng sự đã đề xuất sáu mô hình B-Learning [49]. Sau đó, hai tác giả chính là H. Horn đã hợp nhất và đơn giản hóa thành bốn mô hình B- Learning [50], cụ thể: 16 17 Các mô hình trên có thể cụ thể hoá thành sơ đồ như sau: Hình 1.1: Sơ đồ các mô hình dạy học kết hợp Các mô hình này được phân chia một cách tương đối, chúng không loại trừ nhau. Khi triển khai DH, từng trường, từng GV có thể chọn một hay một số mô hình tùy theo chiến lược và điều kiện của từng cơ sở giáo dục.
Như vậy, việc lựa chọn mô hình DH kết hợp nào để mang lại hiệu quả và thành công cho quá trình DH phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó GV cần biết những gì mà người học cần và những gì DH kết hợp có thể cung cấp bên cạnh yếu tố công nghệ. Trong các mô hình này, chúng tôi quan tâm đến phương án tổ chức theo LHĐN, tác giả Nguyễn Hoàng Trang và cộng sự trong công trình DH kết hợp và tổ chức DH kết hợp ở trường phổ thông đã sơ đồ hóa các phương án tổ chức dạy theo mô hình LHĐN như sau: Hình 1.2: Phương án tổ chức dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược 18 LHĐN là một mô hình DH, trong đó GV cung cấp nội dung học tập cho người học học tập trước khi đến lớp. Người học sẽ học tập ở hai không gian trong và ngoài phạm vi lớp học. Mô hình LHĐN rất phù hợp để thực hiện trong bối cảnh hiện nay, đây là mô hình không đòi hỏi quá nhiều về điều kiện cơ sở vật chất và thiết bị DH, có thể áp dụng được ở nhiều vùng miền khác nhau.
GV và HS chỉ cần có thiết bị kết nối internet là hoàn toàn thực hiện được mô hình học tập này. Áp dụng mô hình này trong DH, HS phát huy khả năng tự học và khả năng hợp tác, giải quyết vấn đề cũng như khả năng phản biện khi thực hành, thảo luận trên lớp học. Các mức độ dạy học kết hợp theo B-Learning B-Learning được coi là phương án tối ưu nhất hiện nay khi mà DH trực tuyến không thể thay thế được những hình thức DH giáp mặt trên lớp. Việc kết hợp giữa DH giáp mặt và DH trực tuyến được thể hiện ở nhiều hình thức và mức độ khác nhau.
Theo Alammary và cộng sự [39], Blended learning có 3 mức độ DH kết hợp tùy thuộc vào nhu cầu, cơ sở vật chất, chương trình đào tạo, trình độ tin học và sử dụng máy tính của người dạy và người học: Hình 1.3: Các mức độ dạy học kết hợp (Alammary và cộng sự (2014) Đối với mức độ 1, GV đóng vai trò chủ đạo và là người chủ động trong việc thiết kế hoạt động DH dưới dạng lồng ghép các hoạt động ứng dụng CNTT. Để thực hiện được việc này, HS cần chủ động thực hiện các nhiệm vụ học tập và phát huy khả năng sáng tạo. GV có thể tăng cường ứng dụng CNTT khi thực hiện các nhiệm vụ học tập như: thảo luận nhóm trên các group chat (Zalo, Messeger…) hoặc trên Google Classroom, trang Padlet của lớp… 19 Để triển khai các hoạt động dạy học kết hợp ở mức độ 2, GV cần tăng cường các hoạt động học tập trực tuyến nhiều hơn. Do đó, GV cần hạn chế một số hoạt động giáp mặt truyền thống, thay vào đó lựa chọn các hoạt động trực tuyến phù hợp.
Một số hoạt động phù hợp với DH giáp mặt như: thực hành, trải nghiệm, hướng dẫn, báo cáo, giải đáp thắc mắc. Một số hoạt động phù hợp với DH trực tuyến như: hoạt động mang tính cung cấp thông tin học tập, xác định cấu trúc nội dung bài học, kiểm tra, đánh giá… Để triển khai các hoạt động dạy học kết hợp ở mức độ 3, DH kết hợp được triển khai một cách có hệ thống và hoàn chỉnh nhất. Do vậy, GV cần có kinh nghiệm lựa chọn các hoạt động trực tuyến phù hợp và kĩ năng kết hợp các công cụ DH trực tuyến thật tốt để đảm bảo được chuẩn đầu ra của khóa học. Nhóm tác giả Nguyễn Hoàng Trang, Nguyễn Hữu Chung trong bài viết “DH kết hợp và tổ chức DH kết hợp tại trường THPT” [36] đã tổng hợp các mức độ trong DH kết hợp theo bảng sau: Bảng 1.1: Các yêu cầu cần thiết để tổ chức dạy học kết hợp Thực tế cho thấy, sự kết hợp còn được thực hiện trong một khâu hoặc giữa các khâu của quá trình nhằm tận dụng ưu điểm trong quá trình thực hiện các mục tiêu DH hoặc kết hợp giữa các phương pháp DH khác nhau nhằm tận dụng lợi thế từ sự hỗ trợ của công nghệ.