phần mở đầu đề cập các khái niệm liên quan đến hoạt đông NCKH của giảng viên Trường Chính trị tỉnh thì tác giả đã đánh giá thực trạng hoạt động của Nội san cũng như ảnh hưởng của chất lượng các vài viết Nội san đối với chất lượng hoạt động NCKH của giảng viên Trường Chính trị Nguyễn Văn Cừ tỉnh Bắc Ninh trong giai đoạn 5 năm (2010-2015). Qua đó, đề tài cũng đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng Nội san trong giai đoạn tiếp theo. Nhìn chung, các đề tài nêu trên đã có những đóng góp đáng kể về mặt nghiên cứu lý luận cũng như hướng giải quyết nhiều vấn đề thực tiễn trong công tác quản lý hoạt động NCKH ở mỗi nhà trường. Hầu hết các đề tài đều nghiên cứu về nhóm đối tượng cụ thể là giảng viên.
Tuy nhiên, mỗi tác giả lại có hướng nghiên cứu khác nhau về phạm vi, thời gian mà nội dung chủ yếu 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com xoay quanh một vấn đề nhất định: biện pháp nhằm nâng cao chất lượng NCKH, vai trò của NCKH đối với chất lượng đào tạo, đánh giá hoạt động NCKH, động cơ NCKH. Có thể thấy rằng, mỗi công trình nghiên cứu trên chỉ giải quyết một vài vấn đề riêng lẻ, có giá trị trong một giai đoạn lịch sử ngắn với những hoàn cảnh chính trị, kinh tế xã hội nhất định. mà chưa giải quyết được đầy đủ và cụ thể nhất bản chất của vấn đề quản lý hoạt động NCKH ở các trường hiện nay. Bởi yếu tố quản lý có vai trò quan trọng, giúp định hướng các mục tiêu, đảm bảo tính chỉ đạo của các chủ thể quản lý hoạt động NCKH trong nhà trường.
Hơn nữa, đến thời điểm hiện tại, chưa có tác giả nào tiếp cận nghiên cứu một cách hệ thống và trực tiếp về quản lý hoạt động NCKH tại trường chính trị tỉnh. Do vậy, đề tài “Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên trường Chính trị Nguyễn Văn Cừ tỉnh Bắc Ninh trong giai đoạn hiện nay” không bị trùng lặp với các nghiên cứu trước đây. Dựa trên những thành quả nghiên cứu của các tác giả trước đó, tác giả đề tài gợi mở hướng mới về tổ chức quản lý hoạt động NCKH một cách hiệu quả, thông qua một số đề xuất thiết thực và cụ thể, đề tài góp phần giải quyết nhiều vướng mắc mà nhiều Trường gặp phải. Bên cạnh đó, tác giả hi vọng đề tài góp phần rút ngắn khoảng cách, sự khác biệt giữa môi trường giáo dục lý luận chính trị với các môi trường giáo dục khác trong thời đại công nghệ 4.
Các khái niệm cơ bản của đề tài 1. Nghiên cứu khoa học Trong quá trình phát triển của xã hội loài người, nhu cầu tìm kiếm, khám phá thế giới xung quanh ngày càng tăng lên và dường như chưa bao giờ ngưng. Đó là việc tìm kiếm những điều chưa biết để giải thích, trả lời những câu hỏi về thế giới xung quanh. Trả lời mỗi câu hỏi ấy là những công trình NCKH nghiêm túc.
Tác giả Lưu Xuân Mới cho rằng: “Nghiên cứu khoa học là quá trình 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhận thức chân lý khoa học, một hoạt động trí tuệ đặc thù bằng những phương pháp nghiên cứu nhất định để tìm kiếm, để chỉ ra một cách chính xác và có mục đích những điều mà con người chưa biết đến hoặc biết chưa đầy đủ, tức là tạo ra sản phẩm mới dưới dạng tri thức mới có giá trị mới về nhận thức hoặc phương pháp” [32]. Trong giáo trình “Phương pháp Nghiên cứu khoa học” của tác giả Nguyễn Bảo Vệ thì khái niệm NCKH được định nghĩa như sau: “Nghiên cứu khoa học là một hoạt động tìm kiếm, xem xét, điều tra hoặc thử nghiệm. Dựa trên những số liệu, tài liệu, kiến thức… đạt được từ các thí nghiệm nghiên cứu khoa học để phát hiện ra những cái mới về bản chất sự vật, về thế giới tự nhiên và xã hội, để sáng tạo phương pháp và phương tiện kỹ thuật mới cao hơn, giá trị hơn. Con người muốn làm nghiên cứu khoa học thì phải có kiến thức nhất định về lĩnh vực nghiên cứu và cái chính là phải rèn luyện cách làm việc tự lực, có phương pháp từ lúc ngồi trên ghế nhà trường” [53].
Như vậy, theo tác giả, NCKH là một dạng hoạt động của con người, mà ở đó người làm khoa học cần phải có kiến thức và phương pháp nghiên cứu cơ bản. Nhóm 2 tác giả Phạm Viết Vượng- Nguyễn Xuân Thức cho rằng: “Bản chất của nghiên cứu khoa học là hoạt động sáng tạo của các nhà khoa học, tạo ra hệ thống tri thức có giá trị để sử dụng vào cải tạo thế giới” [55]. Với quan niệm về bản chất của NCKH là hoạt động sáng tạo, thì sản phẩm của NCKH chính là hệ thống thông tin mới về thế giới và những giải pháp cải tạo thế giới. Sản phẩm khoa học luôn được kế thừa, hoàn thiện và bổ sung theo sự phát triển của xã hội loài người và tiệm cận tới chân lý khách quan.
Theo tác giả Vũ Cao Đàm: “Nghiên cứu khoa học là sự phát hiện bản chất sự vật, phát hiện nhận thức khoa học về thế giới, hoặc là sáng tạo phương pháp mới và phương tiện kỹ thuật mới để làm biến đổi sự phục vụ cho mục tiêu hoạt động của con người” [12]. Về mặt thao tác, có thể hiểu khái niệm NCKH là một quá trình mà ở đó hình thành và chứng minh luận điểm khoa học về một sự vật hoặc hiện tượng cần khám phá. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com * Đặc điểm của NCKH Trong cuốn Khoa học luận đại cương, tác giả Vũ Cao Đàm đã khái quát hóa những đặc điểm chung nhất của NCKH như sau: “Đặc điểm chung nhất của nghiên cứu khoa học là sự tìm tòi những sự vật, hiện tượng mà người nghiên cứu chưa hề biết. Đặc điểm này dẫn đến hàng loạt đặc điểm khác nhau của nghiên cứu khoa học, mà người nghiên cứu cũng như người quản lý nghiên cứu cần quan tâm xử lý những vấn đề cụ thể về mặt phương pháp luận, về nghiên cứu và tổ chức nghiên cứu” [13].
Bên cạnh đó, tác giả còn chỉ ra những đặc điểm cụ thể của NCKH như sau: - Tính mới: quá trình NCKH luôn là quá trình hướng tới những phát hiện hoặc sáng tạo cái mới. - Tính tin cậy: một kết quả nghiên cứu đạt được nhờ một phương pháp nào đó phải có khả năng kiểm chứng lại nhiều lần trong những lần nghiên cứu khác nhau. Một kết quả thu được ngẫu nhiên dù phù hợp với giả thuyết đặt ra trước đó cũng chưa thể xem là đủ tin cậy để kết luận về bản chất của sự vật, hiện tượng. - Tính thông tin: Trong tất cả các sản phẩm của NCKH: báo cáo khoa học, tác phẩm khoa học… đều mang đặc trưng thông tin.
Đó là những thông tin về quy luật vận động của sự vật hoặc hiện tượng, thông tin về quy trình công nghệ… - Tính khách quan: các ý kiến và nhận định chủ quan của cá nhân không được ảnh hưởng đến quá trình và kết quả nghiên cứu. - Tính chính xác: các thuật ngữ phải được sử dụng chính xác, các khái niệm được giải thích rõ ràng và sử dụng nhất quán, kết luận đưa ra phải chính xác. Các kết luận phải được kiểm định và tự điều chỉnh. - Tính kế thừa: Mỗi nghiên cứu phải kế thừa các kết quả nghiên cứu trong các lĩnh vực khoa học khác xa nhau.
- Tính rủi ro: Một nghiên cứu có thể thành công hoặc thất bại. Sự thất 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com bại trong NCKH có thể do nhiều nguyên nhân: thiếu thông tin, trình độ yếu hoặc hạn chế về năng lực xử lý của người nghiên cứu. - Tính cá nhân: Tính cá nhân được thể hiện trong tư duy cá nhân và chủ kiến riêng của cá nhân. Trong những công trình nghiên cứu của tập thể thì vai trò cá nhân trong sáng tạo cũng mang tính quyết định.
- Tính phi kinh tế: NCKH rất khó để tính định mức lao động vì đây là một dạng lao động đặc thù. * Phân loại NCKH Cũng theo nhà nghiên cứu Vũ Cao Đàm, NCKH được chia thành 4 nhóm cơ bản như sau: - Nghiên cứu mô tả: là những nghiên cứu nhằm đưa ra một hệ thống tri thức về nhận dạng một sự vật, đánh giá một sự vật. Ví dụ: mô tả một hoạt động xã hội, mô tả một tệ nạn xã hội… - Nghiên cứu giải thích: là những nghiên cứu nhằm giải thích nguồn gốc, động thái, cấu trúc, tương tác, hậu quả, quy luật chung chi phối quá trình vận động của sự vật. Ví dụ như: lý do dẫn đến sự ra đời một lý thuyết khoa học… - Nghiên cứu giải pháp: là những nghiên cứu nhằm sáng tạo giải pháp, có thể là giải pháp công nghệ, giải pháp tổ chức và quản lý.
Ví dụ như: giải pháp khắc phục các hiện tượng suy thoái trong chất lượng giáo dục… - Nghiên cứu dự báo: là những nghiên cứu nhằm nhận dạng trạng thái của sự vật trong tương lại và con đường đi đến tương lai đó. Ví dụ như: dự báo các thành tựu khoa học và công nghệ của thế giới vào cuối thế kỷ XXI… Về góc độ pháp lý, khái niệm NCKH đã được đưa vào Luật khoa học và Công nghệ (2000), điều 2, khoản 4: “Nghiên cứu khoa học là hoạt động phát hiện, tìm hiểu các sự vật, hiện tượng, quy luật của tự nhiên xã hội và tư duy; sáng tạo các giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn. Nghiên cứu khoa học bao gồm nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng” [37]. Tựu chung lại, NCKH là hoạt động sáng tạo của các nhà khoa học 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhằm nhận thức thế giới, tạo ra hệ thống tri thức để sử dụng vào việc cải tạo, biến đổi thế giới.
Cụ thể: - Chủ thể của NCKH là các nhà khoa học với những phẩm chất trí tuệ và tài năng vượt trội. Sự sáng tạo khoa học thường được khởi điểm bằng một ý tưởng của cá nhân và sau đó được hỗ trợ và hợp tác nghiên cứu dưới hình thức nhóm người, tập thể, theo định hướng của người chủ trì. Do vậy, có thể khẳng định rằng chủ thể của hoạt động NCKH vừa là cá nhân, vừa là tập thể. - Khách thể của NCKH là các sự vật, hiện tượng của tự nhiên, xã hội và tư duy của con người.
Tại đây, con người trở thành các nhà nghiên cứu để khám phá, sáng tạo ra tri thức khoa học. - Đối tượng của NCKH là tri thức khoa học.