phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung luận văn được trình bày trong 3 chương. Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và pháp lý về quản lý học sinh các trường trung cấp chuyên nghiệp. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý học sinh tại Trường Trung cấp Y tế Bắc Giang. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý học sinh tại Trường Trung cấp Y tế Bắc Giang trong giai đoạn từ nay đến 2015.
4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ QUẢN LÝ HỌC SINH TẠI TRƢỜNG TRUNG CẤP CHUYÊN NGHIỆP 1. Tổng quan về nghiên cứu vấn đề quản lý học sinh Thực tế cho thấy hoạt động quản lý đã mang lại những lợi ích to lớn trong nhiều lĩnh vực của cuộc sống làm cho xã hội ngày càng phát triển. Vận dụng những thành tựu về khoa học quản lý nói chung, khoa học quản lý giáo dục cũng đã đạt được những thành tựu nhất định đáng khích lệ. Hiện nay ở Việt Nam có rất nhiều nhà khoa học, giảng viên của các học viện, các trường và khoa quản lý đã có công trình nghiên cứu được viết dưới dạng giáo trình, sách tham khảo, tài liệu phổ biến kinh nghiệm quản lý, các công trình nghiên cứu, bài giảng của một số tác giả về quản lý như: Đặng Quốc Bảo, Phạm Minh Hạc, Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Lưu Xuân Mới…các tác giả đã nêu lên một số vấn đề lý luận về quản lý giáo dục, kinh nghiệm quản lý giáo dục từ thực tiễn giáo dục Việt Nam và Quốc tế, đặc biệt là đổi mới giáo dục nước ta trong những năm đầu thế kỷ 21.
Những năm gần đây có một số học viên cao học chuyên ngành QLGD đã nghiên cứu các vấn đề liên quan đến hoạt động QLGD nói chung và quản lý HSSV nói riêng như: tác giả Hoàng Trọng Nghĩa với đề tài “Những biện pháp tăng cường quản lý ký túc xá tại Trung tâm nội trú sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội”, năm 2005, tác giả Bạch Thanh Sơn với đề tài “Các biện pháp tăng cường quản lý công tác học sinh, sinh viên tại trường Đại học dân lập Văn Lang”, năm 2008; tác giả Lương Tuấn Long với đề tài “Biện pháp hoàn thiện công tác quản lý sinh viên tại Viện Đại học Mở Hà Nội”, năm 2008; tác giả Nguyễn Minh Đức với đề tài “ Đổi mới quản lý công tác sinh viên ở trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội trong chuyển đổi từ đào tạo niên chế sang tín chỉ”, năm 2008; tác giả Trịnh Thị Thu Ngọc với đề 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tài “Quản lý học sinh, sinh viên của phòng công tác học sinh – sinh viên ở trường Cao đẳng nghề Công nghệ và Nông Lâm Đông Bắc”, năm 2009… Đây là những đề tài nghiên cứu góp phần làm giàu tri thức chuyên ngành quản lý nói chung, quản lý HSSV nói riêng, đồng thời những nghiên cứu này góp phần vận dụng những hiểu biết về quản lý, quản lý giáo dục và công tác quản lý HSSV trong các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo. Những khái niệm liên quan đến đề tài 1. Quản lý Khi xã hội loài người xuất hiện, một loạt các quan hệ: quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với thiên nhiên, giữa con người với xã hội và cả quan hệ giữa con người với chính bản thân mình xuất hiện theo. Điều này làm nảy sinh nhu cầu về quản lý.
Trải qua tiến trình phát triển từ xã hội lạc hậu đến xã hội văn minh, trình độ sản xuất, tổ chức, điều hành xã hội cũng phát triển theo. Đó là tất yếu lịch sử.5] Trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, con người muốn tồn tại và phát triển đều phải dựa vào một tổ chức, từ một nhóm nhỏ đến phạm vi rộng lớn của từng quốc gia, quốc tế đều phải thừa nhận và phải chịu một sự quản lý nào đó. Quản lý là một trong những loại hình quan trọng nhất trong các hoạt động của con người. Quản lý đúng tức là con người đã nhận thức được quy luật, vận động theo quy luật và sẽ đạt được những thành công to lớn.
Thuật ngữ “quản lý” được hiểu và được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, trên cơ sở những quan điểm và các cách tiếp cận khác nhau: - Cách tiếp cận theo thực tiễn: đây là cách tiếp cận trên cơ sở phân tích sự quản lý bằng cách nghiên cứu kinh nghiệm mà thông thường là thông qua các trường hợp cụ thể. Qua việc nghiên cứu những trường hợp thành công hoặc là thất bại, sai lầm ở các trường hợp cá biệt của những người quản lý 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cũng như những dự định của họ để giải quyết những vấn đề đặc trưng, để từ đó giúp họ hiểu được phải làm như thế nào để quản lý có hiệu quả trong những hoàn cảnh tương tự. - Cách tiếp cận theo thuyết hành vi: người ta đã dựa trên những ý tưởng cho rằng quản lý là làm cho công việc hoàn thành thông qua con người. Do vậy việc nghiên cứu nên tập trung vào mối quan hệ giữa người với người.
Đây là trường hợp phải tập trung vào khía cạnh con người trong quản lý, vào niềm tin khi con người làm việc cùng nhau để hoàn thành các mục tiêu thì “con người nên hiểu con người”. Với học thuyết này giúp cho người quản lý ứng xử một cách có hiệu quả hơn với những người dưới quyền. Thay vì quá chú trọng tới các chức năng của người quản lý. Thuyết này đã hướng dẫn “cách” người quản lý thực hiện “cái” họ phải làm.
- Cách tiếp cận theo lý thuyết hệ thống: cách tiếp cận này cho phép xem xét các hoạt động quản lý như một hệ thống hoàn chỉnh bao gồm những yếu tố và mối quan hệ tương tác giữa các nhân tố để đạt được mục tiêu đã xác định. Quản lý không những có tính khoa học mà còn có tính nghệ thuật, việc tìm hiểu một cách chung nhất những khái niệm cũng như các trào lưu tư tưởng và học thuyết quản lý có thể tạo nên một tầm nhìn, một nhãn giới nhất định về việc nhà quản lý nên học hỏi những gì phải thực thi những gì trong hoạt động thực tiễn của mình. Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra”.1] Theo tác giả Đỗ Hoàng Toàn, quản lý được hiểu như sau: “Quản lý là sự tác động có tổ chức của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra trong điều kiện biến động của môi trường”.7] 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tác giả Nguyễn Trọng Hậu cho rằng: “Quản lý có nghĩa là tiến hành một công việc, làm cho một sự kiện nảy sinh, là quá trình lôi cuốn tất cả mọi người vào hoạt động của họ trong tổ chức. Quản lý là công việc chung của toàn bộ tổ chức”.
18] Những quan niệm trên về quản lý có phần không giống nhau nhưng đều có điểm thống nhất về bản chất của hành động quản lý, đó là: sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể (người quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể (đối tượng bị quản lý) về các mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế. Quản lý thể hiện việc tổ chức, điều hành tập hợp người, công cụ, phương tiện, tài chính…để kết hợp các yếu tố đó với nhau nhằm đạt mục tiêu định trước. Quản lý không phải sự tác động một chiều của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý, mà là tác động qua lại biện chứng giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý. Quản lý là một môn khoa học, đồng thời nó còn là một “nghệ thuật” đòi hỏi sự khôn khéo và tinh tế để đạt tới mục đích.
Theo tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc - Nguyễn Quốc Chí: “Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”. Hiện nay, hoạt động quản lý được định nghĩa rõ hơn: “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra”.1] Từ các quan điểm trên, chúng tôi lựa chọn theo quan điểm của tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc để nghiên cứu trong luận văn này. Chức năng quản lý Quản lý là một quá trình mà chủ thể quản lý tác động đến khách thể quản lý bằng kế hoạch hoá, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra dựa trên những nguồn lực và những điều kiện có thể nhằm đạt được mục đích của tổ chức. Như vậy, chức năng quản lý bao gồm 4 chức năng: 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Kế hoạch hoá (planning): Kế hoạch hoá là việc xác định mục tiêu, mục đích đối với thành tựu tương lai của tổ chức và các con đường, biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu, mục đích đó.
Kế hoạch hoá có 3 nội dung chính: a) Xác định, hình thành mục tiêu (phương hướng) đối với tổ chức; b)Xác định và đảm bảo (có tính chắc chắn, cam kết) về các nguồn lực của tổ chức để đạt được các mục tiêu này; c) Quyết định xem những hoạt động nào là cần thiết để đạt được các mục tiêu đó. - Tổ chức (organizing): Khi người quản lý đã lập xong kế hoạch, họ cần phải chuyển hoá những ý tưởng khá trừu tượng ấy thành những hoạt động thực tiễn. Xét về mặt chức năng quản lý, tổ chức là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức. Người quản lý phải biết điều phối tốt các nguồn nhân lực của tổ chức.
- Lãnh đạo (leading): Sau khi kế hoạch được thành lập, cơ cấu bộ máy được hình thành, nhân sự được tuyển dụng thì phải có ai đó đứng ra lãnh đạo, dẫn dắt tổ chức. Lãnh đạo bao hàm việc liên kết, liên hệ với người khác và động viên họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức.