Chương 1: Cơ sở lý luận về vấn đề quản lý phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường trung học cơ sở Chương 2: Thực trạng công tác quản lý phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường trung học cơ sở của sở giáo dục đào tạo tỉnh Nam Định. Chương 3: Đề xuất các biện pháp quản lý phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường trung học cơ sở của sở giáo dục đào tạo tỉnh Nam Định. 6 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Theo luận thuyết “Đức trị” lấy chữ “Tín” làm đầu của Khổng Tử - Nho Giáo, người lãnh đạo đất nước phải coi trọng 3 vấn đề: “Thứ - Phú – Giáo”.
Nghĩa là phải làm cho dân đông lên. Dân đã đông phải làm cho dân giàu, khi dân đã giàu phải dạy cho có giáo dục. Điều này tương đồng với tinh thần Phật dạy trong kinh Dược Sư là: “Khi người ta đói thì cho cơm ăn áo mặc. Đã no đủ thì mới cho giáo pháp”.
Đó chính là kích thích để phát triển, người QL nhà nước phải có các chính sách văn hóa, y tế, giáo dục, dân sinh… để quần chúng nhân dân trăm họ thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh. Chủ nghĩa duy vật về lịch sử giải thích rằng lịch sử phát triển của xã hội trên toàn thế giới là lịch sử thay thế kế tiếp các hình thái kinh tế xã hội mà thực chất là các phương thức sản xuất.Mác lập luận rằng: “Lịch sử xã hội loài người trải qua 05 phương thức sản xuất tương ứng với 05 hình thái kinh tế và 05 thời đại lịch sử: Cộng sản nguyên thủy, nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa”. 26] Quan điểm của C.Mác đã mở ra bước ngoặt có tính cách mạng trong nhận thức của con người về phân chia các giai đoạn lịch sử.Mác còn chỉ ra rằng sự biến đổi của xã hội và sự phát triển lịch sử bắt nguồn từ hệ thống sản xuất, cơ cấu kinh tế của xã hội. Mặt khác: QL là một thuộc tính bất biến, nội tại của mọi quá trình lao động xã hội.Mác đã viết trong bộ Tư bản: “Bất cứ lao động xã hội hay cộng đồng trực tiếp nào, được thể hiện ở quy mô tương đối lớn đều cần đến một chừng mực nhất định đến sự QL, QL xác lập sự tương hợp giữa các công việc cá thể và hoàn thành các chức năng chung xuất hiện trong toàn bộ cơ thể sản xuất, khác với các bộ phận riêng rẽ của nó”.Mác đã định nghĩa QL như là “lao động để điều khiển lao động”.
Như vậy, QL hay điều khiển lao động là điều kiện quan trọng nhất để làm cho xã hội loài người hình thành, vận hành và phát triển. Lao động xã hội và QL là không thể tách rời nhau được. Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá rất cao vai trò của đội ngũ GV: “Nếu không có thầy giáo thì không có giáo dục”. Nhưng để thực hiện vai trò vẻ vang của mình, người thầy giáo phải phấn đấu để: “Thầy phải xứng đáng là thầy, thầy phải được lựa chọn cẩn thẩn vì không phải ai cũng làm được thầy”.
Vì vậy phải thường xuyên rèn luyện không ngừng nâng cao phẩm chất đạo đức, chuyên môn nghiệp vụ. Hồ Chí Minh rất coi trọng cả đức và tài (phẩm chất và năng lực), đức và tài là điều cần thiết và giữa chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau. Người nói: “Có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó”. Trong quá trình chỉ đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm vấn đề con người.
Người nhấn mạnh trong di chúc: “Đầu tiên là công việc đối với con người” [2] Lao động QL là một dạng đặc biệt của lao động, tham gia vào quá trình lao động trong xã hội để hoàn thành chức năng QL cần thiết cho quá trình đó. Lao động QL là loại lao động trí óc diễn ra theo quy trình: quyết định – tổ chức thực hiện quyết định – kiểm tra – điều chỉnh – tổng kết. Trong xã hội hiện đại, giáo dục ví như: “chiếc chìa khóa vàng để mở cánh cửa đi vào tương lai”. Thật vậy: Theo chủ nghĩa duy vật lịch sử, xem biến đổi xã hội là một thuộc tính vốn có của xã hội.
Bởi vì con người không ngừng hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng lên của mình. Max nói: “ Các bộ phận xã hội không chỉ tác động qua lại với nhau mà còn mâu thuẫn, thậm chí đối kháng. Đó là nguồn gốc thúc đẩy sự phát triển xã hội. Sự vận động biến đổi của xã hội tuân theo một quy luật mà con người có thể nhận thức được”.
Vậy con người có khả năng vận dụng các quy luật đã nhận thức được để cải tạo xã hội cho phù hợp với lợi ích của mình. 8 z Một xã hội hiện đại là xã hội áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật, công nghệ, trí tuệ để kinh tế phát triển, thực hiện mục tiêu xây dựng đất nước. Tăng trưởng kinh tế cùng với những biến đổi xã hội đã làm cho mức sống con người được nâng cao. Giáo dục đóng vai trò chủ yếu trong việc giữ gìn, phát triển và truyền bá văn minh của nhân loại.
Điều này càng thể hiện rõ rang trong thời đại của cuộc cách mạng khoa học công nghệ ngày nay, tiềm năng trí tuệ trở thành động lực chính của sự tăng tốc phát triển. Giáo dục được coi là nhân tố tích cực tạo nên nguồn nhân lực, quyết định sự thành bại của mỗi quốc gia và sự thành đạt cho mỗi cá nhân trong cuộc sống của mình. Vì thế phát triển giáo dục đã trở thành “quốc sách hàng đầu” của nhiều quốc gia. Phát triển giáo dục là phát triển con người, phát triển nguồn nhân lực.
Sự nghiệp CNH – HĐH đặt ra mục tiêu đến năm 2020 đất nước ta về cơ bản sẽ trở thành một nước công nghiệp. Nhân tố quyết định sự thắng lợi của công cuộc CNH – HĐH là nguồn lực con người Việt Nam được phát triển về số lượng và chất lượng trên cơ sở mặt bằng dân trí được nâng cao. Vì vậy muốn đảm bảo tăng trưởng về kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội, củng cố an ninh quốc phòng, trước hết phải chăm lo việc phát triển nguồn lực con người, chuẩn bị lớp người lao động có phẩm chất và năng lực phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Điều này rất cần được bắt đầu từ giáo dục phổ thông.
Trong quá trình xây dựng đất nước, Đảng ta luôn quan tâm đến sự nghiệp giáo dục, trong đó chú trọng việc xây dựng và phát triển đội ngũ CBQL. Điều đó được thể hiện qua Chủ trương chính sách, hệ thống văn bản pháp luật. Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã xây dựng hệ thống văn bản làm cơ sở cho việc xây dựng đội ngũ CBQL giáo dục nói chung và trường THCS nói riêng. Các cấp QLGD và các nhà khoa học cũng đã có nhiều nghiên cứu, đề xuất những giải pháp xây dựng và phát triển đội ngũ CBQL, GV nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển sự nghiệp giáo dục.
9 z Tại trường Đại học sư phạm Hà Nội trong một số luận văn thạc sĩ chuyên ngành QLGD có những tác giả nghiên cứu cùng hướng với đề tài như: Nguyễn Thế Long (2005), Phùng Quang Thơm (2005), Nguyễn Xuân Trường (2006), Nguyễn Hữu Chương (2006), Lê Diên Phương (2007). Tại trường Đại học sư phạm Huế: Trần Trung Triết (2007)… đã đề cập đến công tác xây dựng và phát triển đội ngũ CBQL ở trường phổ thông. Các công trình nghiên cứu trên đây, cơ bản giải quyết những vấn đề lý luận cũng như thực tiễn về xây dựng và phát triển đội ngũ CBQL trường phổ thông ở một số địa phương. Tuy nhiên, vấn đề quản lý phát triển đội ngũ CBQL các trường THCS tỉnh Nam Định thì chưa có tác giả nào đề cập nghiên cứu.
Xuất phát từ những cơ sở lý luận và thực trạng đội ngũ CBQL trường THCS, thực trạng công tác quản lý phát triển đội ngũ CBQL trường THCS của sở GDĐT tỉnh Nam Định cũng như lịch sử nghiên cứu vấn đề, chúng tôi chọn đề tài “Biện pháp quản lý phát triển đội ngũ cán bộ quản lý các trường trung học cơ sở tỉnh Nam Định ” để nghiên cứu. Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý Ngay từ khi con người bắt đầu hình thành các nhóm, để thực hiện mục tiêu mà họ không thể đạt được với tư cách cá nhân riêng lẻ, thì cách QL đã là một yếu tố cần thiết để đảm bảo sự phối hợp của những cá nhân. Vì chúng ta ngày càng dựa vào sự nỗ lực chung, nhiều nhóm có tổ chức trở nên rộng lớn hơn, cho nên nhiệm vụ QL ngày càng quan trọng.
Hoạt động QL bắt nguồn từ sự phân công lao động, mục đích của hoạt động quản lý nhằm tăng năng suất lao động, cải tạo cuộc sống. Để đạt được mục tiêu trên cơ sở kết hợp các yếu tố con người, phương tiện… thì cần có sự tổ chức và điều hành chung, đó chính là quá trình QL. Trài qua quá trình phát triển, cùng với sự phát triển của xã hội, trình độ tổ chức và QL cũng được từng bước nâng lên. Nói đến hoạt động QL, người ta thường nhắc đến ý tưởng sâu sắc của C.Mác: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến 10 z hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó.
Một nghệ sĩ vĩ cầm thì tự điều khiển mình, còn dàn nhạc thì cần có nhạc trưởng” [10] Hiện nay vẫn còn tồn tại khá nhiều những khái niệm, định nghĩa về QL. Trong tác phẩm “Những vấn đề cốt yếu của quản lý”, tác giả người Mỹ H.Kootz đã đưa ra khái niệm “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục đích theo nhóm. Mục tiêu của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất. Với tư cách thực hành thì cách quản lý là một nghệ thuật; còn kiến thức có tổ chức về quản lý là một khoa học” [6, tr.