Tổng quan nghiên cứu

Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam, ngành du lịch đã có bước nhảy vọt ấn tượng khi tổng thu từ khách du lịch trên cả nước tăng từ mức 17,4 nghìn tỷ đồng năm 2000 lên 382,6 nghìn tỷ đồng vào năm 2016. Hòa cùng xu thế đó, tỉnh Ninh Bình với tiềm năng vượt trội về danh lam thắng cảnh và di sản văn hóa thế giới đã chứng kiến sự bứt phá mạnh mẽ, nâng doanh thu từ 30,6 tỷ đồng năm 2001 lên đạt 2.591 tỷ đồng vào năm 2017.

Tuy nhiên, sự phát triển của du lịch Ninh Bình vẫn chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có. Thực tế cho thấy số lượng khách lưu trú tại địa phương còn thấp, thời gian lưu trú trung bình chỉ dao động trong khoảng 1,2 đến 1,5 ngày, các cơ sở nghỉ dưỡng đạt tiêu chuẩn quốc tế còn thiếu thốn và chi tiêu của du khách còn khiêm tốn. Nguyên nhân cốt lõi bắt nguồn từ sự lúng túng, thiếu đồng bộ và chậm đổi mới trong công tác quản lý nhà nước về du lịch.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính của tác giả Phạm Thị Hòa tập trung phân tích lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2013 - 2017. Mục tiêu nghiên cứu là làm rõ các kết quả đạt được, chỉ ra những rào cản thể chế, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhằm đưa du lịch Ninh Bình trở thành ngành kinh tế mũi nhọn với tầm nhìn đến năm 2025 và 2030. Công trình mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện cơ chế điều hành, hướng tới mục tiêu tăng trưởng doanh thu bền vững trên 20%/năm và gia tăng tỷ trọng kinh tế dịch vụ trong cơ cấu GRDP của tỉnh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng lý luận về quản lý hành chính nhà nước và lý thuyết phát triển du lịch bền vững. Dưới góc độ khoa học luật hành chính, quản lý nhà nước về du lịch được xác định là quá trình các cơ quan công quyền sử dụng quyền lực nhà nước, thông qua hệ thống công cụ pháp luật, chính sách, chiến lược và quy hoạch để định hướng, điều tiết, kiểm tra và bảo đảm sự phát triển lành mạnh của các quan hệ kinh tế - xã hội trong lĩnh vực du lịch.

Khung phân tích vận dụng các khái niệm cốt lõi theo Luật Du lịch năm 2017 (Điều 3), phân định rõ các yếu tố cấu thành dịch vụ du lịch, tài nguyên du lịch và cơ chế xã hội hóa hoạt động quản lý. Đồng thời, mô hình nghiên cứu tích hợp lý thuyết liên kết vùng và mô hình quản lý đa ngành, nhấn mạnh mối quan hệ giữa cơ quan quản lý chuyên ngành (Sở Du lịch/Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch) với các cơ quan chức năng như công an, tài chính, tài nguyên môi trường và chính quyền địa phương cấp huyện, xã. Mô hình này làm rõ cơ chế tác động của 4 nhóm yếu tố: hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, năng lực bộ máy công chức, điều kiện kinh tế - xã hội địa phương và mức độ hội nhập quốc tế.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp toàn diện từ các báo cáo tổng kết của Tổng cục Du lịch, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Ninh Bình, Cục Thống kê tỉnh Ninh Bình và các văn kiện chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh trong giai đoạn 2013 - 2017.

Về quy mô khảo sát và chọn mẫu, tác giả tiến hành thu thập, phân loại dữ liệu từ 7 không gian du lịch trọng điểm của tỉnh theo Nghị quyết số 03-NQ/TU (bao gồm Quần thể danh thắng Tràng An, Tam Cốc - Bích Động, Cố đô Hoa Lư với 47 di tích quốc gia đặc biệt, Vườn Quốc gia Cúc Phương, Đầm Vân Long, Cụm di tích Phát Diệm - Kim Sơn) cùng dữ liệu hoạt động của hơn 100 doanh nghiệp lữ hành và cơ sở lưu trú trên địa bàn. Phương pháp chọn mẫu điển hình theo khu vực địa lý và loại hình tài nguyên giúp đảm bảo tính đại diện cao cho toàn bộ bức tranh du lịch địa phương.

Luận văn kết hợp các phương pháp nghiên cứu chuyên sâu gồm: phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp thống kê mô tả, phân tích - tổng hợp và phương pháp so sánh luật học. Lý do lựa chọn hệ thống phương pháp này là nhằm bảo đảm tính khách quan khi lượng hóa các chỉ số tăng trưởng kinh tế du lịch (như mức tăng trưởng doanh thu 43% trong năm 2017), đồng thời đánh giá chuẩn xác hiệu lực thi hành các văn bản quy phạm pháp luật trong thực tiễn điều hành của chính quyền địa phương.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, ngành du lịch Ninh Bình ghi nhận sự bứt phá mạnh mẽ về quy mô lượt khách và doanh thu. Tổng lượt khách du lịch đến địa phương tăng từ 4.398.767 lượt năm 2013 lên đạt hơn 7.056.235 lượt khách vào năm 2017. Đáng chú ý, lượng khách quốc tế năm 2017 đạt 859.030 lượt, tăng 20,04% so với năm 2016. Doanh thu du lịch đạt 2.591 tỷ đồng vào năm 2017, tăng trưởng 43% so với năm 2016 và vượt 143% so với chỉ tiêu kế hoạch đề ra.

Thứ hai, cơ cấu thị trường khách quốc tế duy trì sự ổn định ở các thị trường chi trả cao từ Châu Âu (Pháp, Anh, Đức) và Đông Bắc Á (Nhật Bản, Hàn Quốc), tuy nhiên tỷ trọng khách từ khu vực Đông Nam Á lại sụt giảm từ 8% tổng lượng khách quốc tế năm 2013 xuống còn khoảng 6% vào năm 2017.

Thứ ba, điểm nghẽn lớn nhất trong thực tiễn là thời gian lưu trú của khách du lịch rất ngắn, chỉ đạt bình quân từ 1,2 đến 1,5 ngày/khách. Số ngày khách lưu trú qua đêm năm 2017 đạt 1.380.000 ngày khách; mặc dù tăng 41,33% so với cùng kỳ năm 2016 nhưng số lượng cơ sở lưu trú cao cấp từ 3 sao đến 5 sao còn quá ít (điển hình như Ana Mandara với 51 villa gồm 170 phòng ngủ 4 sao, Cucphuong Orion Resort quy mô gần 100 ha), chưa đáp ứng được nhu cầu chi tiêu cao của các dòng khách quốc tế.

Thứ tư, công tác quản lý nhà nước từng bước được thể chế hóa thông qua Kế hoạch số 83/KH-UBND ngày 14/8/2017 của UBND tỉnh Ninh Bình nhằm thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị. Tuy nhiên, sự phối hợp liên ngành giữa du lịch với quản lý thị trường, giao thông, môi trường còn thiếu chặt chẽ; công tác thanh tra, kiểm tra xử lý vi phạm trong kinh doanh dịch vụ còn mang tính sự vụ.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân của tình trạng du khách chi tiêu thấp và thời gian lưu trú ngắn xuất phát từ sự nghèo nàn của các sản phẩm du lịch ban đêm và dịch vụ giải trí bổ trợ. Hoạt động du lịch tại Ninh Bình vẫn mang nặng tính thời vụ, tập trung chủ yếu vào du lịch lễ hội tâm linh vào mùa xuân và du lịch sinh thái hang động vào mùa hè.

Dữ liệu nghiên cứu về sự tương quan giữa các nhóm khách có thể được trực quan hóa rõ nét qua biểu đồ cột ghép thể hiện đà tăng trưởng khách nội địa (từ 3,87 triệu lượt năm 2013 lên gần 6,2 triệu lượt năm 2017) đặt cạnh tốc độ tăng trưởng của khách quốc tế (từ 521 nghìn lượt lên 859 nghìn lượt). Đồng thời, bảng phân tích cơ cấu chi tiêu sẽ chỉ ra khoảng trống lớn về doanh thu dịch vụ bổ trợ ngoài vé tham quan.

So sánh với các nghiên cứu của Trịnh Đăng Thanh về quản lý bằng pháp luật và nghiên cứu của Đỗ Thị Nhài về quản lý doanh nghiệp du lịch tại Hà Nội, luận văn làm nổi bật đặc thù quản lý của một địa phương sở hữu Di sản Văn hóa và Thiên nhiên Thế giới kép Tràng An. Kết quả nghiên cứu khẳng định công tác quản lý công không thể chỉ dừng lại ở việc cấp phép và giám sát hành chính đơn thuần, mà phải chủ động kiến tạo môi trường kinh doanh, thúc đẩy liên kết vùng trong tứ giác tăng trưởng Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh - Ninh Bình.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và đồng bộ hóa quy hoạch phát triển du lịch. UBND tỉnh Ninh Bình cần chủ trì rà soát, điều chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Ninh Bình đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 theo Kế hoạch số 83/KH-UBND; bảo đảm 100% các đề án quy hoạch phân khu tại 7 không gian du lịch trọng điểm được phê duyệt và công khai minh bạch trước năm 2022.

Thứ hai, đa dạng hóa sản phẩm du lịch và kéo dài thời gian lưu trú của du khách. Sở Du lịch phối hợp với Hiệp hội Du lịch tỉnh thúc đẩy đầu tư các tổ hợp vui chơi giải trí cao cấp, kinh tế ban đêm và du lịch hội nghị MICE; đặt mục tiêu đến năm 2025 nâng thời gian lưu trú bình quân từ mức 1,2 - 1,5 ngày lên trên 2,2 ngày/khách, đồng thời tăng mức chi tiêu bình quân của du khách lên ít nhất 25%.

Thứ ba, nâng cao năng lực chuyên môn và phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ công chức quản lý du lịch. Sở Nội vụ cùng Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch triển khai chương trình đào tạo chuẩn hóa nghiệp vụ quản lý nhà nước, ngoại ngữ và công nghệ thông tin cho 100% cán bộ phụ trách văn hóa - du lịch cấp huyện và xã trong giai đoạn 2021 - 2023; ứng dụng phần mềm cơ sở dữ liệu số để quản lý lưu trú và điều tiết luồng khách.

Thứ tư, tăng cường hiệu lực thanh tra, kiểm tra và bảo đảm an ninh, trật tự, vệ sinh môi trường. Thanh tra Sở Du lịch phối hợp với Công an tỉnh và Chi cục Quản lý thị trường tổ chức kiểm tra định kỳ và đột xuất 100% các cơ sở kinh doanh lữ hành, vận chuyển, lưu trú; xử lý nghiêm minh các hành vi chèo kéo, ép giá, xả rác bừa bãi tại các danh thắng, bảo đảm an toàn tuyệt đối cho hơn 7 triệu lượt khách mỗi năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách: Lãnh đạo UBND tỉnh Ninh Bình, Sở Du lịch, Phòng Văn hóa - Thông tin các huyện, thành phố có thể sử dụng các kết quả nghiên cứu làm căn cứ xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, hoàn thiện quy chế phối hợp liên ngành và ban hành các chính sách thu hút đầu tư du lịch đặc thù.

Nhóm giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học: Các nhà nghiên cứu thuộc chuyên ngành Luật Hiến pháp, Luật Hành chính, Quản lý công và Du lịch học có thể khai thác khung lý thuyết, phương pháp luận cùng hệ thống số liệu thực chứng giai đoạn 2013 - 2017 để phục vụ giảng dạy, viết bài báo khoa học và phát triển các đề tài nghiên cứu liên quan.

Nhóm doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch, lữ hành và khách sạn: Các nhà đầu tư hạ tầng nghỉ dưỡng, công ty lữ hành có thể nắm bắt định hướng phân vùng 7 không gian du lịch của tỉnh để đón đầu xu hướng đầu tư phân khúc lưu trú 3 - 5 sao, xây dựng các tour liên kết tuyến điểm chất lượng cao.

Nhóm ban quản lý các khu du lịch, di sản và bảo tồn thiên nhiên: Ban Quản lý Quần thể danh thắng Tràng An, Vườn Quốc gia Cúc Phương, Khu bảo tồn Vân Long có thể tham khảo các giải pháp quản lý sức chứa du khách, bảo vệ môi trường sinh thái và bảo tồn giá trị di sản văn hóa truyền thống gắn với phát triển sinh kế cộng đồng.

Câu hỏi thường gặp

Thực trạng tăng trưởng doanh thu du lịch tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2013 - 2017 diễn ra như thế nào? Doanh thu du lịch Ninh Bình đạt mức tăng trưởng vượt bậc, từ 30,6 tỷ đồng năm 2001 tăng lên 2.591 tỷ đồng vào năm 2017, đạt 143% so với kế hoạch và tăng 43% so với năm 2016. Sự tăng trưởng này phản ánh hiệu quả từ việc phát huy giá trị Di sản Thế giới Tràng An và các chính sách kích cầu của tỉnh.

Tại sao thời gian lưu trú của khách du lịch tại Ninh Bình lại ở mức thấp? Thời gian lưu trú bình quân chỉ đạt từ 1,2 đến 1,5 ngày/khách do Ninh Bình còn thiếu các dịch vụ kinh tế đêm, trung tâm mua sắm và khu vui chơi giải trí cao cấp. Số lượng cơ sở lưu trú đạt chuẩn 3 - 5 sao còn rất hạn chế, dẫn đến việc du khách chủ yếu tham quan thắng cảnh trong ngày rồi di chuyển sang các địa phương lân cận.

Quy hoạch không gian du lịch tỉnh Ninh Bình được phân chia như thế nào? Theo Nghị quyết số 03-NQ/TU, tỉnh xác định 7 không gian du lịch chính gồm: Quần thể Tràng An - Tam Cốc - Cố đô Hoa Lư; Trung tâm TP. Ninh Bình; Cúc Phương - Kỳ Phú - Đồng Chương; Vân Long - Địch Lộng - Kênh Gà; Tam Điệp - Biện Sơn; Hồ Yên Đồng - Yên Thắng - Mã Tiên; và Phát Diệm - Kim Sơn.

Phương pháp quản lý nhà nước về du lịch bằng pháp luật được thể hiện qua các khía cạnh nào? Nhà nước sử dụng pháp luật để ban hành quy chuẩn kinh doanh, cấp phép lữ hành, quản lý lưu trú, kiểm soát giá cả dịch vụ và bảo tồn di sản. Đồng thời, các chế tài hành chính được áp dụng nghiêm ngặt nhằm xử lý các vi phạm về môi trường, an ninh trật tự và chống cạnh tranh không lành mạnh.

Điểm đóng góp mới của luận văn thạc sĩ này là gì? Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện thực trạng quản lý nhà nước về du lịch tại Ninh Bình giai đoạn 2013 - 2017 dưới lăng kính luật hành chính, đánh giá trực diện cả góc độ vĩ mô và vi mô, từ đó đưa ra hệ thống giải pháp gắn liền với định hướng phát triển du lịch đến năm 2025 và 2030.

Kết luận

  • Hệ thống hóa sâu sắc khung lý thuyết về quản lý nhà nước trong lĩnh vực du lịch dưới góc độ Luật Hiến pháp và Luật Hành chính, khẳng định vai trò kiến tạo và điều tiết của cơ quan công quyền.
  • Phân tích bức tranh thực tiễn toàn diện của du lịch Ninh Bình giai đoạn 2013 - 2017, ghi nhận sự bứt phá về doanh thu đạt 2.591 tỷ đồng và đón hơn 7 triệu lượt khách vào năm 2017.
  • Chỉ rõ các nút thắt cản trở sự phát triển bền vững như thời gian lưu trú ngắn (1,2 - 1,5 ngày), cơ sở lưu trú cao cấp khan hiếm và sự thiếu đồng bộ trong phối hợp quản lý liên ngành.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược bao gồm hoàn thiện thể chế, phân vùng 7 không gian du lịch, nâng cao năng lực cán bộ và tăng cường thanh tra kiểm soát thị trường đến năm 2025, định hướng 2030.
  • Cung cấp nguồn tài liệu tham khảo khoa học có giá trị ứng dụng cao cho các nhà quản lý, nghiên cứu sinh và cộng đồng doanh nghiệp du lịch.

Các bước tiếp theo cần tập trung cụ thể hóa Kế hoạch số 83/KH-UBND, đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý dữ liệu lữ hành và nâng cấp hạ tầng lưu trú chất lượng cao. Độc giả quan tâm đến công tác quản lý công và phát triển du lịch bền vững hãy nghiên cứu toàn văn luận văn để áp dụng hiệu quả vào thực tiễn địa phương.